Tác động tới quyền riêng tư của mô hình tính điểm tín nhiệm công dân tại Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự hình thành của các mô hình đánh giá tín nhiệm đang trở thành xu hướng ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới. Trung Quốc đã xây dựng một mô hình tính điểm tín nhiệm xã hội đối với công dân với mục tiêu và ý nghĩa là thúc đẩy tuân thủ pháp luật và nâng cao trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên, sự vận hành mô hình này đang tạo ra những rủi ro nhất định đối với quyền riêng tư của người dân. Bài viết nhận diện và phân tích các tác động mang tính thách thức của mô hình tính điểm tín nhiệm công dân tại Trung Quốc đối với quyền riêng tư để rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam trong bối cảnh nghiên cứu xây dựng hệ thống Điểm công dân số hiện nay.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành xu hướng toàn cầu, việc áp dụng các mô hình quản trị bằng dữ liệu, trong đó có các hệ thống tính điểm tín nhiệm công dân (HTTĐTNCD), đang diễn ra nhanh chóng. HTTĐTNCD được hiểu là một cơ chế quản trị xã hội dựa trên dữ liệu, trong đó hành vi của công dân được ghi nhận, phân tích và lượng hoá thành điểm tín nhiệm; thông qua các cơ chế pháp lý minh bạch, giải trình, kiểm toán dữ liệu, giám sát độc lập và bảo vệ dữ liệu cá nhân; nhằm thúc đẩy sự tuân thủ pháp luật, củng cố niềm tin xã hội và khuyến khích hành vi có trách nhiệm[1]. HTTĐTNCD có thể được xem là một phương thức quản trị niềm tin thông qua hệ thống kĩ thuật trừu tượng (như AI, thuật toán, dữ liệu hành vi) hoặc là một cách thức định lượng rủi ro xã hội thông qua dữ liệu hành vi (tức là dùng dữ liệu hành vi như công cụ phòng ngừa nguy cơ vi phạm và mất trật tự). Bên cạnh những giá trị tích cực về quản trị xã hội, việc vận hành những hệ thống như vậy lại phát sinh một số vấn đề liên quan tới quyền riêng tư.

Từ những năm 2014, Trung Quốc đã xây dựng mô hình tính điểm tín nhiệm công dân với tên gọi 社会信用体系 (Social Credit System - SCS) ở nhiều địa phương khác nhau. Là một trong những hệ thống quản trị xã hội bằng dữ liệu lớn nhất trên thế giới, việc áp dụng công nghệ cao và liên tục thu thập thông tin của công dân trong quá trình vận hành SCS đã làm phát sinh nhiều tác động đến quyền riêng tư của người dân tại Trung Quốc. Bằng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (case study) và phương pháp thực chứng (evidence-based study), bài viết nghiên cứu các tác động, rủi ro đối với quyền riêng tư của người dân Trung Quốc khi áp dụng SCS và rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia hiện nay, cụ thể là trong thiết kế Hệ thống Điểm công dân số[2].

1. Khái quát về mô hình tính điểm tín nhiệm công dân tại Trung Quốc

Được nhắc đến lần đầu trong Đề cương xây dựng hệ thống Tín nhiệm xã hội giai đoạn 2014 - 2020, SCS đóng vai trò quan trọng đối với hệ thống quản lý xã hội của Trung Quốc, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề suy giảm niềm tin trong xã hội Trung Quốc. SCS là một công cụ quản trị xã hội bằng đạo đức và niềm tin trong xã hội Trung Quốc. SCS được xây dựng xoay quanh các giá trị đạo đức với tư cách vừa là đối tượng vừa là công cụ để quản trị xã hội[3]. SCS là sáng kiến nhằm kiểm soát ranh giới mong manh giữa đạo đức và pháp luật[4]. SCS vận hành lần lượt theo hai quá trình bao gồm: (i) Thứ nhất là thu thập và xử lý dữ liệu hành vi bằng các thuật toán và công nghệ để tính điểm tín nhiệm của một cá nhân và (ii) Thứ hai là phân loại công dân dựa vào điểm tín nhiệm của họ và trên cơ sở đó sẽ tiến hành “thưởng” hoặc “phạt” đối với công dân[5]. Thông qua cơ chế thưởng phạt, SCS nhằm thúc đẩy hành vi có lợi và ngăn chặn các hành vi lệch chuẩn của công dân.

