Trách nhiệm hình sự của người "góp tiền để cùng sử dụng ma túy" trong tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"

Qua nghiên cứu bài viết: Hành vi “góp tiền để cùng được sử dụng ma túy” có phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không? của tác giả Vũ Thị Lâm, tác giả mong muốn trao đổi, phân tích sâu hơn bản chất pháp lý của hành vi góp tiền trong mối quan hệ với cấu thành tội phạm tại Điều 255 và chế định đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đặt vấn đề

Trong thực tiễn xét xử các tội phạm về ma túy, việc phân định ranh giới giữa hành vi vi phạm hành chính và tội phạm hình sự luôn là thách thức đòi hỏi sự cẩn trọng và tinh tế về nghiệp vụ. Đặc biệt, đối với tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, thực tiễn đang tồn tại những cách hiểu chưa thống nhất về hành vi "góp tiền để cùng được sử dụng ma túy" - cụ thể là liệu người góp tiền có phải là người đồng phạm trong tội danh này hay không.

Bài viết của tác giả Vũ Thị Lâm đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 03/5/2026 đã đặt ra câu hỏi đúng và trúng khi phân tích tình huống thực tiễn tại xã ĐH, tỉnh Q, nhóm đối tượng T, M, S đứng ra tổ chức - mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ - trong khi P, N, Th, Nh chỉ góp tiền và cùng sử dụng. Tác giả Vũ Thị Lâm có quan điểm cho rằng, P, N, Th, Nh không cấu thành đồng phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” vì không có hành vi chỉ huy, phân công, điều hành, không chuẩn bị địa điểm và công cụ. Trân trọng tinh thần nghiên cứu thực tiễn của đồng nghiệp, tôi xin được trao đổi thêm: quan điểm kết luận của bài viết ban đầu có thể chưa phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý của hành vi góp tiền trong mối quan hệ với chế định đồng phạm, và cách tiếp cận đó có thể dẫn đến bỏ lọt trách nhiệm hình sự trong một số tình huống.

1. Nội dung tình huống trong bài và những điểm đồng tình

Tác giả Vũ Thị Lâm dựa trên hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP để xác định đồng phạm trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” phải là người thực hiện một trong các hành vi cụ thể “theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác”. Từ đó, tác giả kết luận P, N, Th, Nh - những người chỉ góp tiền - không đáp ứng yêu cầu này vì:

Quan điểm của tác giả Vũ Thị Lâm: Về điều kiện đồng phạm:

"P, N, Th, Nh chỉ thống nhất việc sử dụng ma tuý đã được các đối tượng T, M và S chuẩn bị từ trước, không có nhận sự phân công chỉ đạo của ai, không có sự chuẩn bị địa điểm, công cụ phương tiện để truyền ma tuý vào người khác. Nên P, N, Th, Nh không đồng phạm về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015".

Về những điểm đồng tình: Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả ở hai điểm. Thứ nhất, cách tiếp cận tình huống thực tiễn lấy vụ án cụ thể làm xuất phát điểm phân tích là phương pháp nghiên cứu đúng đắn và gần gũi với yêu cầu nghiệp vụ. Thứ hai, tác giả hoàn toàn đúng khi chỉ ra khoảng trống pháp lý hiện nay: Thông tư liên tịch số 17/2007 đã hết hiệu lực mà chưa có văn bản thay thế, dẫn đến cách áp dụng không thống nhất giữa các địa phương.

2. Những điểm chưa đồng tình và cần trao đổi thêm

2.1. Lập luận dựa trên Thông tư liên tịch 17/2007 đã không còn hiệu lực

Điểm mà tôi muốn trao đổi trước tiên là nền tảng pháp lý của kết luận. Bài viết ban đầu dựa vào tinh thần của Thông tư liên tịch số 17/2007 để xác định các điều kiện đồng phạm. Tuy nhiên, chính bài viết cũng thừa nhận: "Bộ luật Hình sự năm 1999 và Thông tư liên tịch số 17 hiện nay đã hết hiệu lực". Điều này đặt ra vấn đề về tính nhất quán trong lập luận: nếu Thông tư 17 đã hết hiệu lực, thì danh sách hành vi đồng phạm liệt kê trong đó, bao gồm cả yêu cầu “theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác” cũng không thể là căn cứ pháp lý bắt buộc để loại trừ trách nhiệm hình sự.

Việc vận dụng tinh thần của văn bản đã hết hiệu lực có thể chấp nhận được như một tài liệu tham khảo khi chưa có văn bản mới thay thế, nhưng không thể dùng nó như căn cứ duy nhất để đưa ra kết luận loại trừ trách nhiệm hình sự. Cơ sở pháp lý trực tiếp phải là Điều 17 BLHS năm 2015 về đồng phạm, văn bản đang có hiệu lực và không có điều khoản nào yêu cầu người giúp sức phải “nhận sự chỉ huy, phân công, điều hành”.

