Thực trạng cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử, kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Tòa án Việt Nam
Tống đạt không chỉ là chuyển giao văn bản mà còn bảo đảm quyền được biết, chuẩn bị chứng cứ và tiếp cận công lý; sai sót có thể kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cần xác định rõ thời điểm hoàn thành tống đạt, phân loại đối tượng áp dụng và xây dựng cơ chế bảo mật, biên nhận điện tử làm chứng cứ (Hoa Kỳ, Đức, Singapore...). Bài viết đề xuất chuẩn hóa quy trình tống đạt điện tử, tích hợp với định danh quốc gia (VNeID), xây dựng “hộp thư tư pháp” và cơ chế xử lý sự cố kỹ thuật.
Đặt vấn đề
Trong xu thế toàn cầu hóa và sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành nhiệm vụ chiến lược đối với hệ thống tư pháp quốc gia. Đối với ngành Tòa án, việc xây dựng “Tòa án điện tử”, “Tòa án số” hướng tới một nền tư pháp minh bạch, tinh gọn, tiếp cận công lý dễ dàng là mục tiêu hàng đầu được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như tại Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá”. Trong thủ tục tố tụng, hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (gọi chung là tống đạt) đóng vai trò là cầu nối thông tin pháp lý bắt buộc giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các đương sự. Sự chậm trễ hoặc thiếu minh bạch trong khâu tống đạt là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vụ án bị kéo dài, quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Sự xuất hiện của phương thức tống đạt văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử được kỳ vọng là một trong những giải pháp đột phá. Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ số vào quy trình tố tụng mang luôn đi kèm các thách thức phức tạp. Ngày 15/01/2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP (có hiệu lực từ ngày 01/3/2026) hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân, kết hợp với quy định của Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 60/2024/QH15; Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 đã thay thế các quy định cũ và tạo ra hành lang pháp lý cho việc việc tống đạt bằng phương thức điện tử. Bài viết tập trung phân tích khung pháp lý mới này, chỉ ra những thách thức, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các giải pháp thực hiện.
1. Một số vấn đề chung về cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử
1.1. Khái niệm chung về cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng
Cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng là việc các cơ quan tố tụng chuyển giao các văn bản, quyết định tố tụng và chuyển tải các thông tin đến đương sự và những người tham gia tố tụng để họ sử dụng, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Với mục đích chung là bảo đảm cho các đương sự và người tham gia tố tụng nắm bắt kịp thời thông tin vụ án.
Khi thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong các vụ án hình sự, dân sự và hành chính cho người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến vụ án đòi hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, tính kịp thời, giúp đương sự có đủ thời gian chuẩn bị các điều kiện tham gia tố tụng. Ví dụ tống đạt trực tiếp quyết định đưa vụ án ra xét xử không thể sát ngay thời điểm mở phiên tòa, bởi như vậy đương sự sẽ không có thời gian để chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ cũng như nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại phiên tòa, dẫn đến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ không đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án.
Thứ hai, tính chính xác và trực tiếp, phải đúng đối tượng được cấp hoặc đối tượng nhận văn bản tố tụng, đảm bảo việc tống đạt, thông báo đúng địa chỉ của người nhận và có căn cứ pháp lý xác định người được cấp, tống đạt, thông báo đã nhận được văn bản tố tụng đúng quy định.
Thứ ba, tính minh bạch, đầy đủ và cụ thể về nội dung pháp lý. Các yêu cầu của Tòa án cần được thể hiện rõ ràng nhằm giúp người nhận xác định đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, từ đó chủ động thực hiện các bước tiếp theo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào tính chất từng vụ việc cụ thể và đối tượng tiếp nhận, pháp luật tố tụng hiện hành (Điều 137 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) và Điều 102 Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC)) quy định các phương thức cụ thể sau:
- Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp: Bao gồm việc chuyển giao tận tay cho người nhận qua cán bộ Tòa án, dịch vụ bưu chính hoặc ủy quyền cho người thứ ba thực hiện (ví dụ: Thừa phát lại).
- Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử: Thực hiện theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng, bảo đảm phù hợp với pháp luật về giao dịch điện tử, giúp tối ưu hóa thời gian và chi phí (BLTTHS năm 2015 không quy định phương thức này khi giải quyết các vụ án hình sự).
- Niêm yết công khai: Áp dụng khi không thể cấp, tống đạt trực tiếp hoặc không xác định được nơi cư trú của đương sự cần được cấp, tống đạt.
- Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: Sử dụng trong các trường hợp đặc biệt theo quy định pháp luật để đảm bảo sự truyền tải thông tin đến đương sự như qua đài, báo, tivi...