Về cơ bản, để vận hành hiệu quả, các mô hình này cần được đáp ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất đối với các hạ tầng, công nghệ kỹ thuật số sử dụng để thu thập, lưu trữ và xử lý một lượng thông tin khổng lồ. Hiện nay, Trung Quốc đã và đang xây dựng các nền tảng chia sẻ thông tin tín nhiệm quốc gia. Nền tảng này có chức năng tổng hợp dữ liệu liên quan đến khái niệm tín nhiệm của công dân theo nghĩa rộng, bao gồm các thông tin về danh sách đen (Black list)[6], danh sách đỏ (Red list)[7], cũng như các quyết định xử phạt hành chính và giấy phép hành chính[8]. Nền tảng này được kết nối với toàn bộ các mô hình trên toàn quốc và có thể được truy cập bởi tất cả các cơ quan nhà nước, cũng như các tổ chức tài chính và xã hội được ủy quyền. Ở cấp địa phương, các nền tảng chia sẻ thông tin tín nhiệm được thiết lập bởi chính quyền của các đơn vị địa phương giúp vừa cung cấp các dữ liệu bắt buộc về công dân cho nền tảng quốc gia, vừa tích hợp thêm các dữ liệu đặc thù theo từng khu vực. Trung Quốc cũng đã hình thành cổng thông tin công khai thông tin tín nhiệm, được gọi là 信用中国 (Credit China). Trang web này đã kết nối 44 cơ quan thuộc chính quyền trung ương với toàn bộ các tỉnh. Đây cũng là nơi lưu trữ và duy trì thông tin tín nhiệm tại Trung Quốc. Trung Quốc cũng đã xây dựng một hệ thống căn cước công dân toàn quốc nhằm xác định, đối chiếu danh tính gắn liền với thông tin tín nhiệm của từng cá nhân thông qua một mã số các mã số dịnh danh riêng cho mỗi người. Mã số này đóng vai trò như một nơi để lưu trữ, chia sẻ và truy xuất thông tin được cá nhân hóa[9]. Việc hợp nhất dữ liệu từ các danh sách đen hiện có, các dự án chấm điểm ở cấp đô thị, cùng với nhiều cơ sở dữ liệu do các cơ quan nhà nước khác nhau quản lý cho phép Chính phủ Trung Quốc tạo lập các hồ sơ thông tin tiểu sử cho từng cá nhân.

 Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã ứng dụng Dữ liệu Trí tuệ nhân tạo (AI) vào trong hoạt động của hệ thống. Trong quá trình vận hành, AI nhận diện khuôn mặt; phân tích, theo dõi hành vi và chấm điểm công dân. Trung Quốc còn xây dựng hệ thống Camera bao phủ toàn quốc để phục vụ cho SCS. Từ năm 2015, Trung Quốc đã xây dựng và triển khai các dự án “Sharp Eyes”, “Skynet” nhằm xây dựng một hệ thống Camera “hiện diện khắp nơi, được kết nối hoàn toàn, vận hành liên tục và có thể kiểm soát toàn diện”, tích hợp công nghệ nhận diện khuôn mặt, qua đó hình thành mạng lưới giám sát bằng video lớn nhất thế giới[10]. Trung Quốc hiện có khoảng 600 triệu camera giám sát tích hợp AI, đơn vị này được phủ sóng rộng khắp trên toàn quốc[11]. Đây là những yêu cầu cần thiết để SCS có thể hoạt động hiệu quả.

