Vấn đề áp dụng lẽ công bằng trong thực tiễn giải quyết án dân sự tại Việt Nam - Một số kiến nghị nâng cao việc áp dụng lẽ công bằng
Bài viết làm rõ cơ sở lý luận của lẽ công bằng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, và đánh giá thực trạng vận dụng cơ chế này trong xét xử. Từ đó, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được cũng như một số hạn chế, khó khăn của chủ thể áp dụng pháp luật, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế áp dụng lẽ công bằng trong giải quyết án dân sự, góp phần nâng cao chất lượng xét xử và đảm bảo thực thi công lý tại Việt Nam trong tình hình mới.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh xã hội không ngừng vận động và phát triển, đặc biệt là các quan hệ dân sự, nhiều tình huống pháp lý mới đã phát sinh mà pháp luật thực định chưa kịp thời điều chỉnh đầy đủ. Trong những trường hợp đó, liệu Tòa án có thể giải quyết tranh chấp khi không tồn tại quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp? Và đâu là cơ sở để đảm bảo phán quyết vừa hợp pháp vừa phù hợp với yêu cầu của xã hội? Để đáp ứng yêu cầu này, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 đã ghi nhận lẽ công bằng như một căn cứ bổ trợ trong quá trình giải quyết tranh chấp, đồng thời khẳng định nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc vì lý do chưa có điều luật áp dụng. Quy định này tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xử lý các tình huống pháp lý phát sinh trong thực tiễn xét xử. Tuy nhiên, lẽ công bằng là một thuật ngữ mang tính khái quát cao, trong khi các tiêu chí nhận diện và cách thức vận dụng trong thực tiễn vẫn chưa được xác định rõ ràng. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng như định hướng áp dụng lẽ công bằng trong hoạt động xét xử dân sự ở Việt Nam hiện nay, nhằm góp phần bảo đảm cho các quyền dân sự chính đáng của chủ thể được thực hiện, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự.
1. Khái quát chung về việc áp dụng lẽ công bằng trong giải quyết án dân sự
1.1. Khái niệm lẽ công bằng và áp dụng lẽ công bằng
Pháp luật hình thành từ nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội nhưng cũng có trường hợp không theo kịp các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp bởi quan hệ dân sự phát sinh theo nhu cầu của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và cộng đồng. Do đó, có những tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, cần giải quyết nhưng không có quy định của pháp luật để áp dụng1. Từ đó, nhằm điều chỉnh kịp thời các tranh chấp dân sự phát sinh mà chưa có điều luật để áp dụng, không có tập quán để giải quyết thì cần phải có một cơ chế như một giải pháp để giải quyết, được quy định tại Điều 6 BLDS năm 20152, đó chính là lẽ công bằng.
Nhìn một cách chung nhất, lẽ công bằng là một chuẩn mực được rút ra từ quan hệ cụ thể, có nội dung cấu thành từ các quan hệ thể hiện tính nhân văn, phù hợp với nhận thức của nhiều người về sự công bằng trong mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong một quan hệ pháp luật dân sự có tranh chấp và được giải quyết thấu tình đạt lý phù hợp với đạo lý3. Về phương diện pháp lý, có thể hiểu về khái niệm lẽ công bằng như sau: “Lẽ công bằng là một chuẩn mực xử sự trong quan hệ giữa các bên chủ thể, mục đích đạt được nhằm bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên được thực hiện như một tất yếu, lẽ đương nhiên và không thể khác”4. Trong tiến trình lịch sử đó, các nhà nghiên cứu có những quan điểm nhìn nhận khác nhau về lẽ công bằng nhưng đáng chú ý lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam ghi nhận về bản chất của lẽ công bằng tại BLDS 2015 và được cụ thể hóa trong BLTTDS 2015, cụ thể là tại khoản 3 Điều 45 BLTTDS 20155. Cách quy định “mở” như trên đem lại sự linh hoạt trong quá trình áp dụng, đặt quyền và trách nhiệm xác định thế nào là công bằng khi giải quyết một vụ việc dân sự vào Thẩm phán. Theo đó, việc xác định và đánh giá thế nào là lẽ công bằng một phần dựa trên “cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận”, nhưng trên thực tế nó còn phụ thuộc vào quan điểm và nhận định của Hội đồng xét xử.
