Giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người liên quan vắng mặt tại nơi cư trú

THÁI CHÍ BÌNH (TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang) - Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 có nhiều quy định mới, trong đó có quy định liên quan đến việc Tòa án xem xét, xử lý đơn khởi kiện, giải quyết vụ án dân sự mà người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có mặt tại nơi cư trú. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này và các quy định pháp luật về cư trú tại các Tòa án trong thời gian qua còn chưa có sự thống nhất. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin nêu lên một số vướng mắc trong thực tiễn liên quan đến việc áp dụng quy định pháp luật giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi cư trú trong thời gian qua.

30 tháng 11 năm 2020 15:19 GMT+7    12 Bình luận

1.Việc xác định nơi cư trú của cá nhân trong trường hợp họ đăng ký thường trú hoặc tạm trú ở địa phương này nhưng lại đang sinh sống ở địa phương khác

Theo điểm e khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, Tòa án trả lại đơn khởi kiện (trong giai đoạn xử lý đơn khởi kiện) hoặc đình chỉ giải quyết vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) trong trường hợp người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán, trong đó, có yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, để xác định nơi cư trú của cá nhân phải dựa vào pháp luật cư trú. Tuy nhiên, hiện nay việc quy định về nơi cư trú của công dân tại các văn bản có sự khác nhau. Theo Điều 12 Luật Cư trú năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2013 (Luật Cư trú), nơi cư trú của công dân được quy định như sau:

1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.”

Trong khi đó, Điều 40 BLDS năm 2015 lại quy định:

1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.

Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

Với các quy định trên, trong trường hợp một cá nhân đăng ký thường trú hoặc tạm trú ở địa phương này nhưng lại đang sinh sống ở địa phương khác thì nơi nào là nơi cư trú của cá nhân đó chưa có sự thống nhất trên thực tiễn.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo Luật Cư trú, nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú này được xác định là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Trường hợp không xác định được nơi thường xuyên sinh sống, nơi thường trú hoặc nơi tạm trú thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống. Do đó, trong trường hợp này, nơi cư trú của cá nhân là nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú của cá nhân đó.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Quy định về nơi cư trú của cá nhân theo BLDS năm 2015 đã có sự thay đổi cơ bản so với Luật cư trú. Theo đó, nơi cư trú không còn dựa vào chỗ ở hợp pháp mà cá nhân thường xuyên sinh sống với 2 biểu hiện là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú, mà chỉ dựa vào nơi người đó thường xuyên sinh sống. Vì vậy, nơi nào mà cá nhân thường xuyên sinh sống là nơi cư trú của họ, bất kể họ có đăng ký thường trú hay đăng ký tạm trú  hay không.

Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.

2.Điều kiện để Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp họ vắng mặt tại nơi cư trú trước thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, nhưng người khởi kiện không biết địa chỉ mới của họ

Điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 quy định:

Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện.

Đồng thời, điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 quy định, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS mà Tòa án đã thụ lý, trong đó có trường hợp được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.

Với các quy định trên để thụ lý, giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp họ vắng mặt tại nơi cư trú trước thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, Tòa án phải làm rõ 2 điều kiện:

Một là, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan “không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được”.

Hai là, mục đích thay đổi nơi cư trú, trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là “che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện”.

Việc hiểu, áp dụng điều kiện thứ nhất không gặp khó khăn nhưng việc hiểu và thực hiện điều kiện thứ hai vẫn chưa có sự thống nhất trong thực tiễn.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015, “một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Cho nên, trong trường hợp một người có nghĩa vụ với người khác (thông qua hành vi pháp lý đơn phương hoặc giao dịch dân sự) mà bỏ đi nơi khác thì họ có nghĩa vụ thông báo nơi cư trú mới cho người có quyền. Chủ thể nào có nghĩa vụ với người khác mà bỏ địa phương, không thông báo địa chỉ mới thì xem như họ cố tình “che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện”. Trong trường hợp này, người khởi kiện có quyền lựa chọn nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo điểm a khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015 để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Quan điểm thứ hai cho rằng, khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015 không quy định trong mọi trường hợp một cá nhân bỏ địa phương đi phải báo cho người khác biết nơi cư trú mới mà chỉ ràng buộc trong trường hợp “gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ”. Trong khi đó, mỗi cá nhân tham gia rất nhiều quan hệ xã hội. Bản thân họ rất khó biết là trong quan hệ nào họ có nghĩa vụ với chủ thể khác.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015 quy định, khi thay đổi nơi cư trú, bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết nơi cư trú mới; còn điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 lại quy định bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú phải thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú. Cho nên, rất khó ràng buộc cá nhân khi thay đổi nơi cư trú phải thông báo theo các quy định này.

Với các phân tích trên đây, việc áp dụng quy định về nơi cư trú của cá nhân trong BLDS năm 2015 để giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi họ thay đổi nơi cư trú là chưa phù hợp.

Trong trường hợp này, Tòa án phải dựa vào các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và Tòa án thu thập được để đánh giá mục đích của việc thay đổi nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Khi chứng minh được việc người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú nhằm “trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện” thì Tòa án mới được được giải quyết vắng mặt họ.

Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.

3.Việc áp dụng thủ tục tống đạt văn bản tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Việc áp dụng các quy định về tống đạt văn bản tố tụng để giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên thực tiễn.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (sau đây được gọi chung là tống đạt văn bản tố tụng) tại Chương X BLTTDS năm 2015, việc tống đạt văn bản tố tụng thông thường được tiến hành lần lượt thông qua các bước tống đạt trực tiếp, tống đạt qua trung gian, niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thủ tục tống đạt trước đó mà không đạt kết quả sẽ tiến hành thủ tục tiếp theo. Đồng thời, các văn bản tố tụng cần được tống đạt cho đương sự đều phải tiến hành qua thủ tục này, không có sự loại trừ. Vì vậy, khi ban hành văn bản tố tụng mà pháp luật quy định phải tống đạt cho người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải tiến hành theo đúng trình tự tống đạt do BLTTDS năm 2015 quy định.

Quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm của tác giả, cho rằng, mặc dù BLTTDS năm 2015 quy định việc tống đạt văn bản tố tụng phải được tiến hành lần lượt thông qua các bước tống đạt trực tiếp, tống đạt qua trung gian, niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; thủ tục tống đạt trước đó mà không đạt kết quả sẽ tiến hành thủ tục tiếp theo. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này không nên cứng nhắc mà phải linh hoạt cho phù hợp với các quy định khác của BLTTDS năm 2015, trong đó có thời hạn chuẩn bị xét xử và tính chất của vụ án.

Theo đó, đối với các vụ án hôn nhân và gia đình mà chỉ có yêu cầu ly hôn, không có tranh chấp về tài sản hoặc các vụ án dân sự khác mà người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi phán quyết của Tòa án thì chỉ nên thực hiện thủ tục tống đạt đến bước niêm yết công khai mà không cần phải tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Đối với các trường hợp khác, Tòa án cần tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng chỉ cần thực hiện đối với quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa để xét xử vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mà không thực hiện đối với các văn bản tố tụng khác.

4.Về chi phí thực hiện thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng

Theo khoản 3 Điều 180 BLTTDS năm 2015, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Với việc thực hiện thủ tục này sẽ phải tốn nhiều chi phí cho 01 lần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với văn bản tố tụng. Tuy nhiên, do BLTTDS năm 2015 chưa quy định rõ nghĩa vụ chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau đối với chủ thể chịu nghĩa vụ này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, người khởi kiện phải chịu chi phí này. Bởi vì, việc thực hiện thủ tục này phục vụ cho việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Quan điểm thứ hai cho rằng, quy định về các chi phí tố tụng khác tại mục 2 Chương IX BLTTDS năm 2015 không quy định về loại chi phí này. Trong khi đó, theo các khoản 1, 2 Điều 180 BLTTDS năm 2015, việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện trong 03 trường hợp. Một là, khi pháp luật có quy định. Hai là, có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được tống đạt nhận được thông tin về văn bản cần được tống đạt. Ba là, có yêu cầu của các đương sự khác. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 180 BLTTDS năm 2015 còn quy định, đương sự chỉ phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng này khi họ có yêu cầu. Như vậy, khi Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thuộc trường hợp 1 và trường hợp 2 thì Tòa án phải bỏ ra chi phí thực hiện.

Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.

5.Nghĩa vụ cung cấp nơi cư trú của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng

Theo khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trong trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được đương sự khác đưa vào tham gia tố tụng thì đương sự có yêu cầu phải cung cấp nơi cư trú của chủ thể này theo quy định chung. Tuy nhiên, trong trường hợp không có đương sự nào yêu cầu đưa một người nào đó vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án thấy cần thiết phải đưa họ vào tham gia tố tụng thì nghĩa vụ cung cấp nơi cư trú của chủ thể này còn có nhiều cách hiểu khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, người có yêu cầu liên quan đến chủ thể này phải thực hiện cung cấp nơi cư trú. Đó có thể là nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Bởi vì, việc đưa một chủ thể nào đó vào tham gia tố tụng cũng nhằm mục đích giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo quyền lợi của những chủ thể có liên quan đến yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập.

Quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm của tác giả, cho rằng, Tòa án phải có trách nhiệm xác định nơi cư trú của chủ thể này. Bởi vì, Tòa án là cơ quan chủ động đưa chủ thể nào đó vào tham gia tố tụng nên không thể chuyển nghĩa vụ xác định nơi cư trú của chủ thể đó cho người có yêu cầu có liên quan đến chủ thể này. Hơn nữa, nếu buộc nghĩa vụ xác định nơi cư trú cho người có yêu cầu thì dễ dẫn đến trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự khi người có yêu cầu không cung cấp được nơi cư trú của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được đưa vào tham gia tố tụng.

Trên đây là những vướng mắc gặp phải khi áp dụng các quy định pháp luật giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi cư trú trên thực tiễn. Mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi của quý độc giả.

Bình luận (12)
  1. Tác giả đưa ra những ý kiến chủ quan mà không có cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận.

    Nguyễn Phú Quý 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

    Thì tác giả đã viết rõ "Trên đây là những VƯỚNG MẮC gặp phải khi áp dụng các quy định pháp luật" rồi mà!