2. Tác động tới quyền riêng tư của mô hình tính điểm tín nhiệm công dân tại Trung Quốc

Trong mô hình SCS tại Trung Quốc, chính quyền và các tổ chức liên quan tích hợp dữ liệu từ rất nhiều nguồn khác nhau như hồ sơ hành chính, lịch sử tài chính, dữ liệu viễn thông, hoạt động trên mạng xã hội, camera nhận diện khuôn mặt và thậm chí cả dữ liệu định vị. Từ đó, công dân trở thành các đối tượng dữ liệu có thể bị giám sát thông qua thông tin được thu thập, hay còn được gọi là quá trình dữ liệu hóa công dân (datafication)[12]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng quá trình này dần khiến SCS trở thành một công cụ nhằm mở rộng phạm vi giám sát của nhà nước ra toàn xã hội thông qua dữ liệu hành vi (dataveillance)[13]. Khi quá trình dữ liệu hóa ngày càng mở rộng, SCS có thể biến Trung Quốc trở thành một “nhà nước dữ liệu” (data state)[14] mà trong đó hành vi công cộng của người dân sẽ được chuyển đổi thành dữ liệu để theo dõi, quản lý. Việc thu thập này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý nhà nước. Tuy nhiên, chính điều này lại tác động rất lớn đến quyền riêng tư của công dân. Các dữ liệu sử dụng trong SCS ban đầu được thu thập hợp pháp, đúng thẩm quyền. Để bảo đảm hiệu quả của hệ thống, các thông tin này được liên tục chia sẻ giữa các cơ quan nhà nước. Việc tái sử dụng này dần khiến người dân không nắm bắt được cách mà thông tin của mình được sử dụng[15].  Công dân dần không còn kiểm soát được dữ liệu của chính mình, tạo nên một số thách thức trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bắt nguồn từ một phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức trong vụ điều tra dân số năm 1983, Học thuyết Quyền tự quyết thông tin (Informational self-determination) được hiểu là “quyền của cá nhân tự mình quyết định khi nào và trong phạm vi nào dữ liệu cá nhân của mình được sử dụng”[16]. Theo học thuyết này, cá nhân có quyền biết và quyết định thông tin nào của mình được thu thập, sử dụng, chia sẻ. Quyền tự quyết thông tin được xây dựng trên các giá trị hiến định về phẩm giá con người và quyền phát triển nhân cách[17]. Do đó, sự thiếu kiểm soát đối với dữ liệu cá nhân sẽ dần khiến người dân Trung Quốc mất đi sự tự chủ của họ. Điều này cho thấy việc chia sẻ thông tin tín nhiệm giữa các cơ quan nhà nước, liên tục thu thập thông tin từ camera theo thời gian cần thêm các cơ chế rõ ràng để công dân có thể tự kiểm soát và chủ động trong việc bảo vệ dữ liệu cũng như quyền riêng tư của mình.

Quá trình dữ liệu hóa công dân trên phạm vi toàn Trung Quốc còn dẫn đến sự thay đổi nhận thức của người dân. Khi việc bị thu thập dữ liệu diễn ra thường xuyên trong mọi hoạt động thường nhật, công dân dần coi giám sát là điều tự nhiên của đời sống hiện đại. Theo Claire Seungeun Lee, đây chính là sự bình thường hóa mới của xã hội dữ liệu[18]. Theo đó, cá nhân chấp nhận việc đời sống riêng tư liên tục bị ghi nhận để đổi lấy an ninh hoặc lợi ích xã hội. Điều này dẫn đến hệ quả lâu dài là nhận thức xã hội về quyền riêng tư bị suy yếu, còn quyền được giữ kín thông tin cá nhân dần bị xem như một lợi ích thứ yếu so với yêu cầu quản trị và kiểm soát xã hội.

