Tòa án đã thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 49-NQ/TW và Chỉ thị số 33-CT/TW

Ngày 21/8 Đoàn công tác do ông Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương làm trưởng đoàn đã làm việc với Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao để khảo sát, đánh giá kết quả tổng kết Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư.

Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình và tập thể Ban cán sự đảng, lãnh đạo TANDTC, đại diện các đơn vị thuộc TANDTC tham dự buổi làm việc.

Báo cáo của Ban cán sự đảng TANDTC đã phản ánh khá đầy đủ, cụ thể về dặc điểm tình hình cũng như những kết quả đã đạt được, những khó khăn vướng mắc, phương hướng và kiến nghị đặt ra trong thời gian tới.

1.Kết quả thực hiện Nghị quyết 49

1.1.Về hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, dân sự và tố tụng tư pháp

Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 2013, TANDTC đã tích cực đóng góp ý kiến cho Ban soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến góp ý đối với dự thảo Hiến pháp mới trong toàn hệ thống TANDTC.

Triển khai thi hành Hiến pháp 2013, TANDTC đã chủ trì xây dựng, trình Quốc hội thông qua nhiều dự án luật quan trọng như: Luật tổ chức TAND năm 2014, Luật Phá sản 2015, Luật Tố tụng hành chính, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015…; đồng thời chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thiện và trình Quốc hội thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật thi hành án hình sự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) và nhiều dự án luật khác…

Trong 15 năm qua TANDTC đã chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và ban hành 14 Thông tư liên tịch; Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã xây dựng và ban hành 46 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Phá sản… Chánh án TANDTC đã ban hành 05 Thông tư hướng dẫn áp dụng một số quy định của các Bộ luật, luật này.

Ban lãnh đạo TANDTC và đại diện các đơn vị của TANDTC tham dự buổi làm việc – Ảnh: Vũ Dinh

Bên cạnh đó, TANDTC còn ban hành 05 tập giải đáp nghiệp vụ và hàng trăm công văn trao đổi nghiệp vụ với các Tòa án địa phương. Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết về quy trình lựa chọn, áp dụng và công bố án lệ. Đến nay, Chánh án TANDTC đã công bố 26 án lệ về hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính, lao động.

1.2. Hoàn thiện tổ chức, bộ máy của Tòa án nhân dân

Sau 05 năm thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 tổ chức bộ máy của TAND đã bộc lộ một số hạn chế, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về “Tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đang nghiên cứu, xây dựng Đề án “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, đề xuất Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban thường vụ Quốc hội cho phép thí điểm sát nhập 31 TAND cấp huyện tại 14 tỉnh. Theo lộ trình thực hiện, Đề án sẽ được trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư thông qua vào quý I năm 2020.

Hệ thống TAND đã thực hiện tốt công tác phối hợp với các cơ quan, ban ngành ở Trung ương, cấp ủy Đảng và Hội đồng nhân dân các địa phương, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng, triển khai các nhiệm vụ liên quan tới cải cách tư pháp.

Chánh án TANDTC đã ban hành Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 quy định về phòng xử án; Thông tư số 02/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 về quy chế tổ chức phiên toà và Quyết định số 1738/QĐ-TANDTC ngày 23/11/2017 của Chánh án TANDTC về trang phục. Theo đó phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác, khi tham gia phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm phải mặc đúng trang phục xét xử. Tòa án nhân dân các cấp cũng đang từng bước hoàn thiện mô hình phòng xử án theo quy định của các Thông tư để phù hợp với tình hình mới.

1.3. Về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án nhân dân trong sạch vững mạnh

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ Toà án trong sạch, vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết được thực hiện theo hướng đảm bảo đủ cán bộ với nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Trong thời gian qua, Ban cán sự đảng TANDTC đã chỉ đạo xây dựng các đề án, kế hoạch cụ thể… Ngày 04/7/2018, Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia, Chánh án TANDTC đã ký ban hành Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán Việt Nam, trong đó quy định những chuẩn mực đạo đức và những quy tắc ứng xử của Thẩm phán. Ngoài ra, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đã nghiên cứu, xây dựng “Đề án thực trạng và giải pháp phòng, chống tiêu cực trong hoạt động tư pháp của Tòa án”, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Về đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo nguồn nhân lực cho Tòa án, ngày 30/7/2015, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập Học viện Tòa án nhằm từng bước kiện toàn nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao đội ngũ cán bộ của ngành có chất lượng cao, đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức đáp ứng được yêu cầu chung của phát triển của đất nước cũng như chiến lược cải cách tư pháp. Đến nay, Học viện Tòa án đã tuyển sinh 04 khóa đào tạo đại học với hơn 1100 sinh viên, các sinh viên tốt nghiệp Học viện Tòa án sẽ là nguồn nhân lực có chất lượng để bổ sung cho hệ thống Tòa án.

