Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q như thế nào?
Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q hiện đang có 02 quan điểm khác nhau.
Đầu năm 1994, Nguyễn Thị Q (sinh năm 1964; trú tại thị trấn A, huyện BS, tỉnh QN) có tổ chức một số dây hụi với một số người, trong đó có Nguyễn Thị Mai Ng (sinh 1964; trú tại xã BT, huyện BS, tỉnh QN). Quá trình chơi hụi đến khoảng tháng 12/1994, do Nguyễn Thị Q vay nợ nhiều, dẫn đến không có khả năng chi trả, nên đã đưa ra thông tin gian dối với bà Nguyễn Thị Mai Ng về việc cần tiền mua đất, sau khi mua được, sẽ bán lại cho bà Ng một lô đất có vị trí đẹp. Vì tin tưởng Q nói thật, nên bà Ng đã chuyển cho Q vay số tiền 15.300.000 đồng. Để bà Ng tin tưởng, Q đã đưa cho bà Ng 01 Giấy đăng ký xe máy hiệu Honda Cup 78, biển kiểm soát 76-xxxLX và hứa “nếu không trả tiền thì giao luôn chiếc xe”. Sau đó, Q mượn lại Giấy đăng ký xe máy, rồi bỏ trốn khỏi địa phương, chiếm đoạt 15.300.000 đồng của bà Ng. Khi phát hiện mình bị lừa, bà Ng đến Công an thị trấn A, huyện BS, tỉnh QN tố giác Nguyễn Thị Q có hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Ngày 08/3/1995, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện BS ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Q về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Điều 157 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985. Cùng ngày, Công an huyện BS cũng ra Quyết định truy nã đối với Nguyễn Thị Q.
Ngày 24/6/1995, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 08 với lý do, bị can Q đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 14/10/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS đã bắt được Nguyễn Thị Q theo Quyết định truy nã trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện BS đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, Quyết định phục hồi điều tra đối với bị can Nguyễn Thị Q.
Ngày 20/12/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS có Bản kết luận điều tra số 07/CSĐT đề nghị truy tố bị can Nguyễn Thị Q về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 139 BLHS năm 1999. Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện BS ra Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, với lý do:
“… Tổng số tiền bị can chiếm đoạt là 15,3 triệu đồng. Tại Điều 157 BLHS năm 1985 không quy định về định lượng (số tiền chiếm đoạt cụ thể), mà chỉ quy định về tài sản có giá trị lớn.
Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 14/9/1989 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS,… hướng dẫn về các tình tiết “tài sản có số lượng lớn”, “tài sản có giá trị lớn” như sau: Khoảng 05 tấn gạo, 05 tấn xăng dầu,… được coi là số lượng tài sản có giá trị lớn hoặc số lượng lớn, khi giá trị gấp 03 lần các mức nêu trên thì được coi là giá trị hoặc có số lượng rất lớn, nghĩa là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
Do đó, đề nghị Cơ quan CSĐT cần phải thu thập tài liệu xác định thời điểm cuối năm 1994, giá 01 kg theo quy định của Nhà nước là bao nhiêu tiền để xác định khung hình phạt”.
Ngày 21/3/2018, VKSND huyện BS ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can với lý do là chờ kết quả thẩm định giá.
Ngày 12/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện BS có Công văn số 01/HĐĐG trả lời: “… về công tác giá năm 1994 thì đơn giá gạo tẻ thường tại thời điểm tháng 12/1994 có giá 2.500 đồng/kg”.
Ngày 10/10/2022, VKSND huyện BS ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, Quyết định phục hồi điều tra đối với bị can.
Ngày 10/11/2022, VKSND huyện BS ra Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung.
Ngày 10/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS ra Bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 16/KLĐT đề nghị truy tố Nguyễn Thị Q về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015.
