Biện pháp giáo dục của gia đình trong phòng ngừa hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm trên không gian mạng: Quy định pháp luật, thực tiễn thực hiện và giải pháp
Trong bối cảnh trẻ em ngày càng tham gia sâu vào môi trường số, gia đình giữ vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng và khả năng tự bảo vệ trước nguy cơ tiếp cận, dụ dỗ hoặc lợi dụng nhằm mục đích khiêu dâm. Bài viết làm rõ khái niệm biện pháp giáo dục của gia đình và phân tích quy định pháp luật Việt Nam theo hai nhóm nội dung: giáo dục kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ và hướng dẫn, quản lý và giám sát trẻ trên môi trường mạng. Trên cơ sở phân tích pháp luật, khảo sát trực tuyến 142 phụ huynh và đối chiếu với các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, bài viết chỉ ra một số hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các biện pháp giáo dục của gia đình.
1. Khái niệm biện pháp giáo dục của gia đình trong phòng ngừa hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm trên không gian mạng
Giáo dục có thể được hiểu theo nhiều phạm vi khác nhau, nhưng cơ bản đều hướng đến quá trình tác động có mục đích nhằm hình thành nhận thức, thái độ, hành vi và những năng lực cần thiết của cá nhân1. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật2. Trên cơ sở đó, giáo dục gia đình có thể được hiểu là những tác động có tính thường xuyên của các thành viên trong gia đình đối với quá trình hình thành và phát triển của trẻ. Nội dung của giáo dục gia đìnhbao gồm giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng và những kiến thức cần thiết để trẻ nhận biết, ứng xử trước các tình huống có nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn của mình[1].
Trong môi trường số, phạm vi giáo dục gia đình không chỉ dừng lại ở những nội dung truyền thống mà cần mở rộng sang việc trang bị kiến thức và kỹ năng giúp trẻ nhận diện các nguy cơ phát sinh trên không gian mạng. Đối với hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm, nguy cơ có thể bắt đầu từ việc tiếp cận, làm quen, dụ dỗ, thao túng tâm lý, đe dọa hoặc ép buộc trẻ cung cấp hình ảnh, video nhạy cảm; đồng thời, dữ liệu hoặc hình ảnh của trẻ cũng có thể bị lợi dụng để tạo lập và phát tán nội dung khiêu dâm. Vì vậy, giáo dục gia đình có ý nghĩa đặc biệt ở giai đoạn phòng ngừa, trước khi hành vi xâm hại thực tế xảy ra.
Từ cách tiếp cận trên, biện pháp giáo dục của gia đình trong phòng ngừa hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm trên không gian mạng được hiểu là những cách thức giáo dục, hướng dẫn và trao đổi do cha mẹ, người chăm sóc hoặc các thành viên gia đình có trách nhiệm đối với trẻ thực hiện nhằm trang bị cho trẻ kiến thức, kỹ năng và khả năng nhận diện, phòng tránh, ứng phó với các nguy cơ bị tiếp cận, dụ dỗ, thao túng, ép buộc hoặc lợi dụng để tạo lập, cung cấp và phát tán nội dung khiêu dâm trên không gian mạng.
2. Pháp luật và thực tiễn thực hiện biện pháp giáo dục của gia đình trong phòng ngừa hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm trên không gian mạng
2.1. Nội dung pháp luật về biện pháp giáo dục của gia đình và các vấn đề đặt ra
2.1.1. Giáo dục kiến thức và hướng dẫn kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định trực tiếp trách nhiệm giáo dục của gia đình, cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức; đồng thời trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con[2]. Cha và mẹ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, tạo điều kiện học tập và sống trong gia đình đầm ấm, hòa thuận[3]. Các quy định này xác lập trách nhiệm giáo dục của cha mẹ như một bộ phận của quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con, yêu cầu gia đình chủ động trang bị cho trẻ những kiến thức và kỹ năng cần thiết trong quá trình phát triển.
Trong bối cảnh các phương thức tiếp cận, dụ dỗ và khai thác trẻ trên môi trường mạng ngày càng đa dạng, hiệu quả của biện pháp giáo dục phụ thuộc đáng kể vào khả năng nhận diện nguy cơ và truyền đạt thông tin phù hợp cho trẻ của cha mẹ. Luật Trẻ em năm 2016 quy định cha mẹ, giáo viên và người chăm sóc trẻ có trách nhiệm giáo dục kiến thức, hướng dẫn cho trẻ kỹ năng tự bảo vệ khi tham gia môi trường mạng[4]. Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em tiếp tục cụ thể hóa trách nhiệm này khi quy định cha mẹ, giáo viên và người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm giáo dục kiến thức, hướng dẫn kỹ năng an toàn cho trẻ em khi tham gia môi trường mạng; đồng thời, trẻ em có bổn phận tìm hiểu, học kiến thức và rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ mình khi tham gia môi trường mạng[5]. Quy định này đã xác định gia đình không chỉ có trách nhiệm giáo dục trẻ nói chung mà còn phải giúp trẻ hình thành kiến thức và khả năng tự bảo vệ trước những nguy cơ phát sinh trong quá trình tham gia môi trường số[6].
