Chế định thỏa thuận nhận tội trong tố tụng hình sự Cộng hòa Italia và đề xuất đối với Việt Nam
Cộng hòa Italia quy định lần đầu tiên về chế định thỏa thuận nhận tội trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988. Theo đó, bị can có thể thỏa thuận với công tố viên về việc thừa nhận hành vi phạm tội của mình để đổi lấy một mức hình phạt nhẹ hơn. Chế định này không chỉ giúp giảm tải áp lực công việc cho hệ thống Tòa án, thúc đẩy hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử mà còn đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan. Bài viết phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa Italia về chủ thể, điều kiện áp dụng, thời điểm thực hiện và nội dung thương lượng trong thỏa thuận nhận tội, đồng thời làm rõ vai trò của Thẩm phán đối với quá trình và kết quả thương lượng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số đề xuất trong quá trình nghiên cứu xây dựng và áp dụng chế định thỏa thuận nhận tội trong tư pháp hình sự Việt Nam.
Đặt vấn đề
Tại Italia, thỏa thuận nhận tội là một thủ tục đặc biệt (Procedimenti speciali) trong pháp luật tố tụng hình sự, được áp dụng chính thức từ năm 1988.[1] Được bắt nguồn từ những quốc gia theo đuổi mô hình tranh tụng, nổi bật nhất là Hoa Kỳ, chế định này cho phép bên bị buộc tội thỏa thuận với bên buộc tội một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm pháp lý để đối lấy lợi ích nhất định về trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có đặc điểm pháp lý - xã hội khác nhau, do vậy, thỏa thuận nhận tội cũng được xây dựng và áp dụng khác nhau để phù hợp với bối cảnh của từng nước.[2] Tại Italia, cơ chế này được tiếp cận theo một hướng riêng phù hợp với mô hình tố tụng nước mình, gọi là “thủ tục áp dụng hình phạt theo yêu cầu của các bên” (applicazione della pena su richiesta delle parti hay patteggiamento).[3]
Mô hình tố tụng hình sự của Italia hiện tại có những điểm tương đồng với mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam, do cả hai quốc gia đều theo mô hình tố tụng pha trộn thiên về thẩm vấn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, chế định thỏa thuận nhận tội vẫn chưa được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự. Pháp luật Italia đã trải qua nhiều lần cải cách để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng chế định thỏa thuận nhận tội. Việc nghiên cứu cụ thể về nội dung này trong pháp luật tố tụng hình sự Italia cung cấp những giá trị tham khảo hữu ích, góp phần định hướng xây dựng và áp dụng chế định thỏa thuận nhận tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
1. Chế định thỏa thuận nhận tội trong tố tụng hình sự Cộng hòa Italia
Italia là một quốc gia có nhiều biến động trong lịch sử theo đuổi các mô hình tố tụng hình sự, gắn liền với sự công nhận của chế định thỏa thuận nhận tội. Đây là quốc gia theo mô hình tố tụng thẩm vấn đầu tiên xây dựng và áp dụng chế định thỏa thuận nhận tội. Ban đầu, Italia là một trong những quốc gia theo đuổi mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn. Vào những năm 80 của thế kỷ XIX, hệ thống tư pháp hình sự Italia liên tục bị Tòa án Nhân quyền Châu Âu lên án do lâm vào tình trạng trì trệ với chuỗi dài các vụ án bị trì hoãn nghiêm trọng làm ảnh hưởng lớn tới quyền lợi của bị cáo.[4] Trong các vụ việc đó, Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã xác định rằng Italia đã vi phạm khoản 1 Điều 6 Công ước Châu Âu về nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, theo đó, bất kỳ ai bị truy tố hình sự “đều có quyền được xét xử công bằng và công khai trong một thời hạn hợp lý bởi một Tòa án độc lập và vô tư, được thành lập theo luật định.” Hơn nữa, vào năm 1987, Uỷ ban Bộ trưởng của Hội đồng Châu Âu đã tuyên bố rằng tư pháp thương lượng là một cách thức khả thi nhằm đơn giản hóa hoạt động tố tụng hình sự và khuyến khích các quốc gia - trong phạm vi truyền thống pháp lý và hiến pháp cho phép - đưa vào hệ thống của mình cơ chế “thỏa thuận nhận tội”.[5] Vì vậy, Hiến pháp Italia và Bộ luật Tố tụng Hình sự của nước này đã được sửa đổi nhằm đáp ứng yêu cầu quốc tế và xây dựng một hệ thống xét xử minh bạch. Trên thực tế, ngay từ năm 1981, Luật số 689/1981 về “Sửa đổi hệ thống hình sự” đã quy định về cơ chế “áp dụng hình phạt thay thế theo yêu cầu của bị can” có phạm vi áp dụng giới hạn đối với các hình phạt thay thế[6] nhằm thay cho hình phạt tù có thời hạn[7] hoặc hình phạt tù ngắn hạn[8] theo Điều 53 Luật số 689 năm 1981, với điều kiện có sự chấp thuận của Công tố viên[9]; tuy nhiên, do cơ chế này có phạm vi áp dụng rất hạn chế nên trên thực tế cũng ít được áp dụng.[10] Đến năm 1988, Bộ luật Tố tụng Hình sự Italia đã chuyển đổi mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn sang mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, đồng thời, công nhận chế định “áp dụng hình phạt theo yêu cầu của các bên”. Vào thời điểm đó, cơ chế này được áp dụng đối với hình phạt thay thế, hình phạt tiền hoặc hình phạt tù nhưng chỉ giới hạn cho các tội mà có mức hình phạt tối đa không vượt quá 02 năm sau khi đã giảm ⅓ mức hình phạt.
Sau một thời gian áp dụng hệ thống mới, không ít vấn đề bất cập đã xảy ra.[11] Vì vậy, đến năm 1999, các nhà lập pháp Italia đã sửa đổi Điều 111 Hiến pháp, theo đó, chỉ chấp nhận những nguyên tắc cơ bản của tố tụng tranh tụng trong việc xét xử các vụ án hình sự. Điều này được thực hiện nhằm vừa khắc phục những thách thức trong việc vận hành mô hình tố tụng tranh tụng, đồng thời, vừa đảm bảo việc thực hiện được cơ chế thỏa thuận nhận tội. Sau đó, năm 2003, Bộ luật Tố tụng Hình sự Italia sửa đổi, trong đó, hoàn thiện việc mở rộng phạm vi áp dụng đối với các tội có mức hình phạt tối đa đến 05 năm sau khi đã áp dụng mức giảm ⅓ và được duy trì từ đó cho đến nay.