Trong vụ án trên, việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với Nguyễn Thị Q có 02 quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, vụ án chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, phải tiếp tục điều tra, truy tố, xét xử đối với Nguyễn Thị Q theo quy định pháp luật. Bởi vì:
Căn cứ giải đáp 1 Mục I Công văn số 5442/VKSNDTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSND tối cao hướng dẫn giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015 và thi hành án hình sự đã hướng dẫn về thời hiệu truy cứu TNHS.
Theo hướng dẫn trên, thời gian cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) tạm đình chỉ điều tra vụ án, bị can để chờ kết luận giám định kéo dài 04 năm 06 tháng 19 ngày (tính từ ngày 21/3/2018 đến ngày 10/10/2022). Thời hạn này chưa quá 05 năm. Do đó, vẫn còn thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra vào năm 1994.
Quan điểm thứ hai cho rằng, đã hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q, với lý do như sau: Tính từ ngày bắt truy nã bị can (ngày 14/10/2017) đến nay đã hơn 05 năm, đã hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với bị can về tội “lừa đảo chiếm đọat tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 (tội phạm ít nghiêm trọng, thời hiệu là 05 năm). Do đó, phải đình chỉ điều tra vụ án, bị can theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 230 và khoản 5 Điều 157 BLTTHS năm 2015.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai khi cho rằng, đã hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q và vụ án cần phải được đình chỉ điều tra theo quy định pháp luật. Bởi vì:
Thứ nhất, căn cứ Điều 157 BLHS năm 1985 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khoản 2 Điều 8 BLHS năm 1985 quy định về phân loại tội phạm, Điều 45 BLHS năm 1985 quy định về thời hiệu truy cứu TNHS, đánh giá trở lại vụ án, trị giá tài sản đối tượng chiếm đoạt được quy đổi như sau: Nếu 1kg gạo có giá 2.500 đồng thì 15.300.000 đồng sẽ tương đương với 6.120 kg gạo (bằng 6,12 tấn gạo), lớn hơn 05 tấn gạo. Do đó, tài sản mà Nguyễn Thị Q thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc trường hợp “tài sản có giá trị lớn” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 157 BLHS năm 1985, có khung hình phạt từ 02 năm đến 10 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Do đó, thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội phạm nghiêm trọng là 15 năm.
Tuy nhiên, ngày 08/3/1995, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS, tỉnh QN đã ra Quyết định truy nã đối với Nguyễn Thị Q và đến ngày 14/10/2017 thì đã bắt được đối tượng Q, nên thời hiệu truy cứu TNHS được tính lại từ ngày 14/10/2017.
Thứ hai, vào thời điểm bắt giữ Nguyễn Thị Q, thì BLHS năm 1985 đã hết hiệu lực và hiện tại, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đang có hiệu lực (kể từ ngày 01/01/2018). Do đó, việc truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q sẽ theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội.
Hành vi của Nguyễn Thị Q thỏa mãn cấu thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015, vì số tiền chiếm đoạt là 15.300.000 đồng, khung hình phạt được áp dụng là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng (theo phân loại tội phạm quy định tại Điều 9 BLHS năm 2015) và có thời hiệu truy cứu TNHS là 05 năm (theo quy định về thời hiệu truy cứu TNHS tại Điều 27 BLHS năm 2015).
Như vậy, với hành vi của Nguyễn Thị Q được quy định trong BLHS năm 2015 có lợi hơn so với BLHS năm 1985. Do đó, Nguyễn Thị Q sẽ bị điều tra, truy tố, xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 và hưởng thời hiệu truy cứu TNHS là 05 năm (tính từ ngày 14/10/2017).