Qua một số cách tiếp cận trên, có thể hiểu “lẽ công bằng là chuẩn mực xử sự trong quan hệ xã hội, phù hợp với nhận thức của xã hội nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể tham gia quan hệ dân sự đó, đồng thời việc áp dụng lẽ công bằng trong việc giải quyết án dân sự đảm bảo tranh chấp được giải quyết thấu tình, đạt lý, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo và bình đẳng”.
Bên cạnh đó, áp dụng lẽ công bằng trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự vừa là một yêu cầu cần thiết, vừa là một đòi hỏi khách quan để có thể giải quyết được các tranh chấp dân sự một cách toàn diện và hiệu quả, tránh để tồn đọng các mâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, rộng hơn là đảm bảo Tòa án thực hiện chức năng hiến định của mình: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”6.
Như vậy, áp dụng lẽ công bằng trong giải quyết án dân sự là việc Tòa án có thẩm quyền đưa ra phán quyết trên cơ sở những lý lẽ nhận định về lẽ phải được xã hội thừa nhận, đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo.
1.2. Vận dụng lẽ công bằng trong giải quyết án dân sự trong thực tiễn xét xử của Tòa án nước ngoài
Theo BLDS Philippines năm 1949 thì việc áp dụng nguyên tắc công bằng phải đảm bảo nguyên tắc: “Không Thẩm phán hoặc Tòa án nào được từ chối đưa ra phán quyết vì lý do luật không quy định, quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ”7. và khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, mọi người phải thực hiện công bằng, đảm bảo lợi ích chính đáng của người khác và phải tuân thủ sự trung thực và thiện chí. Như vậy, lẽ công bằng ở Philippines sẽ được áp dụng trong trường hợp luật không quy định, quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ.
Bên cạnh đó, đối với pháp luật nước Anh, công bằng dựa trên các nguyên tắc bình đẳng, công lý và được sử dụng để giải quyết tranh chấp, đồng thời sửa chữa những bất công pháp lý. Theo đó, nền tư pháp của quốc gia này không hợp nhất công bằng và thông luật, trong hoạt động tư pháp ở Anh vẫn tồn tại song song các quy tắc của hệ thống công bằng và các quy tắc từ hệ thống thông luật. Ở Anh có Tòa án công bằng và Tòa án theo thông luật8. Về nguyên tắc, việc áp dụng lẽ công bằng ở Anh không được trái với quy định của thông luật. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ, cụ thể: “Tòa án thực thi quyền tài phán ở Anh hoặc xứ Wales trong bất kỳ nguyên nhân hoặc vấn đề dân sự nào sẽ tiếp tục thực thi luật pháp và sự công bằng trên cơ sở rằng, nơi nào có xung đột hoặc khác biệt giữa các quy tắc về sự công bằng và các quy tắc của thông luật có liên quan đến cùng một vấn đề, thì các quy tắc công bằng sẽ được áp dụng”9. Tuy nhiên, việc vận dụng lẽ công bằng của Tòa án công bằng phải dựa trên những cơ sở, nền tảng nhất định, đó có thể là những quy tắc đã được định hình để giải quyết hoặc Thẩm phán có thể tạo ra quy tắc mới bằng cách dựa vào những giá trị mà trước đây được cho là nguồn “nguyên liệu” để Tòa án công bằng xây dựng các giải pháp của mình10.
Từ việc nghiên cứu pháp luật Philippines và Anh có thể nhận thấy, mặc dù đều thừa nhận vai trò của lẽ công bằng trong giải quyết án dân sự, song mức độ và cách thức vận dụng có sự khác biệt rõ nét. Pháp luật Philippines tiếp cận lẽ công bằng như một nguồn bổ trợ, được áp dụng khi pháp luật không quy định hoặc quy định không rõ ràng. Cách tiếp cận này tương đồng với Việt Nam, tuy nhiên pháp luật Việt Nam quy định cụ thể và chặt chẽ hơn về nguyên tắc áp dụng, qua đó bảo đảm tính an toàn pháp lý nhưng phần nào hạn chế tính linh hoạt. Trong khi đó, pháp luật Anh ghi nhận lẽ công bằng như một hệ thống nguyên tắc có tính độc lập tương đối bên cạnh thông luật, thậm chí được ưu tiên áp dụng khi có xung đột. Cách tiếp cận này cho phép Tòa án không chỉ khắc phục khoảng trống pháp lý mà còn điều chỉnh những bất hợp lý phát sinh từ việc áp dụng pháp luật, đồng thời tạo điều kiện để Thẩm phán phát triển các nguyên tắc công bằng phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, cơ chế này lại mang đậm tính chủ quan của Thẩm phán mặc dù đã có những quy tắc áp dụng, phụ thuộc phần lớn vào trình độ chuyên môn, nhận thức về các vấn đề xã hội, bản lĩnh chính trị của Thẩm phán. Từ góc độ so sánh, có thể thấy pháp luật Việt Nam đang lựa chọn hướng tiếp cận thận trọng, đề cao tính ổn định, trong khi kinh nghiệm của Anh cho thấy giá trị của việc tăng cường tính linh hoạt và vai trò độc lập của lẽ công bằng. Điều này gợi mở yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế áp dụng lẽ công bằng ở Việt Nam theo hướng cân bằng giữa tính chặt chẽ và khả năng bảo đảm công lý thực chất.