- Phương thức đặc thù về thủ tục tố tụng có yếu tố nước ngoài được quy định tại Chương XXXVIII BLTTDS và Điều 303 Luật TTHC.
1.2. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử
1.2.1. Khái niệm
Trong các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng nêu trên thì việc sử dụng phương tiện điện tử đang được khuyến khích ứng dụng vì những hiệu quả vượt trội. Đây không chỉ là bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa chủ trương chuyển đổi số trong các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, của của ngành Tòa án nói riêng, giúp tối ưu hóa thời gian và giảm thiểu chi phí hành chính, mà thủ tục này còn hứa hẹn sẽ đảm bảo quyền tiếp cận thông tin nhanh chóng, kịp thời của đương sự, vừa thể hiện sự thích ứng của pháp luật trước sự phát triển của công nghệ, vừa góp phần đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án mà vẫn bảo đảm tính minh bạch của thủ tục tố tụng.
Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử là là việc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng sử dụng các phương tiện điện tử, mạng Internet, mạng viễn thông để chuyển giao các văn bản, quyết định tố tụng (như Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Bản án, Quyết định và các văn bản tố tụng khác...) đến địa chỉ điện tử đã được xác thực của người nhận theo một quy trình chặt chẽ do pháp luật quy định. Được quy định tại Điều 176 BLTTDS và Điều 105 Luật TTHC, việc cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Thực tiễn hoạt động này đã được triển khai tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2023 và đang nhân rộng đến các Tòa án nhân dân trong toàn hệ thống Tòa án như Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng[1].
Như vậy, trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử rất được coi trọng. Thực hiện công việc này trên môi trường số sẽ giúp giảm tải về công việc và thời gian cho Tòa án, các cơ quan có liên quan và các bên đương sự.
1.2.2. Một số lưu ý điểm mới của thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản bằng phương tiện điện tử:
- Tính phi vật chất cụ thể và tốc độ tức thời: Thông tin không tồn tại dưới dạng giấy mà dưới dạng thông điệp dữ liệu. Thời gian truyền tải được tính bằng giây thay vì bằng ngày hay tuần, không bị giới hạn bởi địa giới hành chính hay biên giới quốc gia.
- Sự phụ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật: Tính hợp pháp và thành công của quy trình phụ thuộc hoàn toàn vào sự ổn định của hệ thống mạng, phần mềm hỗ trợ và thiết bị đầu cuối của người nhận.
- Cơ chế lưu vết tự động: Mọi thao tác từ gửi, nhận, lỗi đường truyền đều được hệ thống máy chủ tự động ghi lại dưới dạng nhật ký hệ thống có thể trích xuất để làm căn cứ khách quan để xác thực cho việc tống đạt hợp lệ hay không.
1.2.3. Ý nghĩa và tính cấp thiết của việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử trong bối cảnh cải cách tư pháp.
- Tối ưu hóa nguồn lực công và tiết kiệm ngân sách: Mỗi năm, hệ thống Tòa án phải thụ lý và giải quyết hàng trăm nghìn vụ việc. Chi phí in ấn, chuyển phát nhanh qua bưu điện hoặc chi phí đi lại của Thư ký Tòa án để tống đạt trực tiếp tiêu tốn một khoản ngân sách lớn. Tống đạt điện tử được kỳ vọng cắt giảm phần lớn các chi phí này.
- Bảo đảm quyền tiếp cận công lý một cách kịp thời: Đối với các đương sự ở xa, ở nước ngoài, việc nhận thông báo qua các phương thức điện tử giúp họ nắm bắt kịp thời diễn biến vụ án, thực hiện các quyền tố tụng, cung cấp chứng cứ đúng thời hạn, tránh tình trạng nhận được các văn bản tố tụng chậm, muộn do hạn chế của dịch vụ bưu chính.
- Nâng cao chỉ số minh bạch và hiệu năng của Tòa án: Loại bỏ hoàn toàn các yếu tố tiêu cực mang tính chủ quan như: việc tống đạt chưa đảm bảo quy định, bưu tá giao nhầm, hoặc đương sự có hành vi kéo dài việc nhận nhằm hoãn phiên tòa, phiên họp dẫn đến kéo dài vụ án.
2. Quy định pháp luật hiện hành về giao dịch điện tử, chuyển đổi số và hoạt động tố tụng trên môi trường số
2.1. Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15
Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 tạo lập một hành lang pháp lý toàn diện, khẳng định mạnh mẽ nguyên tắc Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu (Điều 10) và xác định cơ chế giao dịch điện tử cơ cơ quan nhà nước trong hoạt động công vụ:
- Mở rộng phạm vi áp dụng (Điều 2): Quy định luật này áp dụng đối với giao dịch điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, không có điều khoản loại trừ, tạo điều kiện số hóa toàn diện.