Về mở rộng nguồn để bổ nhiệm chức danh Thẩm phán, nguồn tuyển chọn Thẩm phán không chỉ từ đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tư pháp, mà còn mở rộng từ những người không công tác tại Tòa án nhưng giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức khác. Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp. Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức thí điểm thi tuyển chọn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp vụ với kết quả lựa chọn được 05 đồng chí, việc tổ chức thành công kỳ thi tuyển này đã tạo được một tiền đề mang tính đột phá trong công tác cán bộ, khuyến khích người có tài, có đức tham gia công tác quản lý, điều hành tại các đơn vị, Tòa án thông qua cơ chế thi tuyển cán bộ.

Công tác tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thực hiện chế độ, chính sách tiền lương đối với Tòa án, TANDTC đã thực hiện nhiều đổi mới căn bản việc quản lý công chức về nội dung tuyển dụng công chức, đó là việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế và thông qua thi tuyển theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh. Ngoài ra, công tác bổ nhiệm và công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức được các Tòa án thực hiện nghêm túc, công khai, minh bạch; chế độ, chính sách đối với Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án từng bước được cải thiện.

1.4. Về tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp

TANDTC đã chủ động xây dựng Đề án về công tác đối ngoại với phương hướng là tiếp tục mở rộng quan hệ với Tòa án các nước, trước hết là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, quan trọng và các nước trong khu vực; mở rộng việc tham gia các tổ chức quốc tế về pháp luật và tư pháp quốc tế; xây dựng cơ chế thực thi các nghĩa vụ quốc gia trong các thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia thuộc trách nhiệm của Tòa án nhân dân; tiếp tục thực hiện tốt các dự án hỗ trợ kỹ thuật, tích cực và chủ động kêu gọi và tranh thủ các nguồn tài trợ từ nước ngoài để nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án, phục vụ thiết thực hơn cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Việc tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế về tư pháp mà Việt Nam là thành viên, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong đào tạo cán bộ Tòa án có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế được Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao quan tâm chỉ đạo thực hiện. TANDTC đã tổ chức được nhiều khoá tập huấn, đào tạo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ở nước ngoài cho các công chức Toà án.

1.5. Về đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp

TANDTC đã phân bổ và hướng dẫn kịp thời việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng ngân sách trong hệ thống TAND. Nhìn chung, tình hình kinh phí đã từng bước được cải thiện, góp phần giúp Tòa án nhân dân tối cao giảm bớt những khó khăn về nguồn lực nhằm triển khai thực hiện các hoạt động thường xuyên tại các đơn vị dự toán trực thuộc.

Hệ thống TAND rất quan tâm tới việc tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện phục vụ công tác xét xử cho các Toà án như đổi mới, đầu tư trang bị công nghệ thông tin, đổi mới mô hình phòng xử án theo các quy định mới. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin đã đạt được một số thành tựu đáng kể như xây dựng, nâng cấp Cổng thông tin điện tử TANDTC và 66 Trang thông tin điện tử (trong đó có 03 Toà án nhân dân cấp cao và 63 TAND cấp tỉnh), triển khai thành công hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến trong toàn hệ thống TAND, xây dựng Trang điện tử Án lệ, Phần mềm công bố bản án… cung cấp các tiện ích để người dân, các cơ quan, tổ chức thuận lợi trong giải quyết công việc tại Tòa án.

1.6. Về hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác Tòa án

Ban cán sự đảng Tòa án các cấp thường xuyên báo cáo cấp uỷ về giải quyết đối với những vụ án lớn, nhạy cảm về chính trị. Việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các cơ quan Tòa án và các chức danh tư pháp tại các đơn vị Tòa án đều được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ theo đúng quy định của Đảng và Nhà nước, phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ đảng địa phương trong công tác quy hoạch, bố trí sắp xếp cán bộ và xử lý cán bộ vi phạm kỷ luật, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương và phù hợp với các điều kiện, tiêu chuẩn và quy định của ngành.

1.7. Về công tác thông tin tuyên truyền các nhiệm vụ cải cách tư pháp và công tác của Tòa án

Thành lập Ban chỉ đạo công tác thông tin tuyên truyền TAND nhằm tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng thông tin, phục vụ tốt mọi mặt hoạt động của Tòa án, xây dựng và phát sóng Chương trình Truyền hình Tòa án nhân dân trên kênh Truyền hình Quốc hội và xuất bản Tạp chí điện tử Tòa án nhân dân. Tạp chí Tòa án nhân dân, Báo Công lý, Cổng Thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao và các trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân địa phương luôn tuân thủ tôn chỉ, mục đích hoạt động của mình, kịp thời tuyên truyền về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

2. Kết quả thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Luật sư

2.1. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư

TANDTC đã tích cực tham gia vào việc xây dựng, góp ý đối với Luật Luật sư, chủ trì hoặc phối hợp xây dựng, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án liên quan đến hoạt động của luật sư.

Hầu hết TAND các cấp đã thành lập Tổ Hành chính – Tư pháp hướng dẫn thủ tục hành chính tư pháp, trong đó tiếp nhận các thông tin, yêu cầu liên quan đến thủ tục đăng ký người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, trợ giúp viên pháp lý… theo đúng quy trình và thời hạn tố tụng.

