Giải quyết yêu cầu thanh toán lãi chậm thi hành án không được tuyên trong bản án gốc: Thụ lý hay trả lại đơn khởi kiện?
Thực tiễn xét xử các vụ án dân sự cho thấy việc Tòa án tuyên buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán nhưng lại không tuyên kèm theo nghĩa vụ trả lãi chậm thi hành án là một sai sót khá phổ biến. Điều này dẫn đến những hệ lụy pháp lý phức tạp trong giai đoạn thi hành án, đặc biệt là khi người phải thi hành án cố tình kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
Tình huống pháp lý được đặt ra trong bài viết “Bà A có quyền khởi kiện đối với việc tính tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự không?” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Thị Phương Anh và Bùi Thị Minh Trang (Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa) đăng ngày 17/6/2026.
Theo đó, trong Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2015/DS-PT ngày 20/4/2015 đã có hiệu lực pháp luật, ông B có nghĩa vụ thanh toán cho bà A số tiền 466.950.000 đồng. Bản án này chỉ xác định nghĩa vụ trả tiền gốc, không tuyên về nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thi hành án. Sau khi bản án có hiệu lực, bà A có đơn yêu cầu thi hành án nhưng đến ngày 05/08/2024 việc thi hành án khoản tiền gốc mới được thực hiện xong. Cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm do hành vi chậm thi hành án kéo dài hơn 9 năm của ông B, bà A đã nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự mới, yêu cầu Tòa án buộc ông B thanh toán khoản tiền lãi chậm thi hành án là 355.093.166 đồng.
Vấn đề pháp lý cốt lõi được đặt ra là, trong trường hợp bản án gốc không tuyên về lãi chậm thi hành án, người được thi hành án có quyền khởi kiện thành một vụ án dân sự độc lập để đòi khoản lãi này hay không? Yêu cầu khởi kiện này có được Tòa án thụ lý hay không? Liên quan đến vấn đề này, hiện đang tồn tại hai luồng quan điểm trái chiều: Quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa án phải thụ lý đơn khởi kiện của bà A và giải quyết vụ án theo thủ tục chung; Quan điểm thứ hai cho rằng Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện cho bà A.
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ:
Thứ nhất, về bản chất pháp lý của khoản tiền lãi chậm thi hành án. Quan điểm thứ nhất đã nhầm lẫn khi đồng nhất nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán trong bản án với một giao dịch dân sự thông thường. Cần khẳng định rằng, khi Bản án số 15/2015/DS-PT có hiệu lực pháp luật, các quan hệ pháp luật ban đầu giữa các đương sự đã chấm dứt và được “chuyển hóa” thành quan hệ chấp hành phán quyết của Tòa án (thi hành án). Nghĩa vụ trả tiền lúc này chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án dân sự (THADS). Khoản lãi chậm thi hành án là hệ quả pháp lý phát sinh từ chính nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán mà Tòa án đã giải quyết. Do vậy, khoản lãi chậm thi hành án này không thể tách rời và trở thành đối tượng khởi kiện của một vụ án độc lập.
Thứ hai, sự áp dụng khiên cưỡng Luật THADS của quan điểm thứ nhất. Việc quan điểm thứ nhất viện dẫn khoản 2 Điều 6 và điểm d khoản 1 Điều 7 Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 để cho rằng bà A có quyền khởi kiện là sự hiểu sai tinh thần của luật (mặc dù hiện nay Luật THADS năm 2025 đã được ban hành và có hiệu lực, nhưng do toàn bộ quá trình chậm thi hành án của ông B đã diễn ra và kết thúc vào tháng 08/2024, nên việc đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc vẫn phải căn cứ vào Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2022). Quy định nêu trên cho phép đương sự khởi kiện “trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án” là nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án (ví dụ: người thứ ba tranh chấp tài sản của người phải thi hành án bị kê biên để thi thành án; hoặc có tranh chấp về việc phân chia tài sản chung của vợ/chồng người phải thi hành án khi tài sản chung bị kê biên để thi hành án). Quy định này không thể được áp dụng nhằm tạo thêm nghĩa vụ tài sản cho người phải thi hành án so với nội dung của bản án gốc.