Không chỉ vậy, trong quá trình vận hành SCS, cách dữ liệu được thu thập và xử lý có độ minh bạch tương đối thấp. Người dân Trung Quốc thường không được tiếp cận đầy đủ các thông tin về hoạt động xử lý dữ liệu của mình[19]. Không chỉ vậy, nhiều hành vi được thu thập trong hệ thống thường chỉ dựa vào các văn bản của địa phương mà không có định hướng hay các tiêu chí thống nhất. Điều này có thể dẫn đến việc thông tin của người dân bị thu thập nhiều hơn so với mức cần thiết, không phù hợp với mục đích được đề ra của mô hình. Có nghiên cứu đã chỉ ra một số tiêu chí để xác định tín nhiệm xã hội có thể không chỉ dựa trên tính hợp pháp mà còn trên đạo đức của hành vi công dân, bao gồm hành vi kinh tế, xã hội và chính trị[20]. Trong mô hình SCS được áp dụng tại Rongcheng, Trung Quốc; một số tiêu chí mang tính xã hội như hiến tụy, hiến máu,… đã được áp dụng để tính điểm tín nhiệm[21].  Cơ chế thưởng - phạt đối với hành vi của công dân được xây dựng trên tiền đề rằng nhà nước có thể thu thập, chia sẻ và sử dụng thông tin tín nhiệm của các chủ thể tín nhiệm. Tuy nhiên, mức độ và phạm vi mà chính phủ được phép thu thập và chia sẻ các thông tin bất tín đó vẫn cần cải thiện và rõ ràng hơn[22].

Bên cạnh đó, việc thu thập một lượng lớn dữ liệu còn tạo ra nguy cơ rò rỉ dữ liệu cá nhân ở mức độ rất lớn. Nền tảng chia sẻ dữ liệu tín nhiệm quốc gia - được coi như xương sống của SCS, đã lưu trữ khoảng 74 bộ dữ liệu thu thập từ công dân, bao gồm các thông tin cá nhân, hành vi phá vỡ niềm tin, thành tích, các hình thức xử phạt từ nhà nước,… được chia sẻ từ nhiều các cơ quan nhà nước khác nhau. Tính riêng đến năm 2019, nền tảng này đã thu thập dữ liệu từ hơn 990 triệu công dân Trung Quốc[23]. Khi nguy cơ rò rỉ xảy ra, đời sống riêng tư của người dân sẽ bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự thu thập và lưu trữ lượng dữ liệu trên có khả năng tái tạo lại gần như toàn bộ hồ sơ điện tử của một cá nhân. Hơn nữa, để vận hành SCS, toàn bộ dữ liệu được thu thập sẽ được lưu trữ và truy xuất thống nhất thông qua mã số căn cước công dân của họ[24], tức các thông tin này sẽ được liên kết trực tiếp với danh tính thật của chủ thể dữ liệu. Do đó, khi lượng dữ liệu này bị rò rỉ, người nắm giữ thông tin sẽ biết được danh tính cũng như toàn bộ đời sống của họ.

Như vậy, hoạt động của SCS đã dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến quyền riêng tư của người dân Trung Quốc. Điều đó cho thấy dường như Trung Quốc đang ưu tiên hiệu quả quản lý, quản trị xã hội hơn bảo vệ quyền riêng tư. Các công cụ, hạ tầng giám sát số của Trung Quốc được xây dựng chủ yếu nhằm tăng cường mong muốn quản trị xã hội của quốc gia này xuất phát từ những yêu cầu phải đảm bảo an ninh và thúc đẩy phát triển quốc gia[25]. Trong khi đó, các quy định pháp luật về liên quan đến bảo vệ quyền riêng tư còn chưa đầy đủ và toàn diện. Đồng thời, quá trình vận hành của hệ thống còn thiếu sự giám sát độc lập hiệu quả.

3. Một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong bối cảnh nghiên cứu xây dựng hệ thống Điểm công dân số

Việc áp dụng các HTTĐTNCD vào quản trị xã hội mang lại rất nhiều các hiệu quả tích cực cho xã hội. Thực tiễn đã chứng minh, sự phát triển của các SCS tại Trung Quốc đã góp phần rất lớn vào quá trình thúc đẩy ý thức tuân thủ pháp luật của người dân. Nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng những người dân Trung Quốc tham gia khảo sát đã ít nhất một lần thay đổi hành vi của mình theo hướng tích cực hơn[26]. Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn các SCS của Trung Quốc, HTTĐTNCD đã có những tác động tiêu cực nhất định đối với quyền riêng tư.