2. Thực trạng áp dụng lẽ công bằng trong việc giải quyết án dân sự tại Việt Nam
Theo hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, việc áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự là nhằm giải quyết kịp thời, dứt điểm những tranh chấp dân sự phát sinh trong xã hội trong trường hợp chưa có quy phạm, không có tập quán, không có luật để áp dụng tương tự, không có án lệ để áp dụng. Từ đó, lẽ công bằng chủ yếu đóng vai trò như một cơ chế “khỏa lấp khoảng trống pháp lý” thay vì trở thành một chuẩn mực định hướng cho việc giải thích và áp dụng pháp luật. Hiện nay, chưa có số liệu, thống kê về các bản án, quyết định có áp dụng lẽ công bằng để xét xử nhưng thực tế cũng đã có một số Tòa án đã vận dụng lẽ công bằng để giải quyết các vụ việc dân sự phát sinh trong các quan hệ về chia thừa kế (tính công sức cho người quản lý di sản của người chết nhưng không phải là hàng thừa kế); tính công sức và tái tạo tài sản trong quá trình trông coi quản lý, xem xét chia thêm kỉ phần có thể là hiện vật để đảm bảo chỗ ở mưu sinh cho người quản lý tài sản khi họ không có chỗ ở nào khác trong các vụ án đòi tài sản hoặc tranh chấp quyền sở hữu, hoặc tranh chấp về nhà ở có yếu tố nước ngoài… qua một số vụ án như sau:
Ví dụ thứ nhất, vụ án tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất:
Tóm tắt nội dung vụ án: Ngày 10/8/2014, bà H cho bà L1 thuê phần đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 12,4 ha tại ấp L, xã T, huyện Đ với thời hạn 03 năm và giá thuê 120.000.000 đồng/năm; nếu thanh toán một lần cho toàn bộ thời gian thuê thì số tiền là 300.000.000 đồng. Sau khi hết thời hạn thuê, hai bên tiếp tục thỏa thuận gia hạn thời hạn thuê với mức tiền 120.000.000 đồng/năm. Theo bà H, từ năm 2018 đến nay bà L1 không thanh toán tiền thuê nên bà H yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng thuê đất và buộc bà L1 trả số tiền thuê còn nợ, giao trả lại phần đất thuê. Bà H cho rằng hợp đồng thuê đất được xác lập trước hợp đồng cầm cố đất và các bên đã thỏa thuận tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất do hợp đồng cầm cố không được thực hiện đầy đủ. Trong khi đó, bà L1 trình bày rằng ngày 21/11/2014 bà có nhận cầm cố phần đất của bà H với số tiền 1.300.000.000 đồng, thời hạn 05 năm. Đến nay đã hết thời hạn cầm cố nhưng bà H chưa chuộc lại đất nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vô hiệu và buộc bà H hoàn trả số tiền 1.300.000.000 đồng để bà giao trả lại đất. Bà L1 cho rằng sau khi ký hợp đồng cầm cố, bà H đã nhận đủ số tiền cầm cố; đồng thời giữa hai bên còn có thỏa thuận về việc bà L1 trả thay một khoản tiền cho bà H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 09/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực A tỉnh C: Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã tuyên hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 21/11/2014 vô hiệu do pháp luật đất đai không thừa nhận hình thức cầm cố quyền sử dụng đất nên buộc các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận.