Thứ ba, việc khởi kiện mới vi phạm quy định “sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Vấn đề này được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Trong vụ việc này, yêu cầu thanh toán khoản nợ giữa bà A và ông B đã được Tòa án giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Khi giải quyết yêu cầu thanh toán tiền, việc ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền lãi suất chậm trả là những nội dung bắt buộc trong bản án, quyết định của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Cụ thể, theo quy định này thì: “Khi giải quyết vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án thì Tòa án phải quyết định trong bản án hoặc quyết định (Phần quyết định) như sau: a) Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015…”. Do đó, việc Bản án phúc thẩm số 15/2015/DS-PT không tuyên phần lãi suất là sai sót của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật. Việc thụ lý một vụ án mới để giải quyết yêu cầu trả lãi chậm thi hành án không được tuyên trong bản án gốc để “sửa chữa” cho sai sót của bản án đã có hiệu lực là không phù hợp. Nói cách khác, sai sót của một phán quyết tư pháp đã có hiệu lực không thể được khắc phục bằng cách khởi động một vụ án mới.
Tuy nhiên, việc trả lại đơn khởi kiện không đồng nghĩa với việc pháp luật "làm ngơ" trước quyền lợi chính đáng của người được thi hành án. Thực ra, pháp luật tố tụng dân sự đã có quy định về thủ tục đặc biệt để sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, sai lầm của Tòa án trong trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Thủ tục này được gọi là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mà cụ thể trong trường hợp này là thủ tục giám đốc thẩm bởi lẽ Tòa án đã có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do vậy, trong trường hợp này thủ tục giám đốc thẩm sẽ là giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà A theo quy định tại các điều luật thuộc Chương XX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, bà A cần nộp đơn đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị bản án trên theo thủ tục giám đốc thẩm. Thông qua thủ tục này, cơ quan có thẩm quyền sẽ hủy một phần hoặc toàn bộ bản án phúc thẩm để xét xử lại, nhằm bổ sung phần tuyên buộc ông B phải chịu lãi chậm thi hành án theo đúng quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP. Cách giải quyết này vừa có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, vừa đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Thứ tư, việc thụ lý vụ án mới sẽ đẩy gánh nặng sửa chữa sai lầm, thiếu sót của Tòa án sang đương sự. Cần nhìn nhận một cách khách quan rằng, việc không tuyên nghĩa vụ trả lãi chậm thi hành án trong phán quyết là thiếu sót của Hội đồng xét xử. Do đó, nếu yêu cầu đòi lãi chậm thi hành án này được thụ lý thành một vụ án dân sự mới sẽ đồng nghĩa với việc đương sự phải trả giá cho thiếu sót của cơ quan xét xử. Cụ thể, nếu khởi kiện vụ án mới, bà A sẽ phải thực hiện lại toàn bộ quy trình tố tụng từ đầu như nộp đơn khởi kiện, nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho số tiền lãi chậm thi hành án, xét xử sơ thẩm, và thậm chí là đối mặt với cấp xét xử phúc thẩm. Điều này không chỉ gây tốn kém thời gian, chi phí của đương sự mà còn gây lãng phí nguồn lực của chính ngành Tòa án. Hơn thế nữa, việc chấp nhận thụ lý sẽ tạo ra một tiền lệ vô cùng nguy hiểm, đi ngược lại hoàn toàn với nguyên tắc giải quyết nhanh chóng, toàn diện và triệt để vụ án dân sự được pháp luật tố tụng ghi nhận. Do đó, việc khắc phục sai sót này phải được thực hiện bằng bởi chính Tòa án theo thủ tục đặc biệt, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mà không phải bằng cách đương sự phải khởi động một vụ kiện mới.
Tóm lại, việc tính lãi đối với nghĩa vụ tài sản phải thanh toán trong bản án, quyết định có ý nghĩa bảo đảm phán quyết của Tòa án được thực thi kịp thời, nghiêm túc, khuyến khích người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ nhanh chóng, không để xảy ra thiệt hại phát sinh từ việc chậm thi hành án. Do vậy, các cấp Tòa án cần quán triệt thực hiện, ghi nhận đầy đủ nội dung này trong bản án, quyết định. Trong trường hợp có thiếu sót, Tòa án cần khắc phục kịp thời thông qua thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Trên đây là quan điểm cá nhân của tác giả liên quan đến việc giải quyết yêu cầu trả lãi chậm thi hành án không được tuyên trong bản án gốc, rất mong nhận được trao đổi từ những đọc giả có quan tâm.
VKSND Khu vực 7, tỉnh Hưng Yên vừa phối hợp với TAND cùng cấp tổ chức phiên tòa số hóa hồ sơ, rút kinh nghiệm đối với vụ án dân sự sơ thẩm về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” - Ảnh: Ngọc Tú.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Về bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự năm 2015
-
Quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 – một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị hoàn thiện
-
Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q như thế nào?
-
Bản lĩnh, đổi mới và khát vọng phát triển
Lời cảm ơn của Tạp chí Tòa án nhân dân nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam -
Về tình tiết định khung tăng nặng “đối với 02 người trở lên” trong “tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Bình luận