- Xác định rõ trách nhiệm của Cơ quan nhà nước phải bảo đảm kết quả giải quyết thủ tục hành chính hoặc kết quả hoạt động công vụ khác không thuộc phạm vi bí mật nhà nước đều có văn bản điện tử có giá trị pháp lý như văn bản giấy (Điều 44).
- Giá trị pháp lý như văn bản gốc (Điều 13): Thông điệp dữ liệu được thừa nhận có giá trị như bản gốc nếu đáp ứng hai điều kiện: Bảo đảm tính toàn vẹn của thông tin kể từ khi khởi tạo và thông tin có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh.
- Phân loại và giá trị pháp lý của chữ ký điện tử (Điều 22, Điều 23): Luật phân định rõ chữ ký điện tử thành 03 loại: Chữ ký điện tử chuyên dùng, Chữ ký số công cộng và Chữ ký số chuyên dùng công vụ. Điều 23 khẳng định chữ ký số công cộng và chữ ký số chuyên dùng công vụ có giá trị pháp lý tương đương chữ ký tay (đối với cá nhân) và tương đương con dấu (đối với cơ quan, tổ chức). Ngoài ra, Luật còn đảm bảo pháp lý về tính chống chối bỏ đối với chữ ký số và các dịch vụ chứng thực chữ ký số (Điều 3).
- Chuẩn hóa định danh và liên thông xác thực (Điều 26): Bổ sung cơ chế liên thông giữa hệ thống định danh điện tử quốc gia với các hệ thống xác thực chuyên ngành. Một thông điệp dữ liệu được ký bởi chủ thể đã được xác thực qua tài khoản định danh sẽ có giá trị chứng cứ tuyệt đối, giảm thiểu thủ tục công chứng kỹ thuật số.
- Hành lang pháp lý cho dịch vụ tin cậy (Chương III): Làm rõ điều kiện cấp phép và trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ tin cậy (cấp dấu thời gian, chứng thực thông điệp dữ liệu).
2.2. Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 - Nền tảng thúc đẩy đồng bộ chiến lược quốc gia
Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 đã xác lập mô hình và động lực phát triển quốc gia trên không gian số với ba trụ cột chiến lược:
- Chính phủ số (Chương VI): Quy định bắt buộc chuyển đổi phương thức chỉ đạo, điều hành của cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp sang môi trường số dựa trên dữ liệu. Đặc biệt, khoản 2 Điều 6 yêu cầu tăng cường kết nối, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu, khai báo một lần là mặc định để nâng cao hiệu quả quản lý, hạn chế trùng lặp, giảm thủ tục và nâng cao năng lực ra quyết định.
- Kinh tế số (Mục 1 Chương VII): Quy định cơ chế ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế có thời hạn đối với doanh nghiệp công nghệ số và doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất thông minh. Thiết lập chỉ tiêu pháp lý bắt buộc về tỷ trọng đóng góp của kinh tế số trong GDP quốc gia.
- Xã hội số (Mục 2 Chương VII): Bảo đảm quyền tiếp cận Internet băng thông rộng như một tiện ích công cộng thiết yếu. Quy định trách nhiệm phổ cập kỹ năng số và bảo vệ an toàn dữ liệu cho các nhóm đối tượng yếu thế trên không gian mạng.
2.3. Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 15/01/2026
Sự kết hợp giữa Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi năm 2024), Luật Chuyển đổi số (2025) và Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tạo nên cơ sở áp dụng pháp luật đồng bộ, chặt chẽ trong hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản bằng phương tiện điện tử. Tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao định nghĩa. “Thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp tại Tòa án trên môi trường số là việc Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành, thực hiện toàn bộ hoặc một số thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp bằng phương tiện điện tử thông qua Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc hệ thống khác theo quy định của pháp luật”.
Tại Điều 25 Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP đã quy định như sau: Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã đăng ký giao dịch điện tử với Tòa án thì văn bản do Tòa án ban hành theo quy định của pháp luật được Tòa án gửi từ Hệ thống dịch vụ công Tòa án đến tài khoản giao dịch điện tử đã được đăng ký của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thời hạn pháp luật quy định. Văn bản do Tòa án ban hành phải bảo đảm các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết này, đó là phản ánh đầy đủ các nội dung kết quả giải quyết đã được quy định; có chữ ký số của Tòa án; bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu, tính xác thực, tính chống chối bỏ và phù hợp với quy định của Luật Giao dịch điện tử.