Tại Bản án số 484/2025/DS-PT ngày 08/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh C: Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã đánh giá toàn diện và xem xét giá trị sử dụng thực tế của phần đất trong thời gian bị đơn quản lý. Căn cứ vào mức giá thuê đất mà các bên từng thỏa thuận (100.000.000 đồng/năm đối với diện tích 12,4 ha), Tòa án phúc thẩm xác định rằng trong khoảng thời gian gần 10 năm sử dụng đất, bị đơn đã hưởng lợi từ việc khai thác phần đất có giá trị đáng kể. Do đó, việc buộc nguyên đơn hoàn trả toàn bộ số tiền theo giao dịch cầm cố mà không tính đến giá trị sử dụng đất sẽ không bảo đảm sự công bằng. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xác định giá trị sử dụng phần đất mà bị đơn đã khai thác, từ đó bù trừ nghĩa vụ tài sản giữa các bên. Sau khi thẩm định định giá, số tiền sử dụng đất trong thời gian bị đơn quản lý được xác định khoảng 616.129.000 đồng, trong khi số tiền nguyên đơn đã nhận là 500.000.000 đồng, nên bị đơn còn phải thanh toán phần chênh lệch khoảng 116.129.000 đồng.
Nhận xét: Trong vụ án trên, Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng lẽ công bằng để giải quyết. Cụ thể, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết hậu quả giao dịch vô hiệu theo hướng áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 131 BLDS 2015,chỉ xác định nghĩa vụ hoàn trả tiền và quyền sử dụng đất mà chưa xem xét lợi ích thực tế phát sinh từ việc khai thác tài sản, đó là quyền sử dụng đất cho thuê tuy nhiên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm chưa xem xét giá trị thặng dư từ việc khai thác quyền sử dụng đất trong suốt 10 năm của bên nhận cầm cố. Do đó, việc Tòa án phúc thẩm xác định giá trị sử dụng đất (khoảng 616.000.000 đồng) để bù trừ với nghĩa vụ hoàn trả tiền (500.000.000 đồng) đã hạn chế tình trạng một bên được hưởng lợi bất hợp lý từ việc khai thác tài sản trong giao dịch vô hiệu. Cách giải quyết này cho thấy sự vận dụng lẽ công bằng trong việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu, khi các quy định về hợp đồng vô hiệu chưa dự liệu hết sự biến động về giá trị sử dụng tài sản theo thời gian.
Bên cạnh đó, cách giải quyết của Tòa án phúc thẩm thể hiện sự phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 3 BLDS 2015, theo đó việc xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm nguyên tắc thiện chí, trung thực và công bằng. Đồng thời, việc cân đối lợi ích giữa các bên trong trường hợp này cũng phản ánh tinh thần của khoản 2 Điều 6 BLDS 2015, cho phép Tòa án áp dụng lẽ công bằng trong trường hợp pháp luật không có quy định trực tiếp dẫn chiếu.
Ví dụ thứ hai, Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Anh V và chị H kết hôn hợp pháp năm 2009, vợ chồng có 02 con chung là G, sinh năm 2010 và K, sinh năm 2015. Chị H và anh V đã ly hôn ngày 06/2/2020 do trong quá trình chung sống chị H đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng và có quan hệ với người khác sinh ra cháu K. Nay anh V cho rằng chị H không chung thuỷ và có hành vi gian dối trong hôn nhân làm cho anh V phải nuôi cháu K từ tháng 12/2015 đến tháng 3/2020 là 4 năm 3 tháng (51 tháng) nhưng không phải con ruột của anh (có kết quả giám định AND của cơ quan có thẩm quyền), anh V yêu cầu bồi thường về tinh thần và tiền công chăm sóc với tổng số tiền là 121 triệu đồng. Về phía chị H thừa nhận cháu K là con của người khác nhưng theo chị H đã được anh V chấp nhận, anh V cũng đồng ý nuôi, tại phiên tòa, chị H chỉ chấp nhận bồi thường cho anh V chi phí nuôi cháu K là 50 triệu đồng.
Tại Bản án số 04/2020/DS-ST ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P (nay tỉnh V sau sáp nhập); Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 3, khoản 2 Điều 6 BLDS năm 2015; khoản 2 Điều 4, Điều 45 BLTTDS năm 2015 nhận định hiện chưa có quy định pháp luật cũng như án lệ về vụ việc tương tự liên quan đến bồi thường tổn thất nuôi con do một bên ngoại tình. Hội đồng xét xử nhận định chị H không đưa ra được chứng cứ chứng minh anh V chấp nhận nuôi con khi không phải là con ruột của anh và đã xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh V trên cơ sở lẽ phải được xã hội thừa nhận nên tuyên xử buộc chị H phải bồi thường cho anh V số tiền thiệt hại là 96 triệu đồng.