Cơ chế thỏa thuận nhận tội tại Italia, hay còn gọi là cơ chế “áp dụng hình phạt theo yêu cầu của các bên” cho phép Công tố viên và luật sư bào chữa hoặc bị can có thể thương lượng với nhau về mức hình phạt sẽ được áp dụng đối với bị can và yêu cầu Thẩm phán ra quyết định áp dụng mức hình phạt đó. Cơ chế này được quy định tại Mục II Chương Sáu - các thủ tục đặc biệt tại Bộ luật Tố tụng Hình sự Italia. Trong phạm vi của bài nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung tiếp cận cơ chế thỏa thuận nhận tội tại Italia dưới khía cạnh là một chế định, bao gồm các nội dung về chủ thể tham gia, điều kiện áp dụng, thời điểm thực hiện và vai trò Thẩm phán trong thỏa thuận nhận tội.
1.1. Chủ thể tham gia thỏa thuận nhận tội
Trong pháp luật tố tụng hình sự Italia, chủ thể tham gia thỏa thuận nhận tội bao gồm bị can và Công tố viên; trong đó, yêu cầu áp dụng thỏa thuận có thể do một trong hai bên chủ thể đề xuất hoặc cả hai bên chủ thể cùng đề xuất.
Thứ nhất, bị can được yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội có thể là pháp nhân hoặc cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên. Pháp luật tố tụng hình sự Italia không cho phép người chưa thành niên[12] được thỏa thuận nhận tội[13], lý do là chủ thể này đang trong quá trình phát triển, trong khi chế định thỏa thuận nhận tội lại đòi hỏi bị can phải có sự trưởng thành đầy đủ và có khả năng tự đưa ra lựa chọn.[14] Bị can có thể trực tiếp nộp yêu cầu lên Tòa án hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền.[15] Khi bị can đề nghị áp dụng thỏa thuận nhận tội, bị can phải chấp nhận hình phạt cho các tội danh bị truy tố và có thể thương lượng với Công tố viên về mức hình phạt cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Ngoài ra, bị can không bắt buộc đưa ra “lời nhận tội” chính thức; việc bị can nộp hoặc chấp nhận yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội đồng nghĩa chủ thể này đã nhận tội của mình[16]. Về cơ chế bảo đảm quyền kháng cáo, bị cáo chỉ có thể kháng cáo giám đốc thẩm lên Tòa án tối cao vì những lý do liên quan đến việc: (i) thể hiện ý chí của bị can; (ii) thiếu mối tương quan giữa yêu cầu và bản án; (iii) định tội danh sai với hành vi phạm tội; và (iv) tính bất hợp pháp của hình phạt hoặc biện pháp ngăn chặn.[17]
Thứ hai, Công tố viên có quyền chủ động yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội hoặc xem xét chấp thuận hay từ chối đề nghị thỏa thuận của bị can. Khoản 1 Điều 447 Bộ luật Tố tụng Hình sự Italia năm 1988 (C.P.P) quy định yêu cầu áp dụng có thể đượưa ra chung bởi cả hai bên (công tố viên và bị can) hoặc được đề nghị bởi một bên và có sự chấp thuận bằng văn bản cc đủa bên còn lại. Trường hợp bị can nộp yêu cầu nhưng công tố viên không chấp thuận, công tố viên phải nêu rõ lý do của sự từ chối đó.[18]Trong quá trình thỏa thuận, Công tố viên không được phép thương lượng về tội danh như giảm số lượng, thay đổi hoặc hủy bỏ truy tố tội danh[19] mà chỉ được thỏa thuận về hình phạt. Về quyền kháng nghị, Công tố viên chỉ được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án tuyên theo yêu cầu của các bên trong trường hợp đã đưa ra ý kiến phản đối có căn cứ; ngoài trường hợp này, Công tố viên không có quyền kháng nghị phúc thẩm.[20] Đồng thời, tương tự với bị can, Công tố viên có thể kháng nghị giám đốc thẩm lên Tòa án tối cao vì những lý do được quy định tại khoản 2-bis Điều 448 C.P.P.
Ngoài ra, trong chế định thỏa thuận nhận tội ở Italia, Thẩm phán và bị hại không phải là các chủ thể tham gia vào quá trình đàm phán. Đối với Thẩm phán, dù có trường hợp bị can có thể nộp trực tiếp yêu cầu lên Tòa án mà không cần sự chấp thuận của Công tố viên[21]; tuy nhiên, Thẩm phán cũng không có thẩm quyền can thiệp vào bất cứ nội dung nào của thỏa thuận mà chỉ ra quyết định công nhận hoặc bác bỏ yêu cầu đó. Đối với bị hại, pháp luật tố tụng hình sự Italia hoàn toàn không đề cập đến sự tham gia của bị hại. Do đó, chủ thể này không thể tác động đến nội dung của thỏa thuận hay bày tỏ sự phản đối về việc chấm dứt sớm quá trình tố tụng khi công tố viên và bị can đã đạt được thỏa thuận. Thậm chí, bị hại cũng không thể tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự vì Tòa án sẽ không giải quyết yêu cầu bồi thường của họ trong thủ tục thỏa thuận nhận tội.[22] Để đòi bồi thường, bị hại phải khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Một mặt, nhìn từ góc độ quyền con người, quy định này không trái với Công ước châu Âu về nhân quyền, miễn là bị hại vẫn có quyền khởi kiện dân sự tại Tòa Dân sự. Mặt khác, việc xem nhẹ vai trò của bị hại đã vấp phải nhiều sự phản đối trong giới học thuật bởi không đáp ứng yêu cầu của Chỉ thị 2012/29/EU về việc bảo đảm cho bị hại có khả năng tham gia tích cực vào tố tụng hình sự, bảo vệ lợi ích của họ và tác động đến kết quả vụ án.[23]
1.2. Điều kiện áp dụng thỏa thuận nhận tội
Thứ nhất, phải có ý kiến của cả bị can và Công tố viên về việc áp dụng thỏa thuận nhận tội. Theo khoản 1 Điều 447 C.P.P, yêu cầu áp dụng thỏa thuận có thể được nộp lên Tòa án bởi cả hai bên hoặc được nộp lên bởi một bên và sau đó Tòa án ấn định thời gian để bên còn lại chấp thuận hoặc phản đối, trong trường hợp này thỏa thuận hình thành khi bên còn lại có văn bản thể hiện sự chấp thuận.
