Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn về vị trí việc làm công chức, viên chức, bản mô tả công việc, khung năng lực và cơ cấu ngạch công chức
Ban Tổ chức Trung ương vừa ban hành Hướng dẫn số 06-HD/BTCTW ngày 11/10/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về vị trí việc làm công chức, viên chức, bản mô tả công việc, khung năng lực và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Rà soát, cập nhật vị trí việc làm trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ
Hướng dẫn áp dụng đối với các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy, tổ chức đảng; cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã theo mô hình và thẩm quyền tương ứng. Các đơn vị sự nghiệp thuộc phạm vi áp dụng chủ động vận dụng những nội dung phù hợp về danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực; việc xác định bậc nghề nghiệp và tỷ lệ viên chức thực hiện theo quy định hiện hành.
Các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương; Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương căn cứ danh mục vị trí việc làm đã được Ban Tổ chức Trung ương ban hành và các quyết định phê duyệt, ban hành danh mục vị trí việc làm công chức, viên chức (gồm: danh mục, bản mô tả, khung năng lực vị trí việc làm) của cơ quan, đơn vị trong phạm vi quản lý để rà soát, cập nhật và hoàn thiện. Không xây dựng lại toàn bộ danh mục, không tự chia, gộp, đổi tên vị trí việc làm đã có; chỉ đề xuất điều chỉnh khi có thay đổi thực chất về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức hoặc yêu cầu công việc và đúng thẩm quyền.
Đối với bản mô tả công việc, mỗi vị trí việc làm được lập một bản mô tả gắn với quyết định danh mục đã ban hành, trong đó xác định mục tiêu, nhóm công việc thường xuyên, công việc đặc thù, sản phẩm, yêu cầu chất lượng, trách nhiệm, quyền hạn, quan hệ công tác, điều kiện thực hiện, tiêu chuẩn và khung năng lực. Một vị trí việc làm có thể bố trí nhiều công chức; không lập lại bản mô tả theo từng người.
Việc mô tả xuất phát từ nhiệm vụ được giao, sau đó xác định công việc và sản phẩm; phân biệt công việc chủ trì với phối hợp, sản phẩm cuối cùng với tài liệu trung gian. Đối với công việc nghiên cứu, tham mưu chiến lược, ghi rõ mức độ độc lập, nội dung chủ trì, trách nhiệm đối với căn cứ và phương án; không chỉ đếm số văn bản hoặc số đề án. Mỗi công việc phải xác định rõ căn cứ giao nhiệm vụ và thể hiện: sản phẩm phải hoàn thành, thành phần bắt buộc, tiêu chí chất lượng, thời hạn hoặc tần suất, cơ quan, đơn vị hoặc người tiếp nhận và tài liệu chứng minh kết quả. Tiêu chí phải thuộc trách nhiệm của vị trí; đối với nhiệm vụ phối hợp, xác định rõ phần việc và sản phẩm đóng góp.
Xác định khung năng lực theo yêu cầu thực tế của vị trí việc làm
Khung năng lực của vị trí việc làm công chức gồm ba nhóm: năng lực chung; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực lãnh đạo, quản lý đối với vị trí có chức trách lãnh đạo, quản lý. Những yêu cầu đặc thù về xây dựng Đảng, dân vận, công tác Mặt trận, kiểm tra, giám sát, bảo mật và chuyển đổi số được cụ thể hóa trong các nhóm năng lực phù hợp, không hình thành nhóm năng lực độc lập.
Cấp độ năng lực được xác định theo thang từ 1 đến 5, căn cứ vào mức độ độc lập, độ phức tạp, trách nhiệm chủ trì, phạm vi ảnh hưởng và yêu cầu kiểm soát chất lượng.
Cấp độ năng lực phải dựa trên yêu cầu của vị trí việc làm, không căn cứ duy nhất vào trình độ, thâm niên, ngạch hiện giữ hoặc năng lực thực tế của người đang đảm nhiệm. Mỗi năng lực có cấp độ riêng; không ấn định một cấp độ chung cho toàn bộ vị trí việc làm. Việc xác định cấp độ 4 hoặc 5 phải có căn cứ về nhiệm vụ, quyền hạn và sản phẩm tương ứng.
Khung năng lực được sử dụng để xác định tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm, phục vụ tuyển chọn, sắp xếp, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá mức độ đáp ứng của đội ngũ cán bộ. Đồng thời, không quy đổi cơ học cấp độ năng lực thành ngạch công chức hoặc bậc nghề nghiệp viên chức.