Nhận xét: Bản án sơ thẩm nêu trên đã giải quyết yêu cầu mà pháp luật chưa có quy định cụ thể, đó là việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với trường hợp, gian lận về quan hệ huyết thống, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, cụ thể, khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Pháp luật hôn nhân gia đình hiện nay chủ yếu điều chỉnh về các vấn đề quan hệ vợ chồng như kết hôn, ly hôn, phân chia tài sản, bảo vệ quyền lợi cho người con mà chưa có quy định cụ thể về “bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, hay gian lận về quan hệ huyết thống”. Tòa án huyện T, tỉnh P đã vận dụng lẽ công bằng để giải quyết tình huống, đảm bảo triệt quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh V khi bị xâm phạm pháp luật hôn nhân gia đình. Việc chị H giấu diếm anh V đối với cháu K không phải là con đẻ của ánh V suốt hơn 4 năm không chỉ là vi phạm đạo đức mà còn trực tiếp ảnh hưởng cả về tình cảm, vật chất khi anh V đã dành rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để chăm sóc cháu K khiến anh V bị tổn thương tinh thần nghiêm trọng. Đây chính là lẽ công bằng lấp khoảng trống pháp lý cả về đạo đức, thuần phong mĩ tục đề cao giá trị chung thủy trong hạnh phúc gia đình.
Như vậy, qua thực tiễn áp dụng lẽ công bằng trong việc giải quyết án dân sự tại Việt Nam hiện nay, có thể khẳng định rằng nguyên tắc này đem lại những giá trị tích cực trong việc bảo đảm công lý và quyền lợi của người dân tuy nhiên vẫn còn những một số hạn chế như sự thụ động của Tòa án trong việc áp dụng lẽ công bằng, thường đưa về cách hiểu khác của quy định pháp luật, tâm lý e ngại việc bản án bị hủy, sửa nên không áp dụng lẽ công bằng hay sự thiếu thống nhất trong thực tiễn xét xử,... Những hạn chế này đặt ra không ít khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo đảm công lý và khả năng tiếp cận công lý của người dân. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị sau:
3. Một số kiến nghị áp dụng lẽ công bằng trong giải quyết án dân sự tại Việt Nam
Các quan hệ dân sự được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật dân sự, về nguyên tắc là không có sự phân biệt đối xử tuy nhiên quan hệ dân sự vốn đa dạng, phong phú và việc pháp luật điều chỉnh có thể chưa kịp ban hành hoặc chưa phù hợp trong một số trường hợp nhất định nên việc áp dụng lẽ công bằng là cần thiết, đóng vai trò như một cơ chế bảo đảm cuối cùng nhằm hiện thực hóa công lý. Để áp dụng lẽ công bằng trong hoạt động xét xử các vụ việc dân sự được hiệu quả, nhóm tác giả kiến nghị như sau:
Thứ nhất, cần nghiên cứu nâng tầm lẽ công bằng từ tư cách nguồn bổ trợ thành một nguyên tắc cơ bản trong giải quyết vụ việc dân sự. Trước hết, đối với pháp luật nội dung, cần xem xét bổ sung lẽ công bằng vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản tại Điều 3 BLDS 2015 và đối với pháp luật tố tụng, cần nghiên cứu quy định lẽ công bằng như một nguyên tắc trong hoạt động xét xử tại Chương II BLTTDS 2015. Việc ghi nhận này sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để Thẩm phán có thể vận dụng lẽ công bằng như một tiêu chuẩn định hướng trong quá trình giải thích và áp dụng pháp luật, đồng thời có cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc cân bằng lợi ích giữa các bên, đặc biệt trong các tranh chấp mà một bên ở vị thế yếu hơn trong quan hệ pháp lý.
Bên cạnh đó, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn cụ thể về tiêu chí xác định và giới hạn áp dụng lẽ công bằng. Việc thiết lập các tiêu chí mang tính định hướng (như bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các bên, bảo vệ bên yếu thế, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và nguyên tắc thiện chí, trung thực) sẽ góp phần hạn chế tính tùy nghi trong hoạt động xét xử, đồng thời nâng cao tính thống nhất và khả năng dự đoán của pháp luật.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả áp dụng lẽ công bằng trong thực tiễn xét xử thông qua tổng kết và lựa chọn để từng bước thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật cụ thể hoặc phát triển thành án lệ. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần hạn chế sự tùy nghi trong quá trình áp dụng lẽ công bằng mà còn tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch cho hoạt động xét xử, qua đó từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự theo hướng tiệm cận hơn với yêu cầu công lý và thực tiễn đời sống xã hội.