Thứ hai, yêu cầu và sự đồng ý áp dụng thỏa thuận nhận tội phải đáp ứng hình thức luật định. Hình thức nộp yêu cầu phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng. Trường hợp nộp yêu cầu trong phiên điều trần, yêu cầu và sự đồng ý phải được trình bày bằng lời nói; trường hợp ngoài phiên điều trần, yêu cầu và sự đồng ý phải bằng văn bản.[24] Nếu bị can vắng mặt, bị can có thể thể hiện ý chí của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện theo uỷ quyền; trong trường hợp này, chữ ký của bị can phải được chứng thực bởi Công chứng viên, người có thẩm quyền khác hoặc Công tố viên.[25]
Thứ ba, vụ án phải không có căn cứ để tuyên trắng án. Theo đó, Thẩm phán phải tuyên bị can không có tội và đình chỉ vụ án ngay lập tức khi có một trong các căn cứ thuộc khoản 1 Điều 129 C.P.P, bao gồm 05 căn cứ sau: (i) Không có sự việc phạm tội; (ii) Tội phạm không do bị can thực hiện; (iii) Hành vi không cấu thành tội phạm; (iv) Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; và (v) Không đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự.
Thứ tư, yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội phải đề cập đến loại hình phạt cụ thể và mức hình phạt trong giới hạn pháp luật cho phép. Theo khoản 1 Điều 444 C.P.P, có 03 loại hình phạt mà các bên có thể thỏa thuận áp dụng là hình phạt thay thế, phạt tiền hoặc phạt tù. Đối với hình phạt tiền, mức phạt tiền được giảm tối đa ⅓. Đối với hình phạt tù, sau khi giảm tối đa ⅓ mức phạt tù không được vượt quá 5 năm tù hoặc 5 năm tù kèm theo hình phạt tiền. Đồng thời, trong trường hợp thỏa thuận về hình phạt tù, mức hình phạt có thể áp dụng không được thấp hơn giới hạn tối thiểu là 15 ngày theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Hình sự Italia năm 1930. Trường hợp sau khi giảm mức hình phạt mà dưới 15 ngày, thỏa thuận nhận tội đó bị coi là bất hợp pháp và sẽ bị Tòa án hủy bỏ.[26] Ngoài ra, bị can hoặc Công tố viên có quyền đặt điều kiện rằng yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội chỉ có hiệu lực nếu Thẩm phán chấp thuận án treo; trong trường hợp này, nếu Thẩm phán xét thấy không thể cho hưởng án treo thì bác bỏ toàn bộ yêu cầu đó.[27] Bên cạnh đó, trong cải cách Cartabia năm 2022, bị can hoặc Công tố viên có thể yêu cầu Tòa án không áp dụng các hình phạt bổ sung hoặc chỉ áp dụng trong một thời hạn nhất định; đồng thời, không ra lệnh tịch thu tài sản tùy ý hoặc chỉ tịch thu đối với tài sản cụ thể hoặc với mức giá trị xác định.[28]Tuy nhiên, đối với các tội phạm về chức vụ được quy định tại khoản 3-bis Điều 444 C.P.P, các bên chỉ có thể đặt điều kiện cho hiệu lực của thỏa thuận dựa trên việc miễn các hình phạt bổ sung tại Điều 317-bis Bộ luật Hình sự Italia năm 1930[29] hoặc mở rộng hiệu lực của án treo đối với các hình phạt bổ sung đó[30]; nhưng nếu Thẩm phán xét thấy không thể miễn hình phạt bổ sung hoặc không thể mở rộng án treo thì yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội sẽ bị bác bỏ.
Thứ năm, tội phạm được áp dụng phải nằm trong phạm vi luật định. Theo đó, không phải mọi loại tội phạm đều có thể được áp dụng thỏa thuận nhận tội. Pháp luật tố tụng hình sự Italia phân chia thành 2 loại thỏa thuận nhận tội là thỏa thuận nhận tội truyền thống (patteggiamento ordinario) và thỏa thuận nhận tội mở rộng (patteggiamento allargato). Trong đó:
- Thỏa thuận nhận tội truyền thống được áp dụng đối với mọi tội phạm mà mức hình phạt không vượt quá 03 năm. Các bên có thể thỏa thuận về phạt thay thế; phạt tiền; hoặc phạt tù mà mức hình phạt, sau khi giảm tối đa ⅓, không vượt quá 2 năm.