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia hiện nay, Việt Nam đang nghiên cứu xây dựng hệ thống Điểm công dân số nhằm thúc đẩy phát triển công dân số góp phần thực hiện nhiệm vụ của Nghị quyết 57- NQ/TW. Rút kinh nghiệm từ quá trình vận hành và phát triển hệ thống SCS tại Trung Quốc, việc xây dựng hệ thống Điểm công dân số ở Việt Nam cần xác định một số vấn đề mang tính nguyên tắc sau:

Thứ nhất, việc xây dựng hệ thống Điểm công dân số ở Việt Nam theo mô hình HTTĐTNCD cần theo cách tiếp cận dựa trên quyền. Cụ thể, quá trình này cần cân bằng giữa bảo đảm quyền riêng tư của người dân với hiệu quả quản trị xã hội. SCS tại Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở ưu tiên hiệu quả quản trị hơn là bảo vệ quyền riêng tư[27], dẫn đến nhiều hệ quả đối với dữ liệu cá nhân của công dân. Do đó, khi ứng dụng mô hình HTTĐTNCD vào Việt Nam, cần chú trọng hơn vào bảo vệ quyền riêng tư của người dân so với mô hình của Trung Quốc. Theo đó, việc thu thập, xử lý, chia sẻ và lưu trữ dữ liệu của công dân cần được thực hiện thật sự minh bạch, tuân thủ nghiêm ngặt khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam. Đồng thời, các hoạt động liên quan đến dữ liệu của người dân cũng phải được thực hiện phù hợp với chính mục đích đã được công khai của hệ thống. 

Thứ hai, cần đặc biệt quan tâm tới khung pháp lý điều chỉnh HTTĐTNCD. Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm về mặt pháp lý phạm vi các dữ liệu nào sẽ được thu thập và cách thức mà dữ liệu được sử dụng. Hiện nay, Việt Nam chưa có đạo luật nào điều chỉnh việc xây dựng và vận hành HTTĐTNCD. Một Nghị quyết do Chính phủ ban hành là chưa đầy đủ về mặt giá trị pháp lý đối với việc điều chỉnh một hệ thống sử dụng lượng lớn dữ liệu như HTTĐTNCD. Khoản 1 Điều 10 Luât Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 yêu cầu các hoạt động tác động đến quyền con người, quyền công dân phải được quy định trong các văn bản Luật. Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 cũng xác định Luật do Quốc Hội ban hành có hiệu lực pháp lý cao hơn so với Nghị quyết do Chính Phủ ban hành.  Do đó, cần ban hành một đạo luật trực tiếp điều chỉnh hệ thống này trước khi chính thức đưa hệ thống này vào hoạt động chính thức Thực tế, nhiều văn bản Luật đã được ban hành để bảo vệ quyền riêng tư của người dân như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, Luật An ninh mạng 2018. Tuy nhiên, các quy định hiện hành vẫn chưa giải quyết đầy đủ những vấn đề phát sinh từ quá trình thu thập dữ liệu trong mô hình HTTĐTNCD. Hoạt động này đòi hỏi phải xây dựng bộ tiêu chí phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Đồng thời, phạm vi dữ liệu mà hệ thống thu thập khá lớn. Những yêu cầu này đã chứng minh sự cần thiết phải ban hành một đạo luật chuyên biệt nhằm thiết lập cơ sở pháp lý rõ ràng cho HTTĐTNCD nhằm bảo đảm quyền riêng tư cho người dân.