Ngày cấp, tống đạt, thông báo văn bản bằng phương tiện điện tử được xác định theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 10 Nghị quyết này, đó là: Thời điểm cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận thông điệp dữ liệu do Tòa án gửi đến là thời điểm thông điệp dữ liệu nhập vào hệ thống thông tin do cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ định và có thể truy cập được. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận thông điệp dữ liệu do Tòa án gửi đến là thời điểm thông điệp dữ liệu đó nhập vào bất kỳ hệ thống thông tin nào hoặc tài khoản định danh điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó và có thể truy cập được.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân được sử dụng thông điệp dữ liệu mà Tòa án gửi để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện các nội dung, yêu cầu của Tòa án trong thời hạn quy định; thường xuyên kiểm tra tài khoản giao dịch điện tử.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân tự chịu trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện việc đăng nhập, tiếp nhận, thực hiện các nội dung, yêu cầu của Tòa án.
.jpg)
Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP đã góp phần tháo gỡ các vướng mắc kỹ thuật tại Tòa án khi áp dụng Luật Giao dịch điện tử khi thừa nhận giá trị chứng cứ trực tiếp (Điều 17): Hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng được gửi và nhận bằng phương thức điện tử qua Hệ thống dịch vụ công Tòa án bảo đảm các điều kiện theo quy định của Nghị quyết này và pháp luật có liên quan có giá trị pháp lý như văn bản giấy. Việc giao, nhận trên môi trường số phải bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn, tính chống chối bỏ, bảo đảm bảo mật và an ninh mạng.
Các điều khoản cụ thể từ Luật Giao dịch điện tử sửa đổi năm 2024, Luật Chuyển đổi số năm 2025, kết hợp cùng hướng dẫn tố tụng trực tiếp tại Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP đã xây dựng nên khung pháp lý vững chắc, rõ ràng, làm tiền đề để triển khai tốt hơn cho việc thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp tại Tòa án trên môi trường số, trong đó có thủ tục cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử.
3. Một số thách thức cũng như tồn tại, hạn chế
3.1. Xác thực chủ thể hành vi tố tụng điện tử: Rủi ro phân tách giữa “Danh tính số” và “Ý chí tố tụng”
Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP xây dựng cơ chế xác thực dựa trên tài khoản điện tử định danh (VNeID, OTP, sinh trắc học, chữ ký số) kết nối dữ liệu quốc gia. Cơ chế này có thể gặp phải một số rủi ro pháp lý, cụ thể:
Sự bất định về ý chí: Công nghệ chỉ xác thực được “tài khoản” chứ không thể kiểm soát “chủ thể thực tế” sau màn hình (người đại diện, trợ lý kỹ thuật, hoặc bên thứ ba chiếm hữu thiết bị trái phép).
Xung đột luật quy định: Luật Giao dịch điện tử 2023 cho phép rút lại thông tin nhập sai hoặc xử lý lỗi kỹ thuật, tạo ra khoảng trống pháp lý khi áp dụng vào tố tụng dân sự - nơi hành vi nộp đơn/tài liệu cấu thành hậu quả pháp lý ngay lập tức.
Do đó, cần đặt ra vấn đề phải phân biệt rõ giữa “xác thực danh tính điện tử” và “xác nhận ý chí tố tụng”, tránh biến điều kiện công nghệ thành rào cản tiếp cận Tòa án của người yếu thế.
3.2. Quyền được thông báo: Khoảng cách giữa “Hợp lệ kỹ thuật” và “Biết thực chất”
Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP buộc đương sự chịu trách nhiệm kiểm tra tài khoản liên tục. Văn bản gửi thành công vào hệ thống của người nhận được xem là đã tống đạt hợp lệ (đồng bộ với Luật Giao dịch điện tử 2023). Việc quy định như vậy vô hình chung hình thức hóa quyền tố tụng khi việc “coi như đã nhận” có thể ảnh hưởng đến các thời hạn kháng cáo, giao nộp chứng cứ, có mặt tại phiên tòa dẫn đến tước bỏ các quyền cốt lõi dù đương sự có thể chưa thực sự đọc văn bản.
3.3. Quyền tranh tụng: Nguy cơ bất bình đẳng từ “Chênh lệch năng lực số”
Điều 24 BLTTDS 2015 bảo đảm quyền tranh tụng công khai, bình đẳng. Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP số hóa quy trình nộp, nhận và phản hồi thông điệp dữ liệu để hiện thực hóa quyền này trên môi trường mạng. Tuy nhiên, sự chênh lệch về hạ tầng công nghệ và kỹ năng thao tác giữa các đương sự tạo ra một dạng bất bình đẳng tố tụng mới. Bên yếu thế về công nghệ sẽ bị suy giảm khả năng chứng minh và phản bác. Pháp luật hiện hành tập trung vào việc lưu vết giao dịch giữa Tòa án với từng bên, nhưng thiếu công cụ bảo đảm cho các bên tiếp cận đồng thời, toàn diện và có khả năng kiểm chứng kỹ thuật đối với hồ sơ điện tử của nhau. Sự bình đẳng về hình thức (cùng có tài khoản) không đồng nghĩa với bình đẳng tranh tụng về thực chất.