- Thỏa thuận nhận tội mở rộng được áp dụng đối với các tội phạm mà mức hình phạt đối với tội ấy không vượt quá 07 năm 6 tháng. Theo đó, các bên có thể thỏa thuận về việc áp dụng một hình phạt thay thế, phạt tiền, hoặc phạt tù mà mức hình phạt sau khi giảm tối đa ⅓, vượt quá 02 năm tù (hoặc 02 năm tù kèm theo hình phạt tiền) và dưới 05 năm tù (hoặc 05 năm tù kèm theo hình phạt tiền). Tuy nhiên, ở mức này, thỏa thuận nhận tội không áp dụng với một số loại tội phạm như tội phạm có tổ chức, khủng bố, mại dâm trẻ em, khiêu dâm trẻ em, hiếp dâm tập thể, buôn người, bắt cóc tống tiền[31]; hoặc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần, có tính chất chuyên nghiệp hoặc có khuynh hướng phạm tội.[32]
Ngoài ra, đối với các tội phạm về chức vụ được quy định tại khoản 1 Điều 444 C.P.P, khả năng được áp dụng thỏa thuận nhận tội còn phụ thuộc vào việc bị can hoàn trả toàn bộ lợi ích vật chất hoặc lợi nhuận có được từ hành vi phạm tội. Việc hoàn trả này phải do chính bị can thực hiện mà không thể thay thế bởi bên thứ ba không liên quan đến tội phạm. Trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả, yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội sẽ không được chấp nhận. Quy định này phản ánh xu hướng “tư pháp phục hồi” (restorative justice), đặc biệt đối với các tội phạm do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.[33]
1.3. Thời điểm thực hiện thỏa thuận nhận tội
Cơ chế thỏa thuận nhận tội tại Italia cho phép các bên nộp yêu cầu áp dụng thỏa thuận lên Tòa án tại một số giai đoạn của quá trình tố tụng:
Thứ nhất, yêu cầu áp dụng hình phạt có thể được các bên nộp cho Thẩm phán trong giai đoạn điều tra sơ bộ.[34] Cụ thể, trong trường hợp các bên nộp yêu cầu áp dụng hình phạt chung hoặc một bên nộp yêu cầu kèm theo sự đồng ý bằng văn bản của bên còn lại trong giai đoạn điều tra sơ bộ, Thẩm phán sẽ ấn định thời gian diễn ra phiên điều trần sơ bộ để công nhận hoặc bác bỏ yêu cầu đó. Trong trường hợp chỉ duy nhất một bên nộp yêu cầu áp dụng hình phạt, Thẩm phán sẽ ghi nhận thời hạn để bên còn lại bày tỏ sự đồng ý hoặc phản đối; đồng thời, yêu cầu bên nộp gửi yêu cầu và sự ghi nhận của thẩm phán cho bên còn lại. Trước khi hết thời hạn mà thẩm phán đã đặt ra, yêu cầu sẽ không được rút lại hoặc sửa đổi và nếu bên còn lại đồng ý, các bên tiếp tục thực hiện quy trình theo khoản 1 Điều 447 C.P.P.[35]
Thứ hai, các bên có thể nộp yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội trong phiên điều trần sơ bộ.[36]Tuy nhiên, yêu cầu này phải được nộp trước khi các bên trình bày kết luận của mình[37] hoặc cho đến khi kết thúc phiên điều trần tiếp theo được ấn định bằng quyết định yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án.[38]
Thứ ba, yêu cầu áp dụng hình phạt có thể được nộp trong trường hợp áp dụng 03 thủ tục đặc biệt khác là tuyên án trực tiếp (Giudizio direttissimo), tuyên án ngay lập tức (Giudizio Immediato) và thủ tục xét xử bằng lệnh phạt (Procedimento per decreto). Đối với trường hợp áp dụng thủ tục tuyên án trực tiếp, yêu cầu áp dụng hình phạt phải được nộp trước khi mở phiên tòa sơ thẩm.[39] Trong trường hợp áp dụng thủ tục tuyên án ngay lập tức, yêu cầu áp dụng hình phạt phải được nộp trong vòng 15 ngày kể từ khi có quyết định áp dụng thủ tục tuyên án ngay lập tức.[40] Đồng thời, trong cải cách Cartabia năm 2022, nếu Thẩm phán bác bỏ yêu cầu xét xử theo thủ tục tuyên án ngay lập tức thì ngay trong cùng phiên họp đó, bị can có thể yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội.[41] Đối với thủ tục xét xử bằng lệnh phạt, trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được lệnh phạt, nếu phản đối lệnh phạt đó, bị can có thể yêu cầu áp dụng thỏa thuận nhận tội vào cùng thời điểm nộp đơn phản đối.[42]
1.5. Vai trò của Thẩm phán trong thỏa thuận nhận tội
Theo pháp luật Italia, Thẩm phán sẽ không tham gia vào việc đàm phán giữa Công tố viên và bị can, cũng không có quyền tự đề xuất hay áp dụng một mức án phù hợp hơn dành cho bị can nếu thấy rằng hình phạt các bên đưa ra là chưa hợp lý; tuy nhiên, Thẩm phán có vai trò quyết định trong việc công nhận hoặc bác bỏ yêu cầu áp dụng hình phạt được các bên đưa ra. Để đưa ra phán quyết, Tòa án phải đánh giá toàn diện vụ án và xem xét đầy đủ các yếu tố được quy định tại khoản 2 Điều 444 C.P.P, bao gồm: (i) Xem xét toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xác định liệu có căn cứ để tuyên bị can vô tội theo Điều 129 C.P.P hay không; (ii) Đánh giá tính đúng đắn của thỏa thuận trong việc định tội danh và trong việc áp dụng, so sánh các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; và (iii) Đánh giá mức hình phạt các bên đề nghị có phù hợp hay không.[43]
Ngoài ra, Thẩm phán có thẩm quyền xác minh sự tự nguyện của bị can nếu xét thấy cần thiết.[44]Tuy nhiên, hoạt động này không mang tính bắt buộc; việc kiểm tra này chỉ được tiến hành khi thẩm phán thấy cần thiết. Nếu ý chí của bị can không được thể hiện một cách tự nguyện, thỏa thuận nhận tội có thể bị vô hiệu hoặc bác bỏ.
Việc quy định thẩm quyền của thẩm phán như trên nhằm bảo đảm nguyên tắc độc lập của thẩm phán theo khoản 2 Điều 101 Hiến pháp Italia năm 1947.[45] Trong cơ chế yêu cầu áp dụng hình phạt, việc pháp luật trao cho Thẩm phán quyền chủ động đánh giá và chỉ công nhận khi thấy mức hình phạt là phù hợp, thay vì bắt buộc tự động chấp nhận thỏa thuận của các bên, chính là cách để bảo vệ tính độc lập của thẩm phán, loại bỏ nguy cơ Thẩm phán chỉ đóng vai trò bị động trong việc đánh giá thỏa thuận nhận tội và bị chi phối bởi ý chí của Công tố viên hoặc bên bào chữa.
2. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam khi xây dựng chế định thỏa thuận nhận tội trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm lập pháp của Cộng hòa Italia
Tại Việt Nam, thỏa thuận nhận tội chưa được quy định chính thức trong các văn bản pháp luật hiện hành; tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam đã có cơ chế tương tự, phản ánh sự khoan hồng đối với người phạm tội có thái độ hợp tác hay tự nguyện khai báo.[46] Đồng thời, Điều 51 của Bộ luật Hình sự hiện hành cũng quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với người phạm tội. Tuy nhiên, cơ chế này không được coi là một sự “thỏa thuận” giữa người bị buộc tội và các cơ quan tiến hành tố tụng. Về bản chất, việc “thỏa thuận” phải xuất phát từ ý chí tự nguyện, vai trò bình đẳng của các bên chủ thể và các bên tham gia thỏa thuận đều đổi lấy cho nhau một lợi ích nhất định. Trong khi đó, các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Bộ luật hình sự như đầu thú, tự thú chỉ là một trong các căn cứ để Tòa án xem xét áp dụng chính sách khoan hồng. Người bị buộc tội không có quyền đề xuất một mức hình phạt giảm nhẹ và các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không có quyền cam kết một bản án có lợi cho người phạm tội. Hơn nữa, các cơ quan này vẫn phải tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật ngay cả khi người phạm tội có các hành vi được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, việc áp dụng đơn thuần chính sách khoan hồng vẫn chưa đủ để bảo đảm quá trình tố tụng được tiến hành một cách hiệu quả và tiết kiệm nguồn lực. Trong khi đó, năm 2025, các Tòa án đã thụ lý trên 95.000 vụ án hình sự với hơn 192.000 bị cáo.[47] Đồng thời, theo báo cáo của Bộ Công an, năm 2025, dù một số tội phạm về tham nhũng và chức vụ, về trật tự quản lý kinh tế có sự giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước; tuy nhiên, các loại tội phạm về lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, gây rối trật tự nơi công cộng, sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn tăng, điển hình là số vụ về buôn bán hàng giả tăng tới 47,17%.[48] Do đó, hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam đang phải đối mặt với áp lực quá tải ngày càng gia tăng, đòi hỏi phải có cơ chế xử lý vụ án hiệu quả hơn.
Việt Nam và Italia đều là hai quốc gia cùng theo đuổi mô hình tố tụng hình sự hỗn hợp thiên về thẩm vấn, với mục tiêu tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Song, ở Italia, chế định thỏa thuận nhận tội đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự với các giới hạn cụ thể về phạm vi áp dụng và điều kiện áp dụng nhằm tương thích với các đặc điểm của mô hình tố tụng nước mình. Vì vậy, với nét tương đồng về mô hình tố tụng và yêu cầu giải quyết gánh nặng tư pháp, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Italia về cơ chế yêu cầu áp dụng hình phạt, một số đề xuất có thể được đưa ra khi xây dựng và áp dụng chế định thỏa thuận nhận tội tại Việt Nam như sau:
Thứ nhất, về vị trí các quy định về thỏa thuận nhận tội trong Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Theo nhóm tác giả, các nhà lập pháp nên đặt các quy định về thỏa thuận nhận tội trong một chương riêng biệt thuộc “Phần thứ bảy - Các thủ tục đặc biệt” trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, cụ thể là đặt sau Chương XXXI về “Thủ tục rút gọn”. Do về bản chất, thỏa thuận nhận tội là một cơ chế đặc biệt nhằm thay thế cơ chế xét xử thông thường, với mục tiêu chính là rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết vụ án hình sự mà vẫn đảm bảo được tính hiệu quả của quá trình tố tụng.
Thứ hai, về phạm vi áp dụng thỏa thuận nhận tội.
Trước hết, đối với phạm vi nội dung được thương lượng, nhóm tác giả cho rằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nên giới hạn ở thỏa thuận về hình phạt mà không thỏa thuận về tội danh, tương tự pháp luật tố tụng hình sự Italia. Việc thỏa thuận về tội danh không những đi ngược lại mục tiêu kiểm soát tội phạm của tố tụng hình sự Việt Nam mà cả mục tiêu tìm kiếm “sự thật khách quan” của vụ án. Pháp luật Việt Nam đã cho phép giảm mức hình phạt dựa trên các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do đó, việc thỏa thuận về hình phạt có khả thi để áp dụng tại Việt Nam. Ngoài ra, tham khảo kinh nghiệm từ Italia, mức hình phạt được thỏa thuận phải phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội và mức độ lỗi của bị can; nếu không, thẩm phán phải bác bỏ thỏa thuận đó.
Đối với loại tội phạm và tội danh được áp dụng thỏa thuận nhận tội, chế định này có thể được thử nghiệm áp dụng với tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng trong các nhóm tội liên quan đến tài sản trong Bộ luật Hình sự. Việc giới hạn này xuất phát từ mục đích của thỏa thuận nhận tội là xử lý vụ án nhanh chóng mà không cần thông qua giai đoạn xét xử. Việc áp dụng chế định này đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể gây ra sự phản ứng lớn đối với công chúng cũng như làm suy yếu mục đích trừng trị của hình phạt. Đồng thời, trong giai đoạn thử nghiệm, nhóm tác giả cho rằng nên giới hạn áp dụng đối với các nhóm tội liên quan đến tài sản trong Bộ luật Hình sự, bởi các thiệt hại về tài sản là những thiệt hại có thể tính bằng tiền và có khả năng được khắc phục bằng việc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại. Qua đó, Nhà nước và bên bị hại có thể đạt được những kết quả thực chất và hiệu quả hơn so với việc kéo dài quá trình xét xử theo thủ tục thông thường.
Thứ ba, về chủ thể tham gia vào quá trình thỏa thuận nhận tội.