Thứ ba, cần có các cơ chế bảo đảm an toàn cho dữ liệu của người dân. Trước hết, cần xây dựng các cơ chế bảo vệ quyền riêng tư đối với dữ liệu được thu thập bởi hệ thống, vì các công nghệ vận hành bên trong nó dễ dàng tác động tiêu cực đến các dữ liệu cá nhân[28]. Không chỉ vậy, cơ chế giám sát độc lập của các cơ quan nhà nước cũng cần được chú trọng. Trong cơ chế này, Tòa án cần được xem là thiết chế độc lập quan trọng, đóng vai trò xem xét và bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của quá trình thu thập và xử lý dữ liệu. Hiến pháp 2013, sửa đổi bổ sung năm 2025 đã xác định Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi bị xâm phạm. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng đã nêu rõ chủ trương phải nâng cao cũng như mở rộng phạm vi thẩm quyền của toà án đối với các quyết định liên quan đến quyền con người, quyền công dân[29]. Để bảo đảm tính hợp hiến và hợp pháp trong hoạt động thu thập, xử lý dữ liệu của hệ thống điểm tín nhiệm công dân, cần xây dựng một cơ chế giám sát tư pháp độc lập, trong đó Tòa án giữ vị trí trung tâm. Theo đó, Tòa án có thẩm quyền xem xét, đánh giá tính hợp pháp của toàn bộ quy trình vận hành hệ thống, đồng thời tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền khiếu kiện hành chính khi cho rằng dữ liệu cá nhân của mình bị xâm phạm. Bên cạnh đó, Tòa án cũng cần được trao quyền kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những quy định pháp luật không còn phù hợp, thậm chí tuyên bố vô hiệu các quy định vi phạm quyền tự quyết thông tin của người dân[30]. Ngoài ra, trong quá trình xét xử, nếu phát hiện bất kỳ văn bản pháp luật nào liên quan đến HTTĐTNCD có nội dung trái với quy định của pháp luật, Tòa án có trách nhiệm chuyển kiến nghị đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét, xử lý kịp thời.

Kết luận

Việc phát triển một HTTĐTNCD sẽ tác động đến quyền riêng tư của người dân. Việc học hỏi từ quá trình vận hành SCS tại Trung Quốc là cần cân bằng giữa bảo đảm quyền riêng tư của người dân với hiệu quả quản trị xã hội; quan tâm đến khung pháp lý điều chỉnh HTTĐTNCD và xây dựng các cơ chế bảo đảm cần thiết trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và phát triển hệ thống Điểm công dân số hiện nay tại Việt Nam.

 

LÊ VIỆT DUY - TRỊNH HUYỀN LINH - ĐÀO DUY KHÁNH (Sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội)

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Cheng Linghui (2023), Research on the legalization of Social Credit System, Academic Journal of Management and Social Sciences, vol.2, no.1.

2. Cheung S Y Anne, Chen Yongxi (2021), From Datafication to Data State: Making Sense of China's Social Credit System and Its Implications, Law and Social Inquiry, vol.47, tr.1150 - 1151.

3. Chen Yongxi, Cheung S Y Anne (2017) The Transparent Self under Big Data Profiling: Privacy and Chinese Legislation on Social Credit System, SSRN Electric Journal, 10.2139/ssrn.2992537.

4. Đào Lệ Thu, Đào Duy Khánh, Trịnh Huyền Linh, Lê Việt Duy (2026), Hệ thống tính điểm tín nhiệm công dân nhìn từ lý luận liên ngành luật học và một số khoa học liên quan, Tạp chí Luật học, số 03.

5. Honghai Bi (2020), Old regulatory Wines in a New Bottle of Technology – A Critical Analyst of China’s Social Credit System, Asian Law Review, vol.16.

6. Kotska Genia, Antoine Lukas (2019), Fostering Model Citizenship: Behavioral Responses to China's Emerging Social Credit Systems, Policy and Internet, 12(3).

7. Lee Seungeun Claire (2019), Datafication, dataveillance, and the social credit system as China’s new normal, Online Information Review, vol.43, no.6.

8. Liu Chunchen (2019), Multiple social credit system in China, Economic Sociology: The European Electronic Newsletter, vol.21, no.1.

9. Liu Chunchen, Rona – tas Akos (2024), Trusting by Numbers: An Analysis of a Chinese Social Credit System Governance Infrastructure, Critical Sociology, 51(6),

10. Li Zhi-qiang (2022), Research on Government Regulation of Social Credit System - From the Perspective of Business Ethics, Administrative Consulting, vol.3.