Tại phiên tòa, Luật sư có quyền bình đẳng với đại diện Viện kiểm sát, đại diện cơ quan điều tra trong việc đưa ra chứng cứ, lý lẽ, suy đoán làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thẩm phán đều tạo điều kiện cho các luật sư tranh tụng bình đẳng, công khai; không hạn chế thời gian của luật sư. Các phán quyết của Hội đồng xét xử căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng, trên cơ sở xem xét toàn diện, khách quan các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi xét xử, các trường hợp bản án, quyết định phải gửi cho người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều được gửi đúng quy định.

TAND các cấp đã thực hiện nghiêm túc Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC về phòng xử án; bố trí vị trí ngồi của đại diện Viện kiểm sát và của luật sư đối diện nhau, thể hiện sự bình đẳng giữa các bên, góp phần đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Tiếp tục thí điểm Đề án đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại 16 Tòa án nhân dân. Tại các Trung tâm hòa giải, đối thoại, có những hòa giải viên, đối thoại viên là Luật sư. Sau khi đi vào hoạt động, các Trung tâm hòa giải, đối thoại bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

2.2. Thực tiễn hoạt động tham gia tố tụng của luật sư tại Tòa án

Về số lượng Luật sư: Từ 01/4/2009 đến hết năm 2018, TAND các cấp đã giải quyết 254.219 vụ án có sự tham gia của Luật sư (đạt tỷ lệ 7,34%). Tỷ lệ vụ án có luật sư tham gia tố tụng có xu hướng tăng mạnh theo từng năm, đặc biệt là án hình sự. Tuy nhiên, tỷ lệ các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính có luật sư tham gia tố tụng còn thấp (4,8%) cho thấy mức độ nhận thức của người dân về vai trò của luật sư còn thấp; nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của cá nhân, tổ chức chưa cao.

Về chuyên môn, nghiệp vụ của Luật sư: Về cơ bản, các luật sư có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt, nắm vững quy định của pháp luật. Tuy nhiên, số lượng luật sư thông thạo ngoại ngữ, am hiểu pháp luật quốc tế, luật sư chuyên sâu các lĩnh vực đầu tư, sở hữu trí tuệ, tài chính ngân hàng, thương mại quốc tế… rất ít nên chất lượng bảo vệ tại các phiên tòa chưa đạt hiệu quả.

Về đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của Luật sư: Phần lớn các luật sư đã tuân thủ, chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của luật sư theo quy định của pháp luật; tôn trọng các quyết định của những người tiến hành tố tụng; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của Tòa án. Vẫn còn có một số luật sư còn có thái độ ứng xử nghề nghiệp chưa đúng mực ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ luật sư; thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự, có luật sư lợi dụng việc tham gia tố tụng tại phiên tòa vu khống, xúc phạm các cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Trong thời gian qua, Liên đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư đã chủ động, tích cực phối hợp với TAND các cấp trong quá trình tham gia tố tụng. Nhiều địa phương, Tòa án nhân dân đã ký kết Quy chế phối hợp với Sở Tư pháp và Đoàn luật sư về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng và đảm bảo cho luật sư thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng.

3. Những tồn tại, hạn chế

Nhận thức về ví trí, vai trò của Tòa án là “cơ quan xét xử”, “thực hiện quyền tư pháp” chưa thực sự sâu sắc, toàn diện và nhất quán dẫn đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động hệ thống Tòa án còn thiếu đồng bộ, không đảm bảo tính hệ thống.

Một số vấn đề lớn về lý luận còn ý kiến khác nhau nhưng chưa được quan tâm, nghiên cứu làm rõ và chưa được kết luận để thống nhất nhận thức, triển khai thực hiện. Hệ thống pháp luật về hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, tố tụng tư pháp và tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp chậm được hoàn thiện, thiếu đồng bộ. Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân còn nhiều bất cập và chậm được đổi mới, chưa tương xứng với chức năng nhiệm vụ là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Chất lượng công tác xét xử vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và người dân. Việc đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách, đầu tư cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho Tòa án nhân dân còn chậm và chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Tòa án còn thấp so với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Chế độ, chính sách đối với cán bộ Toà án chưa thực sự tương xứng với tính chất công việc của Tòa án, chưa giúp cho Toà án có cơ chế thu hút cán bộ có trình độ, năng lực vào công tác trong ngành. Hợp tác quốc tế về tư pháp còn nhiều hạn chế cả về chất lượng và hiệu quả.

Về hoạt động, hành nghề Luật sư, tỷ lệ luật sư tham gia tố tụng trên tổng số các vụ việc Tòa án đã giải quyết còn thấp (7,34%); mất cân đối giữa khu vực thành thị và khu vực miền núi, trung du, chất lượng luật sư chưa đồng đều, ý thức chấp hành pháp luật của một số luật sư chưa cao. Một số luật sư bào chữa chỉ định chưa thực hiện hết trách nhiệm của người bào chữa như: luật sư nhầm lịch xét xử, luật sư tham gia tố tụng với chất lượng chưa cao, chưa tích cực chủ động nghiên cứu hồ sơ.

VŨ HÙNG