Các chủ thể tham gia vào quá trình thỏa thuận nhận tội bao gồm kiểm sát viên và bị can thông qua luật sư bào chữa. Trong đó, kiểm sát viên là chủ thể trực tiếp đề nghị mức hình phạt giảm nhẹ để thỏa thuận với bị can và luật sư bào chữa. Ngoài ra, về vai trò của luật sư bào chữa, theo pháp luật Italia, chủ thể này không bắt buộc tham gia vào quá trình thỏa thuận; tuy nhiên, theo quan điểm nhóm tác giả, luật sư phải tham gia thương lượng cùng với bị can để bảo đảm tối đa quyền lợi hợp pháp của bị can. Do bị can là đối tượng yếu thế trong quan hệ với nhà nước; đồng thời, các yếu tố như trình độ văn hoá thấp, áp lực tâm lý cao sẽ khiến họ rất dễ bị lợi dụng và có thể phải chịu sự ép buộc ngầm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, luật sư bào chữa sẽ là chủ thể có đủ kiến thức, kinh nghiệm để hỗ trợ và tư vấn pháp lý cho bị can, từ đó giúp bị can có căn cứ để xem xét chấp nhận với mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề xuất.
Thứ tư, về cơ chế bảo đảm quyền cho bị hại.
Bị hại là chủ thể trực tiếp chịu thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nên rất dễ phản ứng tiêu cực với thỏa thuận nhận tội. Nếu các quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không được xem xét và giải quyết một cách thỏa đáng, có khả năng họ sẽ kháng cáo khiến thời gian giải quyết vụ án kéo dài và làm giảm hiệu quả của thủ tục thỏa thuận nhận tội. Theo pháp luật Italia, bị hại không được tham gia vào quá trình đàm phán giữa công tố viên và bị can, không có quyền yêu cầu bồi thường trong thủ tục thỏa thuận nhận tội và phải khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự nếu muốn được bồi thường. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của bị hại khi áp dụng tại Việt Nam, nhóm tác giả đề xuất giải pháp theo hai hướng sau: (i) Kiểm sát viên cần phải lắng nghe ý kiến của bị hại trước khi thương lượng với bị can. Giải pháp này giúp bị hại có cơ hội cung cấp thông tin, phản đối hoặc đề xuất ý kiến; qua đó đảm bảo thỏa thuận không bị chi phối hoàn toàn bởi kiểm sát viên và bị can; và (ii) Kiểm sát viên chỉ có quyền đưa ra thỏa thuận nhận tội nếu bị can đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại. Quy định này không chỉ đảm bảo bị hại được bồi thường mà còn khuyến khích bị can chịu trách nhiệm với hậu quả của hành vi phạm tội của mình.
Thứ năm, về vai trò của Thẩm phán trong chế định thỏa thuận nhận tội.
Khi xây dựng chế định thỏa thuận nhận tội, các nhà lập pháp nên quy định rõ vai trò của thẩm phán trong chế định này. Theo đó, nhóm tác giả đồng tình rằng thẩm phán không được tham gia vào quá trình thương lượng giữa các bên và không có quyền sửa đổi nội dung thỏa thuận nhằm đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập của Tòa án[49]. Tuy nhiên, dù không tham gia vào quá trình thỏa thuận nhưng thẩm phán nên là chủ thể có thẩm quyền đưa ra phán quyết cuối cùng - công nhận hoặc bác bỏ thỏa thuận nhận tội của các bên. Tương tự với Cộng hòa Italia, mục tiêu của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án; do đó, để đưa ra phán quyết, thẩm phán cần phải kiểm tra tính hợp lệ của thỏa thuận nhận tội, dựa trên bốn yếu tố sau: (i) Xác minh các sự việc, tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và thu thập, bổ sung chứng cứ trong trường hợp cần thiết; (ii) Đánh giá tính đúng đắn trong việc định tội danh và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bên trong thỏa thuận; (iii) Đảm bảo mức hình phạt tương xứng với tội phạm; và (iv) Kiểm tra tính tự nguyện của bị can trong việc tham gia thỏa thuận. Theo pháp luật tố tụng hình sự Italia, việc xác minh tính tự nguyện của bị can không bắt buộc và thẩm phán chỉ cần thực hiện khi xét thấy cần thiết. Tuy nhiên, nhóm tác giả cho rằng, khi triển khai tại Việt Nam, cần quy định đây là nghĩa vụ bắt buộc của thẩm phán nhằm tránh việc bỏ lọt những trường hợp bị ép buộc, đe dọa hoặc nhận tội do áp lực từ cơ quan tố tụng, từ đó bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội và góp phần ngăn chặn nguy cơ kết án oan sai khi thực hiện thỏa thuận nhận tội.
Kết luận
Thỏa thuận nhận tội là một chế định tiến bộ nhằm thay cho thủ tục xét xử thông thường, giúp cơ quan điều tra và cơ quan xét xử tiết kiệm thời gian trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự tại Italia. Với những điểm tương đồng trong hệ thống pháp luật, việc nghiên cứu về thỏa thuận nhận tội trong pháp luật tố tụng hình sự Italia sẽ đưa ra những gợi mở để bước đầu xây dựng và áp dụng cơ chế thỏa thuận nhận tội tại Việt Nam.
[1] William T.Pizza and Mariangela Montagna (2004), The Battle to Establish an Adversarial Trial System in Italy, 25 Mich.J.Int‘L, p. 430, https://repository.law/_The_battle_to_establish_an_adversarial_trial_system_in_Italy, truy cập ngày 11/12/2025.
[2] Douglas D. Guidorizzi (1998), Should We Really “Ban” Plea Bargaining: The Core Concerns of Plea Bargaining Critics, 47 Emory L.J. 753,
https://www.degruyterbrill.com/document/Should_we_really_ban_plea_bargaining_the_core_concerns_of_plea_bargaining, truy cập ngày 07/12/2025.
[3] William T.Pizza and Mariangela Montagna (2004), tlđd, p. 438.
[4] Các ví dụ tại: Oliviero Mazza (2001), Osservatorio della corte europea dei diritti umani, 7 Diritto Penale E Processo 777; Giuseppe Federico (1989), The Crisis of the Justice System and the Referendum on the Judiciary, Italian Politics, Vol. 3 , p. 25, 26-27.
[5] Theo Khuyến nghị R(87)18 ngày 17 tháng 9 năm 1987 của Ủy ban Bộ trưởng Hội đồng Châu Âu về việc đơn giản hoá thủ tục tố tụng hình sự,
https://search.worldcat.org/simplification_of_criminal_justice_recommendation_no_r8718-1987, truy cập ngày 07/12/2025.