11. Nguyễn Văn Quân, Bùi Phú Châu (2018), Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong mô hình đánh giá tín nhiệm xã hội (SCS) ở Trung Quốc và tác động đối với quyền con người, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7(375).

12. Rogier Creemers (2018), China’s Social Credit System: An evolving practice of control, Social Science Research Network, https://ssrn.com/abstract=3175792.

13. Rouvroy Antoinette, Poullet Yves (2009), Reinventing Data Protection?, Springer Nature, tr.45-76.

14. Trevaskes Susan, Bernot Ausma (2023), Surveillance infrastructure in China: Key concepts and mechanisms enhancing the Party-state’s governance ambitions, Global Media and China, Vol. 8(3).

15. Xiao Qiang (2019), The Road to Digital Unfreedom: President Xi’s Surveillance State, Journal of Democracy, Vol 30, Issue 1.

16. Zhang Chi (2024), China’s privacy protection strategy and its geopolitical implications, Asian Review of Political Economy, https://doi.org/10.1007/s44216-024-00028-2.

17. Zhang Chenchen (2020), Governing (through) trustworthiness: Technologies of power and subjectification in China's Social Credit System, Critical Asian Studies, Vol.52(4), tr.565-588.

18. Primož Gorkič (2017), Big Data, Crime and Social Control, Routledge, tr.18.


[1] Đào Lệ Thu, Đào Duy Khánh, Trịnh Huyền Linh, Lê Việt Duy (2026), Hệ thống tính điểm tín nhiệm công dân nhìn từ lý luận liên ngành luật học và một số khoa học liên quan, Tạp chí Luật học, số 03.

[3] Zhang Chenchen (2020), Governing (through) trustworthiness: Technologies of power and subjectification in China's Social Credit System, Critical Asian Studies, Vol.52(4), tr.565-588.

[4] Liu Chunchen, Rona – tas Akos (2024), Trusting by Numbers: An Analysis of a Chinese Social Credit System Governance Infrastructure, Critical Sociology, 51(6), tr.1255.

[5] Honghai Bi (2020), Old regulatory Wines in a New Bottle of Technology – A Critical Analyst of China’s Social Credit System, Asian Law Review, vol.16, tr.90.

[6] Danh sách đen (Black list) là chế độ mà nhà nước áp dụng cho các công dân có mức độ xếp hạng tín nhiệm thấp. Khi bị xếp vào danh sách này, họ phải chịu nhiều biện pháp hạn chế đối với quyền và lợi ích của mình, chẳng hạn như bị hạn chế mua vé máy bay, hạn chế tiếp cận các khoản vay hoặc các hoạt động kinh tế – xã hội khác. 

[7] Danh sách đỏ (Red list) là chế độ mà Nhà nước áp dụng cho các công dân có mức xếp hạng tín nhiệm cao. Khi được xếp vào danh sách này, họ sẽ được tiếp nhận những ưu ái trong các thủ tục hành chính hoặc các tiện ích trong các lĩnh vực như vay vốn, thuê nhà, đi lại và du lịch như một sự khuyến khích.

[8] Cheung S Y Anne, Chen Yongxi (2021), From Datafication to Data State: Making Sense of China's Social Credit System and Its Implications, Law and Social Inquiry, vol.47, tr.1150 – 1151.

[9] Chen Yu – jie, Lin Ching – fu, Liu Han – wei (2018), tlđd, tr.10 – 11.

[10] Xem: Xiao Qiang (2019), The Road to Digital Unfreedom: President Xi’s Surveillance State, Journal of Democracy, Vol 30, Issue 1, tr.53-67. 

[11] Stephen Chen (2024), Skynet 2.0: China plans to bring largest surveillance camera network on Earth to the moon to protect lunar assets, https://www.scmp.com/news/china/science/article/3254054/skynet-20-china-plans-bring-largest-surveillance-camera-network-earth-moon-protect-lunar-assets?module=perpetual_scroll_0&pgtype=article, truy cập ngày 30/12/2025.