Như vậy, pháp luật hiện hành đã hình thành một chuỗi quy định tương đối rõ ràng, từ nghĩa vụ giáo dục con nói chung đến trách nhiệm giáo dục kiến thức, hướng dẫn kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng an toàn trên môi trường mạng. Tuy nhiên, pháp luật chưa xác định được nhóm kiến thức, kỹ năng nào cần được ưu tiên đối với nguy cơ trẻ em bị sử dụng vào mục đích khiêu dâm trên môi trường mạng. Mặt khác, pháp luật đặt ra trách nhiệm giáo dục đối với cha mẹ, người chăm sóc, nhưng chưa có sự phân hóa rõ ràng về nội dung và cách thức giáo dục phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành hoặc giai đoạn phát triển của trẻ; đồng thời chưa thể hiện rõ cơ chế hỗ trợ để những chủ thể này có đủ kiến thức, kỹ năng nhằm thực hiện trách nhiệm được giao.
2.1.2. Hướng dẫn, quản lý và giám sát trẻ khi tham gia môi trường mạng
Bên cạnh việc trang bị kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ, pháp luật còn đặt ra trách nhiệm của gia đình trong việc hướng dẫn, quản lý hoạt động của trẻ trên môi trường mạng. Nghị định số 56/2017/NĐ-CP quy định cha mẹ và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện, hướng dẫn trẻ em tiếp cận nguồn thông tin an toàn, phù hợp với độ tuổi, giới tính và mức độ trưởng thành của trẻ[7]. Ngoài ra, khoản 2 Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2025 quy định tài khoản của trẻ em sử dụng dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng phải do cha, mẹ hoặc người giám hộ đăng ký bằng chính thông tin của họ, đồng thời có trách nhiệm giám sát, quản lý nội dung trẻ em truy cập, đăng tải và chia sẻ thông tin trên các nền tảng dịch vụ đó[8].
Tuy nhiên, trách nhiệm quản lý, giám sát của cha mẹ phải được thực hiện có giới hạn. Pháp luật đồng thời ghi nhận trẻ em có quyền tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động trên không gian mạng và được bảo vệ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư cùng các quyền khác theo quy định của pháp luật[9]. Như vậy, quy định hiện hành đã xác lập trách nhiệm của cha mẹ nhưng chưa cụ thể hóa mức độ giám sát cần thiết, cách thức xử lý mối quan hệ giữa yêu cầu bảo vệ trẻ và quyền riêng tư dẫn đến hai khuynh hướng trái ngược: (i) cha mẹ không biết giai đoạn nào cần can thiệp để kịp thời phòng ngừa các nguy cơ trực tuyến; (ii) việc quản lý quá mức có thể làm thu hẹp không gian riêng tư của trẻ và làm giảm hiệu quả của chính quá trình giáo dục, hướng dẫn. Vì vậy, cần xem xét làm rõ cách thức thực hiện trách nhiệm quản lý, giám sát phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và yêu cầu bảo vệ quyền của trẻ em.
2.2. Thực tiễn thực hiện biện pháp giáo dục của gia đình và những hạn chế
2.2.1. Giáo dục kiến thức và hướng dẫn kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ
Kết quả khảo sát cho thấy hoạt động giáo dục liên quan đến giới tính và bảo vệ cơ thể đã nhận được sự quan tâm tương đối lớn từ phía gia đình. Theo Biểu đồ 1, 85,2% phụ huynh cho biết thường xuyên giáo dục con về giới tính và các vùng nhạy cảm; 12,7% thỉnh thoảng đề cập; 1,4% hiếm khi; và 0,7% chưa từng thực hiện. Kết quả này cho thấy phần lớn phụ huynh trong mẫu khảo sát đã có sự quan tâm và chủ động nhất định đối với hoạt động giáo dục trẻ về các vấn đề liên quan đến giới tính và an toàn cơ thể.