[6] Theo Điều 20-bis Bộ luật Hình sự Italia năm 1930 sửa đổi, bổ sung năm 2022: “Hình phạt thay thế hình phạt tù ngắn hạn hoặc tạm giam bao gồm (i) chế độ bán tự do; (ii) giám sát tại nhà; (iii) lao động phục vụ cộng đồng; và (iv) phạt tiền.”
[7] Điều 23 Bộ luật Hình sự Italia năm 1930 về Hình phạt tù quy định: “Hình phạt tù có thời hạn từ 15 ngày đến 24 năm.”
[8] Điều 25 Bộ luật Hình sự Italia năm 1930 về Hình phạt tù ngắn hạn quy định: “Hình phạt tù ngắn hạn từ 05 ngày đến 03 năm.”
[9] Điều 77 Luật số 689 ngày 24 tháng 11 năm 1981.
[10] Vinicius Gomes de Vasconcellos, Bruna Capparelli (2015), Il patteggiamento nel processo penale italiano come espressione della giustizia negoziale, Revista Eletrônica de Direito Processual - REDP, Volume 15.
https://www.researchgate/Il_patteggiamento_nel_processo_penale_italiano_come_espressione_della_giustizia_negoziale, truy cập ngày 04/12/2025.
[11] Hà Thanh (2014), Mô hình tố tụng hình sự và hệ thống tư pháp của Cộng hòa Italia, Trang thông tin điện tử tổng hợp Ban Nội chính Trung ương,
https://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201410/mo-hinh-to-tung-hinh-su-va-he-thong-tu-phap-cua-cong-hoa-italia-295818/, truy cập ngày 16/11/2025.
[12] Điều 198 Bộ luật Dân sự Italia năm 1942 quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi, bất kể giới tính là nam hay nữ.”
[13] Khoản 1 Điều 25 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với người chưa thành niên năm 1988,
https://www.altalex.com/documents/news/2014/06/18/codice-processo-penale-minorile-d-p-r-448-1988, truy cập ngày 02/12/2025.
[14] Guillermo Oliver Calderón (2023), A 35 años de la creación del patteggiamento italiano. Análisis dogmático de su configuración actual y juicio crítico, Revista Ius et Praxis, p. 191.
https:/www.scielo.cl/A_35_años_de_la_creación_del_patteggiamento_italiano_análisis_dogmático_de_su _configuración_actual_y_juicio_crítico, truy cập ngày 02/12/2025.
[15] Khoản 3 Điều 446 C.P.P.
[16] Ministero della Giustizia (2009), Patteggiamento, https://www.giustizia.it/Patteggiamento-2009, truy cập ngày 02/12/2025.
[17] Khoản 2-bis Điều 448 C.P.P.
[18] Khoản 6 Điều 447 C.P.P.
[19] Marco Fabri (2008), Criminal Procedure And Public Prosecution Reform In Italy: A Flash Back, International Journal For Court Administration,
https://iacajournal.org/Criminal_procedure_and_public_prosecution_reform_in_Italy_A_flash_back, truy cập ngày 07/12/2025.
[20] Khoản 2 Điều 448 C.P.P.
[21] Khoản 1 Điều 448 C.P.P.
[22] Khoản 2 Điều 444 C.P.P.
[23] Elizabeta Ivičević Karas, Ante Novokmet, Igor Martinović (2021), Judgment based on agreement of the parties in Croatian law: A critical analysis from the comparative legal perspective, Croatian Science Foundation,
https://www.researchgate.net/publication/351184836_Judgment_based_on_agreement_of_the_parties_in_Croatian_law_a_critical_analysis_from_the_comparative_legal_perspective, truy cập ngày 04/12/2025.
[24] Khoản 2 Điều 446 C.P.P.
[25] Khoản 3 Điều 446 C.P.P.
[26] Brocardi (2025), Spiegazione dell'art. 23 Codice Penale, https://www.brocardi.it/codice-penale/libro-primo/titolo-ii/capo-ii/art23.html, truy cập ngày 23/11/2025.
[27] Khoản 3 Điều 444 C.P.P.
[28] Khoản 2 Điều 444 C.P.P.
[29] Hình phạt bổ sung tại Điều 317-bis Bộ luật Hình sự Italia năm 1930 bao gồm: (i) cấm vĩnh viễn đảm nhiệm chức vụ công và (ii) cấm vĩnh viễn giao kết hợp đồng (trừ dịch vụ công) với cơ quan nhà nước.
[30] Các bên có thể đặt điều kiện áp dụng yêu cầu nếu được Tòa án chấp nhận: (i) miễn hình phạt bổ sung - tức là bị can phải chấp hành hình phạt chính nhưng không phải chấp hành hình phạt bổ sung; hoặc (ii) mở rộng hiệu lực của án treo đối với các hình phạt bổ sung đó - tức là bị can được hưởng án treo và trong thời gian thử thách, bị can được tạm đình chỉ chấp hành các hình phạt bổ sung đó.
[31] Khoản 1-bis Điều 444 C.P.P được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 134 năm 2003,
https://www.normattiva.it/uri-res/N2Ls?urn:nir:stato:legge:2003-06-12;134, truy cập ngày 23/11/2025.
[32] Khoản 4 Điều 99 C.P.P.
[33] Francesco Vergine (2019), Il patteggiamento: gli obblighi restitutori depotenziano le finalità deflattive, Processo penale e giustizia n. 2,
https://www.processopenaleegiustizia.it/Il_patteggiamento_gli_obblighi_restitutori_depotenziano_le_finalità_deflattive, truy cập ngày 03/12/2025.
[34] Khoản 1 Điều 447 C.P.P.
[35] Khoản 3 Điều 447 C.P.P.
[36] Khoản 1 Điều 446 C.P.P.
[37] Khoản 3 Điều 421 C.P.P.
[38] Khoản 3 Điều 422 C.P.P.
[39] Khoản 1 Điều 446 C.P.P.
[40] Khoản 1 Điều 446 và khoản 1 Điều 458 C.P.P.
[41] Khoản 2-bis Điều 458 C.P.P Italia sửa đổi, bổ sung bởi số 2, điểm b), khoản 1, Điều 27 Nghị định lập pháp số 150/2022.