[12] Dữ liệu hóa (datafication) được hiểu là một phương thức hợp pháp nhằm tiếp cận, thấu hiểu và giám sát hành vi của con người thông qua dữ liệu. Xem: José Van Dijck (2014), Datafication, dataism and dataveillance: Big Data between scientific paradigm and ideology, Surveillance and Society, 12(2), tr.197-208.

[13] Giám sát thông qua dữ liệu (dataveillance) là một hình thức của giám sát xã hội (social surveillance) thông qua dữ liệu hành vi.

[14] Cheung S Y Anne, Chen Yongxi (2021), tlđd, tr.1157. Theo bài nghiên cứu này, “nhà nước dữ liệu” được hiểu là một mô hình quản trị cho phép nhà nước giám sát, đánh giá và kiểm soát người dân của mình thông qua quá trình dữ liệu hóa.

[15] Chen Yongxi, Cheung S Y Anne (2017) The Transparent Self under Big Data Profiling: Privacy and Chinese Legislation on Social Credit System, SSRN Electric Journal, 10.2139/ssrn.2992537, ngày truy cập: 22/05/2026.

[16] Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức, Quyết định của Đệ nhất Thượng viện ngày 15/12/1983, vụ việc số 1 BvR 209/83, đoạn 1–214, xem tại: https://www.bverfg.de/e/rs19831215_1bvr020983en.

[17] Rouvroy Antoinette, Poullet Yves (2009), Reinventing Data Protection?, Springer Nature, tr.45-76.

[18] Lee Seungeun Claire (2019), Datafication, dataveillance, and the social credit system as China’s new normal, Online Information Review, vol.43, no.6, tr.952-970.

[19] Lee Seungeun Claire (2019), tlđd, tr.961-963.

[20] Liu Chunchen (2019), Multiple social credit system in China, Economic Sociology: The European Electronic Newsletter, vol.21, no.1, tr.22–32.

[21] Liu Chunchen, Rona – tas Akos (2024), tlđd, tr.1253.

[22] Cheng Linghui (2023), Research on the legalization of Social Credit System, Academic Journal of Management and Social Sciences, vol.2, no.1, tr.97-98.

[23] Li Zhi-qiang (2022), Research on Government Regulation of Social Credit System - From the Perspective of Business Ethics, Administrative Consulting, vol.3, tr.128.

[24] Rogier Creemers (2018), China’s Social Credit System: An evolving practice of control, Social Science Research Network, https://ssrn.com/abstract=3175792, ngày truy cập: 20/05/2026.

[25] Trevaskes Susan, Bernot Ausma (2023), Surveillance infrastructure in China: Key concepts and mechanisms enhancing the Party-state’s governance ambitions, Global Media and China, Vol. 8(3), tr.327–342.

[26] Kotska Genia, Antoine Lukas (2019), Fostering Model Citizenship: Behavioral Responses to China's Emerging Social Credit Systems, Policy and Internet, 12(3), tr.268. 

[27] Zhang Chi (2024), China’s privacy protection strategy and its geopolitical implications, Asian Review of Political Economy, https://doi.org/10.1007/s44216-024-00028-2, ngày truy cập: 26/05/2026.

[28] Đào Lệ Thu, Đào Duy Khánh, Trịnh Huyền Linh, Lê Việt Duy (2026), tlđd, tr.14.

[29] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[30] Primož Gorkič (2017), Big Data, Crime and Social Control, Routledge, tr.18, tác giả đã phân tích về sự quan trọng của cơ chế giám sát tư pháp trong việc bảo đảm quyền con người trong quá trình thu thập dữ liệu. Bên cạnh đó, đưa ra một số sự so sánh nhất định giữa cơ chế giám sát tư pháp của Hoa kì và cơ chế giám sát tư pháp của Vương Quốc Anh.

Bài viết này được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên “Phát triển hệ thống tính điểm tín nhiệm công dân nhằm thúc đẩy tuân thủ pháp luật và trách nhiệm xã hội - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở cho Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2025 - 2026.

Ảnh: Du khách tại Bắc Kinh (Trung Quốc) vào năm 2021 - Nguồn: TÂN HOA XÃ.