Thứ ba, vấn đề còn tranh luận, chưa thống nhất trong thực tiễn giữa các cơ quan THTT hiện nay là cách tính thời hiệu truy cứu TNHS như thế nào? Hiện nay, đang có 02 hướng nhận thức:
(i) Trong thời hạn truy cứu TNHS, các cơ quan THTT phải kết tội được người phạm tội theo quy định pháp luật. Tức là, người phạm tội phải bị Tòa án có thẩm quyền kết án, tuyên phạt bằng một bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn truy cứu TNHS, Tòa án chưa thể ra một bản án có hiệu lực pháp luật đối với người bị buộc tội, thì người bị buộc tội sẽ không bị truy cứu TNHS nữa (do hết thời hiệu).
(ii) Trong thời hạn truy cứu TNHS, các cơ quan THTT đã tiến hành các hoạt động điều tra để xác định được bị can, ra được Quyết định khởi tố bị can, thì thời gian tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử sau thời điểm “khởi tố bị can” sẽ không tính thời hiệu truy cứu TNHS. Khi các cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố bị can, thì có nghĩa rằng, người đó (bị can) chính thức bị truy cứu TNHS. Các cơ quan THTT phải tiến hành các biện pháp điều tra theo luật định để thu thập chứng cứ, tài liệu, từ đó có thể kết luận điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội, bảo đảm đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Cách hiểu này được thể hiện rõ tại Công văn số 5442/VKSNDTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSND tối cao.
Tác giả đồng tình với cách nhận thức thứ nhất (i), bởi vì:
- Bản chất việc quy định về thời hiệu truy cứu TNHS xuất phát từ 02 nguyên nhân chính sau: một là, thẩm quyền truy cứu TNHS thuộc về các cơ quan THTT hình sự, nhưng không phải thời gian truy cứu TNHS đối với một người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội là vô thời hạn, mà chỉ có thể truy cứu TNHS trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của các cơ quan THTT trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội. Pháp luật hình sự không yêu cầu bắt buộc người phạm tội sau khi thực hiện tội phạm phải ăn năn hối cải và trình diện, khai báo với cơ quan chức năng; nhưng nếu họ tự thú về hành vi phạm tội của mình khi chưa bị cơ quan chức năng phát giác thì sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS (điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015); hai là, việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội là nhằm trừng trị, răn đe và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải tất cả mọi hành vi phạm tội đều được các cơ quan pháp luật phát hiện, điều tra và xử lý kịp thời. Có trường hợp một người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không bị các cơ quan chức năng phát hiện kịp thời, không bị truy cứu TNHS ngay và sau một thời gian dài mới bị phát hiện. Trong khoảng thời gian đó, người phạm tội không có bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào nữa, đã làm ăn lương thiện, tự giáo dục mình trở thành một công dân có ích cho xã hội, thì khi đó rõ ràng việc truy cứu TNHS là không cần thiết nữa. Đây cũng chính là nguyên nhân cốt lõi của việc quy định về thời hiệu truy cứu TNHS, thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của pháp luật hình sự, mong muốn một người đã chót lầm lỡ phạm tội, dù không bị các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý, truy cứu TNHS, nhưng đã biết “tự hối cải, tự ăn năn, tự giáo dục” chính mình trở thành công dân có ích, không tái phạm tội. Nếu người phạm tội bỏ trốn, bị cơ quan chức năng phát hiện và có quyết định truy nã bị can, thì yếu tố “tự hối cải, tự ăn năn, tự giáo dục chính mình” sẽ không đặt ra. Do đó, thời gian người phạm tội bỏ trốn, bị truy nã không được tính vào thời hiệu truy cứu TNHS. Nếu người phạm tội chưa bị phát hiện, chưa bị khởi tố bị can, nhưng sau khi phạm tội lại tiếp tục phạm thêm tội mới, thì yếu tố “tự hối cải, tự ăn năn, tự giáo dục chính mình” cũng không tồn tại và thời hiệu truy cứu TNHS sẽ được tính lại kể từ ngày thực hiện tội phạm mới. Tinh thần đó được thể hiện cụ thể tại khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015.