4. Kinh nghiệm của các nước phát triển về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử và bài học đối với Việt Nam
4.1. Mô hình tống đạt điện tử tại các quốc gia phát triển
Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới[2] chỉ ra rằng các quốc gia áp dụng triệt để dịch vụ trực tuyến (như Hàn Quốc, Estonia, Singapore) đã rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương mại trung bình từ 15% đến 22%. Chi phí tống đạt trực tiếp (in ấn, bưu điện, nhân lực) giảm tới 80% đối với các vụ án dân sự.
Trong bối cảnh tống đạt xuyên quốc gia càng ngày càng gia tăng, Hướng dẫn của Hội nghị La Hay về Tư pháp Quốc tế (HCCH)[3] đã dành một chương để hướng dẫn và khuyến nghị các quốc gia thành viên công nhận các phương thức tống đạt điện tử (như fax, email, cổng thông tin), miễn là phương thức đó đảm bảo được tính xác thực nguồn gốc và bằng chứng giao nhận (proof of delivery).
4.1.1. Thừa phát lại điện tử và Hệ thống e-File (Hoa Kỳ)
Tại Mỹ, hệ thống liên bang sử dụng CM/ECF
Quy tắc tố tụng dân sự liên bang - Quy tắc 5(b)(2)(E): Quy định việc tống đạt văn bản tố tụng có thể được thực hiện bằng phương thức điện tử nếu người nhận đồng ý bằng văn bản, hoặc nếu việc đó được cho phép bởi quy định nội bộ của Tòa án địa phương. Thời điểm hoàn thành: Theo Quy tắc 5(b)(2)(E), tống đạt điện tử hoàn thành ngay khi gửi đi. Tuy nhiên, nếu hệ thống hiển thị thông báo việc gửi bị lỗi (undeliverable), việc tống đạt đó không hợp lệ.
Tuy nhiên cơ chế này chỉ vận hành bắt buộc đương nhiên đối với hoạt động của Luật sư: Khi một Luật sư nộp tài liệu lên hệ thống, hệ thống sẽ tự động gửi một thông báo tống đạt điện tử đến email của tất cả các bên liên quan trong vụ án. Việc gửi NEF này được coi là đã hoàn thành nghĩa vụ tống đạt theo Quy tắc tố tụng dân sự liên bang (FRCP - Quy tắc 5).
Đối với người dân tự bào chữa (pro se parties), họ phải đăng ký và đồng ý bằng văn bản thì tòa án mới áp dụng. Theo Giáo sư Sourdin, T.[4] (2018) đã phân tích sâu về rủi ro của tống đạt điện tử đối với nhóm đối tượng yếu thế (người nghèo, người già, người không có kết nối internet) từ đó chứng minh tại sao mô hình của Mỹ (giữ nguyên tắc tự nguyện đối với cá nhân tự bào chữa - pro se) là cần thiết để bảo đảm không ai bị tước bỏ quyền tiếp cận công lý chỉ vì thiếu thói quen công nghệ.
4.1.2. Hệ thống hộp thư điện tử pháp lý quốc gia (Cộng hòa Liên bang Đức)
Đức tiếp cận theo hướng bảo mật tuyệt đối thông qua hệ thống EGVP và Hộp thư điện tử đặc biệt dành cho luật sư (beA). Tại Cộng hòa Liên bang Đức (Mô hình Hộp thư bảo mật beA). Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức – Điều 173: Quy định về việc tống đạt văn bản điện tử. Luật này bắt buộc các luật sư, công chứng viên và các cơ quan công quyền phải thiết lập cấu hình để nhận tống đạt qua các kênh điện tử an toàn.
Cũng giống như ở Mỹ, tố tụng điện tử là bắt buộc với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, mọi luật sư bắt buộc phải có tài khoản beA. Văn bản tố tụng của Tòa án gửi vào hộp thư này được coi là đã tống đạt thành công.
Hệ thống sử dụng chữ ký số và cơ chế phản hồi tự động (Strukturierte Datensätze) để xác định chính xác thời điểm văn bản đến hộp thư của đương sự, thay thế hoàn toàn cho biên bản nhận thông thường.
