Bà A có quyền khởi kiện đối với việc tính tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự không?
Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc người được thi hành án có được khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền lãi do chậm thi hành án trong trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không tuyên về khoản lãi này. Thực tiễn áp dụng hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau cần sớm được nghiên cứu để có cách hiểu và áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn.
Theo Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2026/DS-PT đã có hiệu lực pháp luật, ông B có nghĩa vụ thanh toán cho bà A số tiền 496.000.000 đồng. Bản án không tuyên về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và bà A có đơn yêu cầu thi hành án, ông B vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng do việc chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông B thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trong thời gian chậm thi hành án. Đối với trường hợp này, hiện đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc bà A có quyền khởi kiện hay không.
Quan điểm thứ nhất: Tòa án phải thụ lý đơn khởi kiện của bà A và giải quyết vụ án. Theo quan điểm này, yêu cầu khởi kiện của bà A không thuộc trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án phải thụ lý giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ Bản án phúc thẩm số 15/2015/DS-PT ngày 20/4/2015 đã có hiệu lực pháp luật, ông B có nghĩa vụ thanh toán cho bà A số tiền 466.950.000 đồng. Tuy nhiên, bản án này chỉ xác định nghĩa vụ trả tiền gốc, không xem xét và cũng không tuyên về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án. Sau khi bản án có hiệu lực, bà A đã có đơn yêu cầu thi hành án ngày 25/5/2015 nhưng ông B không thực hiện ngay nghĩa vụ thanh toán mà đến ngày 05/8/2024 mới thi hành xong khoản tiền gốc. Do đó, yêu cầu đòi tiền lãi chậm thi hành án phát sinh từ hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền của ông B trong giai đoạn thi hành án, tức là phát sinh sau thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật và chưa từng được xem xét, giải quyết trong Bản án phúc thẩm số 15/2015/DS-PT. Căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Đồng thời, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định mức lãi suất đối với khoản tiền chậm trả khi các bên không có thỏa thuận. Như vậy, nghĩa vụ trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ quy định của pháp luật khi có hành vi chậm trả, không phụ thuộc vào việc bản án trước đó có tuyên hay không tuyên về khoản lãi này.
Mặt khác, khi chuyển sang giai đoạn thi hành bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án sẽ làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật mới giữa bên được thi hành án (bà A) là bên có quyền và bên phải thi hành án (ông B) là bên có nghĩa vụ phải thanh toán đúng, đủ số tiền trong bản án, nếu chậm thanh toán chính là chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Do đó, trong giai đoạn thi hành án đã phát sinh quan hệ giữa một bên có quyền yêu cầu và một bên có nghĩa vụ thực hiện. Khoản 2 Điều 6 và điểm d khoản 1 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định đương sự có quyền khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án theo quy định của pháp luật. Vì vậy, khi cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm do ông B chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, bà A có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét trách nhiệm trả lãi phát sinh trong quá trình thi hành án.
Do đó, có căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện về tiền lãi chậm thi hành án là một yêu cầu độc lập, phát sinh sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nào trước đó. Vì vậy, Tòa án cần thụ lý vụ án để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quan điểm thứ hai và cũng là quan điểm của nhóm tác giả: Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho bà A. Bởi lẽ, yêu cầu của bà A về việc buộc ông B trả 355.093.166 đồng tiền lãi chậm thi hành án là yêu cầu liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ trả tiền đã được giải quyết tại Bản án phúc thẩm số 15/2015/DS-PT ngày 20/4/2015. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật, xác định cụ thể nghĩa vụ trả số tiền 466.950.000 đồng nhưng không tuyên về lãi chậm thi hành án. Đối chiếu với Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án thì khi tuyên buộc ông B phải trả cho bà A số tiền 466.950.000 đồng thì Bản án phúc thẩm còn phải tuyên về khoản tiền lãi chậm thi hành án kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong. Cấp phúc thẩm không tuyên về phần lãi suất chậm thi hành án trong bản án là làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà A. Nếu cho rằng việc không tuyên lãi chậm thi hành án là thiếu sót thì bà A có quyền thực hiện các quyền tố tụng đối với chính bản án đã có hiệu lực pháp luật, như đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm theo quy định để Tòa án nhân dân giải quyết theo thẩm quyền, chứ không thể khởi kiện một vụ án mới để yêu cầu bổ sung nghĩa vụ tài sản mà bản án chưa tuyên. Do đó, có căn cứ xác định đây là sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật, thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trong trường hợp này, để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, chúng tôi cho rằng, khi trả lại đơn khởi kiện cho bà A, cán bộ Tòa án cần hướng dẫn cho bà A làm đơn đề nghị xem xét thủ tục giám đốc thẩm theo hướng buộc ông B trả cho bà A khoản tiền lãi chậm trả của số tiền chậm thi hành án. Điều này vừa bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, vừa bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Trên đây là các quan điểm phân tích, đánh giá về quyền khởi kiện đối với việc tính tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự. Rất mong nhận được sự trao đổi từ đồng nghiệp và quý bạn đọc để việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất và hiệu quả.
VKSND TP. Cao Bằng đã phối hợp với TAND TP. Cao Bằng tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm bằng hình thức trực tuyến, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm - Nguồn: VKSND Thành phố Cao Bằng.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Xác định bị đơn trong vụ án dân sự về “tranh chấp quyền sử dụng đất”
-
Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kế hoạch xét nâng bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân năm 2026
-
Tòa án nhân dân tối cao phát động Đợt thi đua cao điểm “90 ngày giải quyết đơn, án”
-
Cần phải làm rõ vụ án có thuộc trường hợp áp dụng Án lệ số 04/2016/AL
-
Ban hành Thông tư liên tịch sửa đổi quy định phối hợp giữa Tòa án và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong hoạt động tố tụng
Bình luận