- Bên cạnh đó, Điều 27 BLHS năm 2015 quy định: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”; “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện”. Điều đó có nghĩa là, khi tội phạm được thực hiện trên thực tế, thì thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội phạm đó đã bắt đầu được tính. Trong thời hạn đó, các cơ quan THTT phải chứng minh, làm rõ được tội phạm và người phạm tội, phải ra được bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội. Nếu thời hạn truy cứu TNHS đã hết, mà vụ án vẫn trong giai đoạn điều tra, truy tố, hoặc đã chuyển sang Tòa án, nhưng chưa được đưa ra xét xử, thì mọi hoạt động truy cứu TNHS phải dừng lại.
Tinh thần này được thể hiện rõ nét trên một số phương diện sau:
+ Thời gian người phạm tội bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
+ Nếu sau khi khởi tố bị can, khoảng thời gian tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử không được tính vào thời hiệu truy cứu TNHS, thì việc quy định thời hiệu được tính lại kể từ ngày đối tượng ra đầu thú hoặc bị bắt truy nã là vô nghĩa. Giả sử, người phạm tội phạm tội ít nghiêm trọng, mức hình phạt cao nhất là 03 năm tù, nhưng vụ án lại có nhiều tình tiết phức tạp, nhiều quan điểm định tội, nên vụ án bị trả hồ sơ điều tra bổ sung, điều tra, xét xử lại nhiều lần, thời gian kéo dài hơn 03 năm. Khoảng thời gian chờ đợi các cơ quan THTT truy cứu TNHS còn dài hơn cả mức hình phạt cao nhất có thể áp dụng với người phạm tội. Do đó, việc không tính thời hiệu truy cứu TNHS trong thời gian tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là không phù hợp và không đạt được mục đích của hình phạt.
Với những phân tích, đánh giá trên, xác định thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q là 05 năm, tính từ ngày 14/10/2017 đến ngày 14/10/2022. Do đó, hiện nay đã hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q.
Bên cạnh đó, tác giả cũng thấy rằng, Công văn số 5442/VKSNDTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSND tối cao hướng dẫn về thời hiệu truy cứu TNHS là chưa thực sự phù hợp. Tác giả đưa ra một số đề xuất, kiến nghị sau:
Một là, cần phải ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ có tính chất liên ngành tư pháp về vấn đề xác định thời hiệu truy cứu TNHS để việc áp dụng pháp luật được thống nhất. Không nên ban hành văn bản theo tính chất đơn phương một cơ quan THTT, vì nó không có giá trị pháp lý hướng dẫn cho các cơ quan khác, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không có sự thống nhất.
Hai là, thời hiệu truy cứu TNHS chỉ có thể bị gián đoạn và phải tính lại từ đầu, nếu người phạm tội trong thời gian trốn truy nã hoặc họ lại tiếp tục phạm tội mới có mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt được áp dụng trên 01 năm tù. Khi người phạm tội bị khởi tố bị can đã thể hiện việc người đó bị truy cứu TNHS và thời gian tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cần phải được tính vào thời hiệu truy cứu TNHS.
Trên đây là quan điểm phân tích, đánh giá của tác giả về việc xác định thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q và một số ý kiến liên quan đến vấn đề này. Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm và trao đổi ý kiến từ bạn đọc.
TAND khu vực 5 - Quảng Ninh tổ chức phiên tòa xét xử vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Ảnh: Xuân Trường.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Xác định bị đơn trong vụ án dân sự về “tranh chấp quyền sử dụng đất”
-
Tòa án nhân dân tối cao phát động Đợt thi đua cao điểm “90 ngày giải quyết đơn, án”
-
Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kế hoạch xét nâng bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân năm 2026
-
Cần phải làm rõ vụ án có thuộc trường hợp áp dụng Án lệ số 04/2016/AL
-
Tòa án nhân dân tối cao phối hợp triển khai Nghị quyết 29/2026/QH16 về xử lý vi phạm đất đai
Bình luận