Biên bản nhận điện tử (eEB): Theo Điều 174 Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức, khi Tòa án gửi văn bản vào hộp thư beA của luật sư, luật sư phải gửi lại một biên bản xác nhận nhận điện tử được ký bằng chữ ký số an toàn (qualified electronic signature).
4.1.3. Nền tảng dịch vụ công trực tuyến trung ương (Hàn Quốc & Singapore)
Hàn Quốc sử dụng hệ thống Dịch vụ Tố tụng Điện tử của Tòa án (ECFS), trong khi Singapore sử dụng hệ thống eLitigation. Cả hai nước đều tích hợp sâu với hệ thống định danh quốc gia (như Singpass của Singapore). Đương sự nhận được thông báo qua SMS hoặc Email rằng “Có văn bản tố tụng mới”. Họ phải đăng nhập vào cổng thông tin của Tòa án để tải văn bản.
Hệ thống quy định rõ: Nếu đương sự không đăng nhập để xem văn bản trong vòng 7 đến 14 ngày kể từ ngày thông báo được gửi đi, văn bản đó mặc nhiên được coi là đã tống đạt hợp lệ (Tống đạt định ước).
Theo nghiên cứu của Mangan, D. (2021)[5], sau khi đối chiếu mô hình tống đạt qua email thông thường với mô hình qua cổng thông tin bảo mật (Portal), việc sử dụng cơ chế “Tống đạt định ước” (được coi là đã tống đạt sau ngày) giống như mô hình của Hàn Quốc là giải pháp tối ưu nhất để cân bằng giữa quyền được biết của đương sự và nghĩa vụ chống trì hoãn tố tụng.
Tại Singapore (Mô hình eLitigation)
Quy tắc Tòa án Singapore năm 2021 - Chương 7, Điều 2: Quy định về các phương thức tống đạt thông thường. Phương thức tống đạt điện tử thông qua hệ thống eLitigation do Tòa án chỉ định được coi là phương thức mặc định và hợp pháp giữa các văn phòng luật sư. Theo Hướng dẫn Thực hành của Tòa án Tối cao Singapore, tài liệu được tống đạt qua eLitigation trước 5:00 chiều của một ngày làm việc được coi là tống đạt trong ngày đó; nếu sau 5:00 chiều, sẽ tính là ngày làm việc tiếp theo.
4.2. Các vấn đề pháp lý quan trọng khi triển khai tống đạt điện tử
4.2.1. Quy ước thời điểm hoàn thành tống đạt
Đây là điểm mấu chốt để tính thời hạn kháng cáo hoặc thực hiện quyền tố tụng. Kinh nghiệm quốc tế chia làm hai trường phái:
Thời điểm gửi đi (Mô hình Mỹ): Tống đạt hoàn thành ngay khi hệ thống phát đi thông báo (với điều kiện hệ thống không báo lỗi gửi thất bại). Rủi ro thuộc về người nhận nếu họ không kiểm tra hệ thống.
Thời điểm truy cập hoặc Định ước thời gian (Mô hình Á - Âu): Tống đạt hoàn thành khi người nhận click mở văn bản, HOẶC sau một số ngày nhất định (ví dụ: 7 ngày tại Hàn Quốc, 3 ngày tại Tây Ban Nha) kể từ khi hệ thống phát thông báo, dù người nhận có mở ra hay không. Điều này ngăn chặn việc đương sự cố tình “lờ đi” không mở tài liệu để kéo dài thời gian vụ án.
4.2.2. Sự đồng ý của đương sự
Đối với chủ thể chuyên nghiệp (Luật sư, Cơ quan nhà nước, Doanh nghiệp): Hầu hết các nước (Đức, Mỹ, Singapore, Trung Quốc) đều coi đây là nghĩa vụ bắt buộc. Họ phải có tài khoản điện tử và bắt buộc phải nhận tống đạt qua phương thức này.
Đối với cá nhân (Công dân): Để bảo đảm quyền tiếp cận công lý (giảm thiểu khoảng cách công nghệ), các nước đa phần giữ nguyên tắc tự nguyện. Công dân phải đăng ký, hoặc xác nhận đồng ý (bằng văn bản hoặc tích chọn trên hệ thống) thì Tòa án mới được tống đạt điện tử.
4.2.3. Bảo mật dữ liệu và Định danh điện tử
Văn bản tố tụng thường chứa đựng bí mật đời tư và bí mật kinh doanh. Do đó, quốc tế không khuyến khích việc tống đạt trực tiếp file đính kèm qua email thông thường (như Gmail, Yahoo), thay vào đó Tòa án chỉ gửi đường link bảo mật hoặc thông báo nhắc nhở. Đương sự bắt buộc phải đi qua bước xác thực 2 lớp (2FA) hoặc định danh điện tử cấp độ cao (như eID, căn cước công dân gắn chip hoặc tài khoản định danh quốc gia) để mở văn bản.