Biểu đồ 1. Tần suất phụ huynh giáo dục trẻ về giới tính và vùng nhạy cảm
Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả, 2026
Tuy nhiên, các con số trên chỉ phản ánh tần suất trao đổi với trẻ về giới tính/vùng nhạy cảm, điều này không đồng nghĩa với việc trẻ đã được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng để nhận diện và ứng phó với các phương thức tiếp cận, dụ dỗ hoặc khai thác tình dục diễn ra trên không gian mạng. Vì vậy, cần đặt kết quả khảo sát của phụ huynh trong mối tương quan với các nghiên cứu trực tiếp về nhận thức và kỹ năng của trẻ.
Nghiên cứu thực nghiệm đối với 411 học sinh tại hai trường trung học cơ sở ở Hà Nội cho thấy học sinh đã có một số hiểu biết ban đầu về biểu hiện và nguy cơ xâm hại tình dục trên không gian mạng, nhưng nhìn chung vẫn còn lúng túng trong việc nhận diện các nguy cơ và thường dựa trên cảm nhận cá nhân hơn là hiểu biết đầy đủ[10]. 52,1% học sinh cho rằng việc gửi tin nhắn, trò chuyện qua mạng với người không quen biết không có nguy cơ hoặc chỉ có nguy cơ rất thấp bị xâm hại tình dục.
Một nghiên cứu khác trên 200 học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 tại hai trường trung học cơ sở ở Hà Nội cũng cho thấy những khoảng trống tương tự. Mặc dù phần lớn học sinh đã nhận diện được một số hành vi xâm hại tình dục qua mạng, vẫn có 25% học sinh không cho rằng việc rủ rê, dụ dỗ hoặc ép buộc trẻ gặp mặt ngoài đời sau khi trò chuyện trên mạng là hành vi xâm hại và 17% không biết; 17% không nhận diện việc dụ dỗ hoặc ép buộc trẻ chia sẻ hình ảnh nhạy cảm là hành vi xâm hại và 11% không biết[11]. Hơn một nửa số học sinh được khảo sát cho rằng tham gia trò chơi trực tuyến không có hoặc có nguy cơ thấp bị xâm hại tình dục qua mạng[12]. Khi đặt các kết quả này cạnh nhau, có thể đánh giá: việc cha mẹ có thực hiện hoạt động giáo dục chưa đồng nghĩa với việc kiến thức và kỹ năng phòng ngừa đã được chuyển hóa đầy đủ thành khả năng nhận diện và ứng phó của trẻ.
Đồng thời, nghiên cứu trên còn thể hiện khoảng trống ở kỹ năng ứng phó của trẻ, khi được đặt vào tình huống nhận hình ảnh khiêu dâm hoặc bị rủ rê thực hiện hành vi tương tự, 57,5% học sinh tìm đến sự hỗ trợ từ người thân trong gia đình, 49% tìm đến thầy cô và 41% tìm đến bạn bè. Tuy nhiên, 24% lựa chọn tự giải quyết, 25,5% không cần nói với ai vì sự việc không nghiêm trọng, 17,5% không chia sẻ vì xấu hổ và 14% không biết phải làm gì[13]. Những kết quả này cho thấy giáo dục phòng ngừa không chỉ cần dừng ở việc giúp trẻ “biết đâu là nguy hiểm”, mà còn phải hình thành những kỹ năng cụ thể như từ chối các yêu cầu không phù hợp, bảo vệ thông tin và hình ảnh cá nhân, chấm dứt các tương tác nguy hiểm và chủ động tìm kiếm sự trợ giúp.
Về phía phụ huynh, Biểu đồ 2 cho thấy quá trình thực hiện hoạt động giáo dục cũng gặp nhiều trở ngại. Có 62% phụ huynh lựa chọn đồng thời nhiều rào cản, bao gồm trẻ ngại chia sẻ do tuổi dậy thì và nhu cầu về đời sống riêng tư; cha mẹ e ngại trao đổi vì cho rằng trẻ còn nhỏ hoặc vấn đề quá nhạy cảm; thiếu kiến thức, kỹ năng giáo dục phù hợp; và thiếu thời gian do công việc, mưu sinh.
Biểu đồ 2. Các rào cản đối với việc thực hiện giáo dục phòng ngừa của gia đình
Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả, 2026
Như thế, tỷ lệ phụ huynh tự báo cáo thường xuyên giáo dục trẻ khá cao cho thấy nhiều gia đình đã có ý thức thực hiện trách nhiệm của mình. Vấn đề nằm ở năng lực và điều kiện thực hiện: cha mẹ có thể lúng túng trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với độ tuổi, gặp trở ngại về trao đổi vấn đề nhạy cảm và chuyển giáo dục giới tính thành kỹ năng phòng ngừa trên môi trường mạng.