Quy định nguyên tắc xác định cơ cấu, tỷ lệ ngạch công chức
Cơ cấu ngạch công chức được xác định trên cơ sở tính chất nhiệm vụ, độ phức tạp, sản phẩm, quyền hạn và phạm vi ảnh hưởng trong tổng biên chế công chức được giao. Việc xây dựng cơ cấu ngạch phải thực hiện đồng thời với rà soát, hoàn thiện danh mục, bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm, trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Theo Hướng dẫn, ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương gắn với vị trí thường xuyên chủ trì tham mưu chiến lược, đề án quan trọng hoặc giải quyết vấn đề đặc biệt phức tạp, có phạm vi ảnh hưởng rộng. Ngạch chuyên viên chính và tương đương gắn với nhiệm vụ chủ trì tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra và xử lý công việc phức tạp. Ngạch chuyên viên và tương đương gắn với nhiệm vụ trực tiếp tham mưu, tổng hợp, thực hiện công việc.
Theo Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, khung tỷ lệ ngạch công chức được xác định theo từng nhóm cơ quan, đơn vị, cụ thể:
- Đối với vụ tham mưu chuyên sâu, chiến lược ở Trung ương: Tỷ lệ chuyên viên cao cấp và tương đương không quá 60%; chuyên viên chính và tương đương không quá 40%, bao gồm vị trí việc làm phó vụ trưởng chưa đủ điều kiện chuyên viên cao cấp; chuyên viên và tương đương chiếm phần còn lại (nếu có).
- Đối với vụ tham mưu tổng hợp, quản trị nội bộ ở Trung ương: Tỷ lệ chuyên viên cao cấp và tương đương không quá 40%; chuyên viên chính và tương đương không quá 50%, bao gồm vị trí việc làm phó vụ trưởng chưa đủ điều kiện chuyên viên cao cấp; chuyên viên và tương đương chiếm phần còn lại.
- Đối với cục, văn phòng và tương đương ở Trung ương: Tỷ lệ chuyên viên cao cấp và tương đương không quá 30%; chuyên viên chính và tương đương không quá 50%, bao gồm vị trí việc làm phó cục trưởng chưa đủ điều kiện chuyên viên cao cấp; chuyên viên và tương đương chiếm phần còn lại.
- Đối với cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp tỉnh: Các vị trí trưởng ban và phó trưởng ban đủ điều kiện chuyên viên cao cấp được xác định theo quy định tương ứng; tỷ lệ chuyên viên chính và tương đương không quá 60%, bao gồm vị trí việc làm phó trưởng ban chưa đủ điều kiện chuyên viên cao cấp; chuyên viên và tương đương chiếm phần còn lại.
- Đối với cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc đảng ủy cấp xã và đảng ủy cơ sở trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy: Không bố trí ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương; các vị trí trưởng ban và phó trưởng ban được xác định theo ngạch yêu cầu của vị trí việc làm; chuyên viên và tương đương chiếm phần còn lại.
- Đối với cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của đảng ủy trực thuộc Trung ương (trừ Quân đội, Công an) và đảng ủy cơ sở ở ban, bộ, ngành Trung ương thuộc phạm vi áp dụng do cấp có thẩm quyền quyết định: Tỷ lệ chuyên viên cao cấp và tương đương không quá 30%; chuyên viên chính và tương đương không quá 50%, bao gồm vị trí việc làm phó trưởng ban chưa đủ điều kiện chuyên viên cao cấp; chuyên viên và tương đương chiếm phần còn lại.
TOÀN VĂN HƯỚNG DẪN SỐ 06-HD/BTCTW NGÀY 11/10/2026
Bài liên quan
-
TANDTC tổ chức tập huấn, triển khai thí điểm Nền tảng đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Tòa án nhân dân
-
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao cho ý kiến đối với việc xây dựng Nền tảng phân giao nhiệm vụ và đánh giá, xếp loại công chức, viên chức
-
Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn số hóa, tạo lập dữ liệu đảng viên và hồ sơ đảng viên điện tử
-
Chính phủ quy định các trường hợp được xét tuyển, ưu tiên và tiếp nhận vào viên chức
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Diễn đàn Tư pháp ASEAN - Trung Quốc lần thứ tư: Tăng cường hợp tác, hướng tới nền tư pháp hiện đại
-
Thông cáo chung Diễn đàn Tư pháp ASEAN - Trung Quốc lần thứ tư thống nhất nhiều định hướng hợp tác tư pháp trong kỷ nguyên số
-
Cụm thi đua số IV - Tòa án nhân dân: Nâng cao chất lượng xét xử, phát huy hiệu quả phong trào thi đua
-
Doanh nhân Việt Nam: Vững bản lĩnh, trọng chữ tín, thượng tôn pháp luật và phát triển bền vững
-
Bộ Chính trị xác định không gian tầm thấp là tài nguyên quốc gia, động lực tăng trưởng mới
Bình luận