[42] Khoản 1 và khoản 3 Điều 461 C.P.P.
[43] Khoản 2 Điều 444 C.P.P.
[44] Khoản 5 Điều 446 C.P.P quy định: “Nếu Tòa án xét thấy cần thiết phải xác minh tính tự nguyện của yêu cầu hoặc sự đồng ý của bị can, Tòa án ra quyết định triệu tập bị can.”
[45] Khoản 2 Điều 101 Hiến pháp Italia năm 1947 quy định: “Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật.”
[46] Theo điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Nguyên tắc xử lý: “...Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.”
[47] Huệ Linh (2025), Năm 2025, tỷ lệ thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng đạt gần 86%, https://anninhthudo.vn/nam-2025-ty-le-thu-hoi-tai-san-trong-cac-vu-an-tham-nhung-dat-gan-86.antd, truy cập ngày 31/12/2025.
[48] Nho Trung (2025), Năm 2025, tội phạm nguy hiểm giảm sâu, https://vov2.vov.vn/nam-2025-toi-pham-nguy-hiem-giam-sau, truy cập ngày 31/12/2025.
[49] Khoản 2 Điều 103 Hiến Pháp Việt Nam năm 2013.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cf. Frederica Iovene (2013), Plea Bargaining and Abbreviated Trial in Italy, Warwick Sch. of Law Res. Paper, no. 2013-11.
2. Douglas D. Guidorizzi (1998), Should We Really “Ban” Plea Bargaining: The Core Concerns of Plea Bargaining Critics, 47 Emory L.J. 753,
https://www.degruyterbrill.com/document/Should_we_really_ban_plea_bargaining_the_core_concerns_of_plea_bargaining, truy cập ngày 07/12/2025.
3. Elizabeta Ivičević Karas, Ante Novokmet, Igor Martinović (2021), Judgment based on agreement of the parties in Croatian law: A critical analysis from the comparative legal perspective, Croatian Science Foundation,
https://www.researchgate.net/publication/351184836_Judgment_based_on_agreement_of_the_parties_in_Croatian_law_a_critical_analysis_from_the_comparative_legal_perspective, truy cập ngày 04/12/2025.
4. Francesco Vergine (2019), Il patteggiamento: gli obblighi restitutori depotenziano le finalità deflattive, Processo penale e giustizia n. 2,
https://www.processopenaleegiustizia.it/Il_patteggiamento_gli_obblighi_restitutori_depotenziano_le_finalità_deflattive,truy cập ngày 03/12/2025.
5. Giuseppe Federico (1989), The Crisis of the Justice System and the Referendum on the Judiciary, Italian Politics, Vol. 3.
6. Guillermo Oliver Calderón (2023), A 35 años de la creación del patteggiamento italiano. Análisis dogmático de su configuración actual y juicio crítico, Revista Ius et Praxis,
https:/www.scielo.cl/A_35_años_de_la_creación_del_patteggiamento_italiano_análisis_dogmático_de_su _configuración_actual_y_juicio_crítico, truy cập ngày 02/12/2025.
7. Hà Thanh (2014), Mô hình tố tụng hình sự và hệ thống tư pháp của Cộng hòa Italia, Trang thông tin điện tử tổng hợp Ban Nội chính Trung ương,
https://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201410/mo-hinh-to-tung-hinh-su-va-he-thong-tu-phap-cua-cong-hoa-italia-295818/, truy cập ngày 16/11/2025.
8. Huệ Linh (2025), Năm 2025, tỷ lệ thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng đạt gần 86%,https://anninhthudo.vn/nam-2025-ty-le-thu-hoi-tai-san-trong-cac-vu-an-tham-nhung-dat-gan-86.antd, truy cập ngày 31/12/2025.
9. Marco Fabri (2008), Criminal Procedure And Public Prosecution Reform In Italy: A Flash Back, International Journal For Court Administration,
https://iacajournal.org/Criminal_procedure_and_public_prosecution_reform_in_Italy_A_flash_back, truy cập ngày 07/12/2025.
10. Ministero della Giustizia (2009), Patteggiamento,
https://www.giustizia.it/Patteggiamento-2009, truy cập ngày 02/12/2025.
11. Nho Trung (2025), Năm 2025, tội phạm nguy hiểm giảm sâu, https://vov2.vov.vn/nam-2025-toi-pham-nguy-hiem-giam-sau, truy cập ngày 31/12/2025.
12. Oliviero Mazza (2001), Osservatorio della corte europea dei diritti umani, 7 Diritto Penale E Processo 777.
13. Vinicius Gomes de Vasconcellos, Bruna Capparelli (2015), Il patteggiamento nel processo penale italiano come espressione della giustizia negoziale, Revista Eletrônica de Direito Processual - REDP, Volume 15,
https://www.researchgate/Il_patteggiamento_nel_processo_penale_italiano_come_espressione_della_giustizia_negoziale, truy cập ngày 04/12/2025.
14. William T.Pizza and Mariangela Montagna (2004), The Battle to Establish an Adversarial Trial System in Italy, 25 Mich.J.Int‘L,
https://repository.law/_The_battle_to_establish_an_adversarial_trial_system_in_Italy, truy cập ngày 11/12/2025.
Cung điện Công lý ở Rome , nơi đặt Tòa án Tối cao Cassation. Nguồn ảnh: Internet
Bài liên quan
-
Giá trị chứng minh của chứng cứ trong trường hợp bị cáo không nhận tội
-
Chế định phục hồi doanh nghiệp trong Luật Phục hồi, phá sản năm 2025: Bước chuyển đổi tư duy pháp lý và những thách thức thực thi
-
Thực thi chế định Thẩm phán của Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế để tạo sức hút cho độ tin cậy của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
-
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng hội đàm với Chánh án Tòa án tối cao Cộng hòa Azerbaijan
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Giá trị chứng minh của chứng cứ trong trường hợp bị cáo không nhận tội
-
Người lao động được nghỉ hưu sớm khi suy giảm khả năng lao động trong trường hợp nào?
-
Chế độ tiền thưởng gắn với kết quả hoàn thành nhiệm vụ
Chính sách ưu việt của Nhà nước quy định tại Nghị định 73/2024/NĐ-CP
Bình luận