2.2. Người giúp sức không cần “nhận sự phân công, chỉ đạo”

Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Luật không đặt ra yêu cầu người giúp sức phải nhận sự phân công hay chỉ đạo từ người tổ chức. Yêu cầu duy nhất là: (1) có sự thống nhất ý chí trong đồng phạm và (2) hành vi tạo điều kiện đó có mối liên hệ nhân quả với tội phạm được thực hiện.

Bài viết ban đầu cho rằng P, N, Th, Nh “không nhận sự phân công chỉ đạo của ai”. Tuy nhiên, theo thực tế tình huống được mô tả, các đối tượng này đã: biết rõ tiền góp của mình sẽ dùng để mua ma túy cho cả nhóm; chủ động đồng ý và thực hiện việc góp tiền; và hành vi góp tiền đó đã trực tiếp tạo ra nguồn lực tài chính để T, M, S mua ma túy và chuẩn bị dụng cụ. Sự thống nhất ý chí ở đây không phải là mệnh lệnh từ trên xuống - mà là sự đồng thuận chủ động từ mỗi người. Cần phân biệt: “phân công chỉ đạo” là đặc điểm của “phạm tội có tổ chức” quy định tại khoản 2 Điều 17 BLHS, không phải là yêu cầu bắt buộc của hành vi “giúp sức” theo khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015.

2.3. Tiền đóng vai trò nhân quả thực tế - không phải chỉ “nhu cầu cá nhân”

Bài viết ban đầu có xu hướng xem hành vi góp tiền của P, N, Th, Nh thuần túy là việc chi trả cho nhu cầu sử dụng ma túy cá nhân, nên không cấu thành đồng phạm trong tội tổ chức. Tôi cho rằng cách nhìn này chưa phản ánh đầy đủ vai trò thực tế của hành vi góp tiền trong cơ chế thực hiện tội phạm.

Tiền là phương tiện vật chất tiên quyết để có được chất ma túy. Khi P, N, Th, Nh góp tiền vào quỹ chung, họ không chỉ chi trả cho “phần của mình”, mà họ đang tạo ra điều kiện để toàn bộ hoạt động tổ chức sử dụng ma túy của cả nhóm được thực hiện. Nếu không có khoản tiền đó, người tổ chức (T, M, S) có thể không đủ khả năng hoặc không mua được lượng ma túy đủ cho cả nhóm. Đây chính là mối quan hệ nhân quả trực tiếp mà Điều 17 BLHS yêu cầu để xác định hành vi giúp sức.

Thực tiễn xét xử cũng ủng hộ quan điểm này. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 45/2022/HS-GĐT ngày 30/8/2022 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Vũ Văn T, Vũ Lệnh T1, Vũ Quốc T2, cơ quan xét xử đã xác nhận: các đối tượng cùng nhau bàn bạc, thống nhất ý chí, cùng nhau góp tiền và phân công người đi mua ma túy, người chuẩn bị dụng cụ, tất cả đều cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đây là vụ án được đề xuất phát triển thành án lệ, khẳng định quan điểm “cùng nhau góp tiền, cùng nhau đi mua” là dạng hành vi tổ chức có tính liên kết chủ thể, không phải hành vi tiêu dùng cá nhân đơn thuần.

2.4. Sự phân công không nhất thiết phải rõ ràng, cụ thể

Bài viết ban đầu nhấn mạnh P, N, Th, Nh “không có nhận sự phân công chỉ đạo của ai”. Tôi muốn làm rõ thêm: trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, sự phân công vai trò không nhất thiết phải được thể hiện qua mệnh lệnh rõ ràng hay hệ thống cấp bậc chỉ đạo. Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của TANDTC đã xác định: Trường hợp các đối tượng rủ nhau góp tiền, chuẩn bị địa điểm để cùng sử dụng ma túy là đủ căn cứ truy cứu tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không yêu cầu phải có “người đứng đầu ra lệnh” theo nghĩa cứng nhắc.

Theo đó, trong tình huống của bài viết ban đầu, thực tế đã có sự phân công tự nhiên và ngầm hiểu: T, M, S đảm nhiệm việc mua ma túy và chuẩn bị dụng cụ; P, N, Th, Nh đảm nhiệm việc đóng góp tài chính. Đây là một cơ cấu phân công trên thực tế, dù không ai tuyên bố bằng lời. Tương tự như trong nhiều hình thức tổ chức khác, sự phân công không chính thức vẫn tạo ra cơ chế tội phạm hoàn chỉnh.

3. Phân hóa trách nhiệm, không áp dụng cơ học mọi trường hợp

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng việc trao đổi ý kiến không có nghĩa là ủng hộ việc quy kết đồng phạm một cách cơ học. Không phải mọi hành vi góp tiền đều cấu thành giúp sức, và đây là điểm cần phân hóa kỹ để tránh áp dụng oan sai.