4.3. Bài học đối với Việt Nam khi đẩy mạnh cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử tại việt nam
Từ việc nhận diện những bất cập, rào cản kỹ thuật tại Việt Nam và kết hợp nghiên cứu các mô hình số hóa tư pháp tiên tiến trên thế giới, chúng tôi thấy cần đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ gồm 2 nhóm giải pháp trọng tâm sau:
4.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và chứng cứ số tố tụng
Thứ nhất, Chuẩn hóa quy trình lập “Biên nhận điện tử” làm chứng cứ pháp lý tuyệt đối. Để thực thi cơ chế ghi nhận thời điểm gửi, nhận thông điệp dữ liệu theo tinh thần mới, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản quy chuẩn về quy trình trích xuất biên nhận điện tử làm căn cứ xác định việc tống đạt lưu hồ sơ vụ việc. Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP quy định rõ về cơ chế phản hồi tự động xác nhận việc gửi thành công và thông báo mốc thời điểm tiếp nhận. Đồng thời kết hợp với nguyên tắc xác lập giá trị chứng cứ số theo Điều 24 Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP và quy định về giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu theo Luật Giao dịch điện tử. Do đó, Biên nhận điện tử phản hồi từ Hệ thống dịch vụ công Tòa án phải lưu vết toàn bộ nhật ký kết nối (IP log), thời gian thực nhận và bắt buộc phải được đóng dấu thời gian (Timestamp) chuẩn hóa quốc gia. Bản in trích xuất từ dữ liệu này sẽ là chứng cứ pháp lý để lưu hồ sơ vụ án, làm căn cứ giải quyết khi có khiếu nại mang tính "né tránh kỹ thuật" của đương sự.
Thứ hai, Phân loại đối tượng và cụ thể hóa trách nhiệm kiểm tra tài khoản giao dịch. Cần phân hóa rõ ràng lộ trình áp dụng bắt buộc hoặc tự nguyện đối với từng nhóm chủ thể nhằm bảo đảm tính khả thi của thời hạn tố tụng. Điều 26 Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân: phải thường xuyên kiểm tra tài khoản giao dịch điện tử và tự chịu trách nhiệm trong trường hợp không đăng nhập, không tiếp nhận yêu cầu từ Tòa án. Từ đó, cần thiết phải áp dụng cơ chế “Suy đoán đã tống đạt hợp lệ” sau thời hạn trần (03 ngày làm việc) đối với nhóm chủ thể chuyên nghiệp bao gồm: Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, luật sư, công chứng viên. Nhóm này bắt buộc phải đăng ký tài khoản giao dịch điện tử và duy trì nhân sự kiểm tra. Ngược lại, đối với cá nhân khác (nhất là người sinh sống vùng sâu, vùng xa, người yếu thế), quyền lựa chọn phương thức truyền thống phải được bảo lưu nếu họ chưa được xác thực định danh mức độ cao.
4.3.2. Nhóm giải pháp kỹ thuật hạ tầng và tích hợp hệ thống định danh quốc gia
Một là, Đồng bộ và kết nối liên thông Cổng thông tin Tòa án với ứng dụng VneID. Để giải quyết tận gốc rễ rủi ro từ việc tống đạt qua hòm thư điện tử cá nhân (Email) thường bị rơi vào hộp thư rác (Spam) hoặc bảo mật kém, ngành Tòa án cần hiện thực hóa tối đa các hình thức xác nhận tiên tiến. Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP cho phép áp dụng đa dạng các phương thức xác thực và hình thức xác nhận giao dịch điện tử bao gồm: sinh trắc học, mã OTP, thiết bị lưu khóa bí mật, và nền tảng VNeID theo quy chế kỹ thuật. Do đó, Tòa án nhân dân tối cao cần phối hợp Bộ Công an xây dựng tính năng tích hợp phân hệ “Hộp thư tư pháp” trực tiếp trên ứng dụng VNeID mức độ 2. Khi có văn bản tống đạt, hệ thống tự động gửi thông báo thời gian thực về máy điện thoại của đương sự qua tài khoản định danh gắn chíp. Cơ chế này đạt độ an toàn và định danh pháp lý cao nhất, không thể giả mạo và giải quyết triệt để bài toán rò rỉ thông tin cá nhân.