    Hồ Bảo 15:19 30/11.2020 GMT+7

  2. Thì tác giả đã viết rõ "Trên đây là những VƯỚNG MẮC gặp phải khi áp dụng các quy định pháp luật" rồi mà!

    Hồ Bảo 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

  3. Không thấy đề cập đến chủ thể là nguyên đơn (bên khởi kiện). Theo tôi không bàn đến "việc này" là thiếu sót vì trong thực tế khi giải quyết lại vụ án (bản án bị hủy) có nhiều trường hợp nguyên đơn cố ý vắng mặt bằng nhiều cách, làm cho Tòa án gặp khó cho việc giải quyết lại vụ án.

    quý 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

    nguyên đơn mà triệu tập hợp lệ 2 lần ko đến thì đình hỉ giải quyết vụ án chứ khó gì cho Tòa đâu

    Nguyễn Thị Thương 15:19 30/11.2020 GMT+7

  4. Vấn đề này đúng là làm người ta bối rối. Trong vụ án dân sự thì quan trọng nhất là sự thỏa thuận của hai bên, vậy mà vì bị đơn vắng mặt tòa tự ý xác định bị đơn cố ý che dấu địa chỉ mới mà vẫn đưa ra giải quyết. Việc giải quyết mà không hề có ý kiến nào của bị đơn liệu có bảo đảm sự chính xác và công bằng không. Ví dụ như trong tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán chẳng hạn.

    Nguyen Duyen 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

  5. Trường hợp không biết địa chỉ của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để mời thì sao? Theo quy định có phải cần có người này thì Tòa mới xử.

    Tùng 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

  6. Luật đất đai sửa đổi có VinGroup, vậy ai đại diện dân oan

    NĐT nhỏ khu 65 lô CV châu Á ven sông Hàn Đà Nẵng 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

  7. Ho Thanh Tai says: Your comment is awaiting moderation. toi la chau noi hien nay tinh trang cua toi do 2 nguoi kia giua het giay to ve quyen loi cua toi tu hoi luc 2010 ba noi ruot toi mat 2 nguoi do quan ly den nay 2019 ko co lo cho em ut gi ca toi bi nguoi ke ho danh dap rat nhieu roi nen toi het chiu dung duoc nua vi loi ich ma gay ra tren than xac cua toi. so nha 372/22A Duong tinh lo 10 khu pho 14 phuong binh tri dong quan binh tan .. toi ten Ho Thanh Tai Sinh Ngay 20/8/1996 Tai So Nha Luon 2 nguoi con lai co ten la Ho Thanh Toan Sn 1993 va Ho Thanh Tan Sn 1994 Toi Buon Lam Vi 2 Nguoi Do Lam A2 A3 Song Voi dua e ut minh ke tu luc ma ba noi mat den bay gio 9 nam troi 2 nguoi do sung suong quen roi con e ngo lai e rat la buon e khoc hoai ko an ko ngu suot vi song te voi e qua e muon nho phap luat xu ly cho ra cong bang ve quyen loi cua e vi e la nguoi suot 9 nam qua phai chiu nhung viet thuong tren than the e vi dau don nhat vo cung so lien lac em la 0943928245 … 0904292154 em xin chan thanh cam on su giup do cua co chu bac a chi em gan xa A!!!!

    Ho Thanh Tai 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

  8. nguyên đơn mà triệu tập hợp lệ 2 lần ko đến thì đình hỉ giải quyết vụ án chứ khó gì cho Tòa đâu

    Nguyễn Thị Thương 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

  9. có một vướng mắc nữa xin ý kiến các bác: Nguyên đơn triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ nhất có mặt, bị đơn vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa. Lần thứ hai, nguyên đơn đã được tống đạt quyết định xét xử hợp lệ nhưng tại phiên tòa vắng mặt và họ không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong trường hợp này, Tòa án giải quyết như thế nào ạ? em thấy luật quy định không rõ - TTV

    Thành Long 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

    Thì hoãn chứ sao nữa bạn

    Hiệp 15:19 30/11.2020 GMT+7

  10. Thì hoãn chứ sao nữa bạn

    Hiệp 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

  11. Vấn đề vắng mặt bị đơn, người liên quan bạn đề cập đã được quy định tại Nghị quyết 04/2017/NQ- HĐTP, bạn tham khảo xem nhé

    Lê Hậu 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

  12. Tranh chap gianh quền nuôi con sau ly hôn.nhưng bị đơn đi xuất khẩu lao động nước ngoài.không thể biết địa chỉ cụ thể.trong khi vẫn liên lạc hằng ngày với người nhà.vẫn xài fb bình thường.vậy khởi kiện như thế nào.mất bao lâu.có làm đơn tìm người vắng mặt tại địa phương không vậy

    Lê thị kim toại 15:19 30/11.2020 GMT+7 Trả lời

Ðiền thông tin gửi bình luận

Tên hiển thị: *
Ðịa chỉ email: *

Nội dung (trên 20 ký tự): *

* Bình luận của bạn sẽ được ban quản trị phê duyệt trong thời gian sớm nhất

Hủy