Trường hợp thứ nhất, đủ điều kiện cấu thành đồng phạm giúp sức: Các đối tượng bàn bạc trước, thống nhất ý chí, cùng góp tiền để mua ma túy, trong khi có người được phân công (dù ngầm hiểu) mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, địa điểm. Đây chính là tình huống tại xã ĐH, tỉnh Q. Tôi cho rằng P, N, Th, Nh trong tình huống này đủ cơ sở để xem xét là đồng phạm giúp sức theo Điều 17 BLHS.

Trường hợp thứ hai, không đủ điều kiện: Hai người gặp nhau, một người có sẵn ma túy đề nghị người kia trả tiền mua phần của mình. Trong trường hợp này, không có kế hoạch tổ chức chung, không có sự phân công, người trả tiền về bản chất là tự mua ma túy cho mình, không giúp sức cho ai tổ chức cả. Cần phân biệt rõ tình huống này với tình huống thứ nhất.

Trường hợp thứ ba, vùng tranh luận: nhóm người tự phát góp tiền, không có sự bàn bạc rõ ràng từ trước, không có ai thực sự đóng vai “người tổ chức”. Đây là trường hợp khó, cần xem xét tổng thể các tình tiết khách quan: Ai là người khởi xướng, diễn biến thực tế của quá trình chuẩn bị, mức độ tham gia của từng người. Không thể đánh đồng với tình huống thứ nhất.

4. Kiến nghị hoàn thiện

Từ những phân tích và trao đổi trên, tôi đề xuất một số kiến nghị:

Thứ nhất, tôi đồng tình với đề xuất quan trọng nhất của tác giả Vũ Thị Lâm: Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 255 BLHS năm 2015 để lấp đầy khoảng trống pháp lý hiện nay. Nghị quyết này cần xác định rõ các điều kiện để hành vi góp tiền cấu thành đồng phạm giúp sức, phân biệt với trường hợp chỉ chi trả cho nhu cầu cá nhân.

Thứ hai, Nghị quyết cần làm rõ mối quan hệ giữa Điều 255 và Điều 17 BLHS năm 2015, cụ thể là: người giúp sức trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không nhất thiết phải nhận sự phân công từ người tổ chức - chỉ cần thống nhất ý chí và hành vi tạo điều kiện có mối liên hệ nhân quả với tội phạm được thực hiện.

Thứ ba, trong khi chờ Nghị quyết hướng dẫn, các cơ quan tiến hành tố tụng cần tổ chức họp liên ngành để thống nhất quan điểm. Việc không thống nhất dẫn đến cùng một hành vi nhưng bị xử lý khác nhau tùy địa phương là điều mà nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa không thể chấp nhận.

Kết luận

Bài viết của tác giả Vũ Thị Lâm đã đặt ra một câu hỏi pháp lý đúng và quan trọng từ thực tiễn xét xử. Tôi trân trọng tinh thần nghiên cứu của đồng nghiệp và đồng tình với nhiều điểm, đặc biệt là nhận định về khoảng trống pháp lý cần được lấp đầy bằng văn bản hướng dẫn có hiệu lực cao.

Tuy nhiên, tôi không đồng tình với kết luận rằng P, N, Th, Nh không đồng phạm trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Trong tình huống tại xã ĐH, tỉnh Q, với sự bàn bạc trước, góp tiền chủ động và mối liên hệ nhân quả trực tiếp giữa việc góp tiền với hoạt động tổ chức sử dụng ma túy, có đủ cơ sở pháp lý theo Điều 17 BLHS năm 2015 để xem xét P, N, Th, Nh là đồng phạm giúp sức. Việc yêu cầu phải có "sự phân công chỉ đạo" là điều kiện của "phạm tội có tổ chức" - không phải điều kiện của “giúp sức” theo khoản 3 Điều 17 BLHS.

Hy vọng những trao đổi này sẽ góp thêm một góc nhìn hữu ích vào diễn đàn học thuật, hướng tới mục tiêu áp dụng đúng và thống nhất Điều 255 BLHS năm 2015 trong công tác xét xử.

LÊ THIẾT HÙNG (Chánh án Tòa án nhân dân Khu vực 5 - tỉnh Quảng Trị)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

2. Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999.

3. Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử.

4. Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.

5. Quyết định giám đốc thẩm số 45/2022/HS-GĐT ngày 30/8/2022 về vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Vũ Văn T, Vũ Lệnh T1, Vũ Quốc T2 - vụ án có tình tiết các bị cáo cùng nhau bàn bạc, thống nhất ý chí, góp tiền và phân công mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để cùng sử dụng trái phép chất ma túy (được đề xuất phát triển thành án lệ).

6. Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

TAND khu vực 7 - Cần Thơ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - Ảnh: Hà Giang/BCL.