Hai là, Cơ chế loại trừ trách nhiệm khi xảy ra sự cố kỹ thuật khách quan. Một điểm cần đặc biệt lưu ý là phải có quy trình xử lý các rủi ro hệ thống công nghệ nhằm bảo vệ đương sự. Quy định về Xử lý sự cố trong quá trình thực hiện giao dịch điện tử tại Điều 19 Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP. Theo đó, Tòa án có trách nhiệm thông báo ngay về sự cố của hệ thống, hạ tầng kỹ thuật và mốc thời gian khắc phục thành công. Thời gian xảy ra sự cố kỹ thuật được loại trừ, không tính vào thời hạn tố tụng của đương sự. Tòa án nhân dân tối cao cần xây dựng một Trang hiển thị trạng thái hệ thống tự động (Public Status Page) hoạt động độc lập 24/7. Mọi thời điểm hệ thống bảo trì, sập nguồn do sự cố đường truyền quốc gia đều được ghi nhận công khai. Khi đương sự chứng minh được họ không thể tiếp cận tống đạt điện tử trong khoảng thời gian hệ thống báo lỗi, thời gian đó mặc nhiên được khấu trừ khi tính mốc 03 ngày tự động, đảm bảo tối đa quyền lợi tố tụng hợp pháp của công dân.
Kết luận
Cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử là nền tảng cốt lõi của một nền tư pháp hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Việc Hội đồng Thẩm phán ban hành Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP với việc mở rộng 09 nhóm thủ tục trên môi trường số và chuẩn hóa quy trình xác thực (VNeID, OTP) là một bước đi đột phá, đưa tư pháp Việt Nam dần tiệm cận với trình độ quốc tế. Tuy nhiên, chuyển đổi số thành công không chỉ nằm ở văn bản luật mà phụ thuộc lớn vào năng lực vận hành hạ tầng kỹ thuật. Việc hoàn thiện các công cụ giám sát lỗi mạng, ứng dụng các công cụ bảo vệ dữ liệu nhật ký hệ thống và xây dựng mô hình tống đạt hỗn hợp cho người yếu thế sẽ giúp cơ chế này đi vào cuộc sống một cách trọn vẹn, bảo đảm công lý luôn được thực thi kịp thời và minh bạch trong kỷ nguyên số.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
2. Luật tố tụng hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2025.
3. Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15.
4. Luật Dữ liệu số 2024.
5. Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15.
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
7. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
8. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2026), Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.
9. Thành Chung, Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh triển khai tống đạt điện tử từ tháng Tám, https://tapchivietduc.vn/toa-an-thanh-pho-ho-chi-minh-trien-khai-tong-dat-dien-tu-tu-thang-tam-a12376.html.
10. Lương Nghiệp - Bảo Trân, TANDT thành phố Đà Nẵng thí điểm Tòa án điện tử: Đột phá về hình thức, thách thức ở nội dung, truy cập tại: https://tapchitoaan.vn/da-nang-thi-diem-toa-an-dien-tu-dot-pha-ve-hinh-thuc-thach-thuc-o-noi-dung15277.html.
11. World Bank Group (2020), Doing Business: Judicial Efficiency and Electronic Service of Process.
12. Hague Conference on Private International Law (2020), Practical Handbook on the Operation of the Hague Service Convention, November 2020 Update.
[1] Xem: Thành Chung, Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh triển khai tống đạt điện tử từ tháng Tám, https://tapchivietduc.vn/toa-an-thanh-pho-ho-chi-minh-trien-khai-tong-dat-dien-tu-tu-thang-tam-a12376.html.
Xem: Lương Nghiệp - Bảo Trân, TAND Tp Đà Nẵng thí điểm Tòa án điện tử: Đột phá về hình thức, thách thức ở nội dung, https://tapchitoaan.vn/da-nang-thi-diem-toa-an-dien-tu-dot-pha-ve-hinh-thuc-thach-thuc-o-noi-dung15277.html.
[2] Doing Business: Judicial Efficiency and Electronic Service of Process (2020).
[3] Practical Handbook on the Operation of the Hague Service Convention (November 2020 Update).
[4] (2018), "Justice and Technological Innovation", xuất bản trên Tạp chí Journal of Judicial Administration, Tập 27, Số 4.
[5] “The Electronic Service of Process in Comparative Perspective”, đăng trên International Journal of Law and Information Technology, Oxford University Press.
HĐXX một phiên tòa trực tuyến tại TAND TP. Hà Nội - Ảnh: Cổng TTĐT TAND TP. Hà Nội.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Báo chí phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của nhân dân làm điểm xuất phát
-
Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q
-
Ninh Bình: Đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương của Đảng về chuyển đổi số qua mô hình cuộc thi trực tuyến
-
Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội giữ nguyên bản án sơ thẩm trong vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa VIB và khách hàng
-
Quy định chi tiết về chuyển đổi hình phạt tù
Bình luận