Thứ ba, cần nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc áp dụng lẽ công bằng, có hình thức khen thưởng đột xuất đối với những bản án hay và được giới chuyên nhà khoa học bình luận quan tâm. Bởi lẽ, việc vận dụng lẽ công bằng phụ thuộc đáng kể vào nhận thức chủ quan và kinh nghiệm của Hội đồng xét xử, nên nếu thiếu nền tảng chuyên môn vững chắc và đạo đức nghề nghiệp, việc áp dụng có thể dẫn đến tùy tiện hoặc thiếu nhất quán.
Việc ghi nhận lẽ công bằng trong BLDS 2015 và BLTTDS 2015 là một bước tiến quan trọng, đánh dấu bước ngoặt của tư pháp Việt Nam nhằm bảo vệ công lý một cách toàn diện. Điều này cho phép Thẩm phán bước ra khỏi sự hạn chế của những quy phạm pháp luật chưa có để đưa ra phán quyết thấu tình, phù hợp bảo đảm nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” cũng như “Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp”. Khi được vận dụng đúng đắn, lẽ công bằng đảm bảo lợi ích giữa các bên không bị phá vỡ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự và ngăn chặn những hành vi vi phạm mà pháp luật thực định chưa dự liệu được. Tuy nhiên, thực trạng xét xử cũng cho thấy sự e ngại, thiếu thống nhất và tính chủ quan của Hội đồng xét xử vẫn là những rào cản lớn khiến cơ chế này chưa được phát huy tối đa hiệu quả. Một hệ thống pháp luật hiệu quả, dễ dàng đi vào thực tiễn không chỉ cần những quy định cứng nhắc mà còn cần những “khoảng mở” để đạo đức và lẽ phải được thực thi, góp phần xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật gắn liền với công bằng và văn minh.
1 PGS. TS. Phùng Trung Tập, Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 01 (401), tháng 01/2020, https://www.nghiencuuphapluat.vn/ap-dung-le-cong-bang-de-giai-quyet-tranh-chap-dan-su/, truy cập ngày 29/4/2026.
2 Điều 6 BLDS 2015 quy định:
“1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.
2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”
3 PGS. TS. Phùng Trung Tập, tldđ.
4 Ngô Ngọc Diễm - Nguyễn Anh Dũng - Nguyên Thế Tùng, Một số vấn đề về áp dụng án lệ, tập quán và lẽ công bằng ở Việt Nam hiện nay, https://lsvn.vn/mot-so-van-de-ve-ap-dung-an-le-tap-quan-va-le-cong-bang-o-viet-nam-hien-nay1639315398.html, truy cập ngày 03/3/2026.
5 Khoản 3 Điều 45 BLTTDS 2015: “Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải, được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó”.
6 Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025).
7 Điều 9 BLDS Philippines 1949: https://www.officialgazette.gov.ph/1949/06/18/republic-act-no-386/.
8 ThS. Lê Thị Diễm Phương (2023), Áp dụng lẽ công bằng trong giải quyết tranh chấp của một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Kiểm sát số 14/2023, https://kiemsat.vn/ap-dung-le-cong-bang-trong-giai-quyet-tranh-chap-cua-mot-so-nuoc-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam-67287.html, truy cập ngày 29/04/2023.
9 Điều 49 Luật Tòa án cấp cao năm 1981 Vương Quốc Anh, https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1981/54/section/49
10 ThS. Lê Thị Diễm Phương (2023), tlđd.
TAND Khu vực 2 - Đà Nẵng tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” - Ảnh: Thùy Dương.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Hành vi “góp tiền để cùng được sử dụng ma tuý” có phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 không?
-
Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của bên thứ ba trong hợp đồng tín dụng: Từ thực tiễn xét xử đến yêu cầu thống nhất áp dụng pháp luật
-
Hải Phòng: 20 năm đóng tiền thuế đất ở nhưng không được cấp sổ đỏ
Trách nhiệm thuộc về ai? -
Một số điểm mới cơ bản của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024
-
Ông Lê Anh Tú (Thích Minh Tuệ) tự nguyện dừng việc đi bộ khất thực
Bình luận