2.2.2. Thực tiễn hướng dẫn, quản lý và giám sát trẻ khi tham gia môi trường mạng
Thực tiễn cho thấy cha mẹ và người chăm sóc cũng đã áp dụng các hình thức quản lý, giám sát đối với hoạt động trực tuyến của trẻ. Báo cáo Ngăn chặn hành vi gây tổn hại tại Việt Nam: Bằng chứng về bóc lột và xâm hại tình dục trẻ em qua mạng, thực hiện điều tra hộ gia đình với 994 trẻ em sử dụng Internet từ 12 đến 17 tuổi và người chăm sóc của các em tại Việt Nam[14]. Kết quả cho thấy 33% trẻ không được phép sử dụng mạng xã hội hoặc chỉ được sử dụng khi có sự cho phép và giám sát của người chăm sóc; tỷ lệ này là 32% đối với hoạt động nhắn tin, 36% đối với việc chia sẻ hình ảnh, video hoặc nhạc trực tuyến và 32% đối với việc xem video, clip[15].
Sự khác biệt nhận thức về rủi ro giữa người chăm sóc và trẻ em được thể hiện trong Báo cáo khi có 52% người chăm sóc cho rằng việc trò chuyện trên Internet với người chưa từng gặp ngoài đời là “rất rủi ro”, trong khi chỉ 33% trẻ em có cùng đánh giá. Đồng thời, 56% cho biết từng tìm kiếm bạn mới trên Internet và 33% sẵn sàng thêm người chưa từng gặp ngoài đời vào danh bạ liên lạc[16]. Đối với việc chia sẻ thông tin cá nhân, 76% người chăm sóc đánh giá việc gửi thông tin cá nhân cho người chưa từng gặp rất rủi ro, nhưng tỷ lệ này ở trẻ em chỉ là 57%; 8% trẻ cho rằng hành vi này hoàn toàn không rủi ro và 22% thừa nhận đã từng chia sẻ thông tin cá nhân với người chưa từng gặp trực tiếp[17]. Những kết quả này cho thấy, việc cha mẹ nhận biết một hành vi là nguy hiểm và áp dụng biện pháp hạn chế hoặc giám sát chưa chắc đã đủ để trẻ hiểu và chủ động tuân thủ khi không có sự hiện diện trực tiếp của người lớn.
Báo cáo cũng ghi nhận những trải nghiệm cho thấy giới hạn của biện pháp kiểm soát dựa chủ yếu vào việc cho phép hoặc hạn chế quyền truy cập. Trong số 994 trẻ tham gia khảo sát, 5% cho biết từng nhận được hình ảnh nhạy cảm ngoài mong muốn; trong số những trường hợp này, mạng xã hội, chủ yếu là Facebook và Zalo, là kênh phổ biến để hình ảnh được gửi đến[18]. Thực tế này cho thấy ngay cả khi cha mẹ áp dụng một số biện pháp giám sát, trẻ vẫn có thể tiếp xúc với những nội dung hoặc tương tác có nguy cơ gây hại trong quá trình sử dụng các nền tảng số.
Từ các kết quả trên có thể thấy một hạn chế đáng chú ý trong thực tiễn quản lý và giám sát trẻ trên môi trường mạng: biện pháp của gia đình có xu hướng tập trung vào kiểm soát việc tiếp cận và sử dụng, trong khi hiệu quả phòng ngừa còn phụ thuộc vào khả năng giúp trẻ hiểu nguyên nhân của sự kiểm soát và hình thành năng lực tự đánh giá rủi ro. Vì vậy, quản lý và giám sát không thể thay thế cho giáo dục, mà cần được kết hợp với các hoạt động giải thích, trao đổi và hướng dẫn phù hợp với độ tuổi của trẻ.
3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện biện pháp giáo dục của gia đình trong phòng ngừa hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm trên không gian mạng
3.1. Hoàn thiện pháp luật về biện pháp giáo dục của gia đình
Trên cơ sở những hạn chế đã được nhận diện, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 56/2017/NĐ-CP hoặc ban hành văn bản hướng dẫn phù hợp nhằm cụ thể hóa trách nhiệm giáo dục của gia đình trong phòng ngừa hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm trên không gian mạng. Nội dung hoàn thiện cần tập trung vào hai vấn đề: khung kiến thức, kỹ năng tối thiểu cần trang bị cho trẻ; và các nguyên tắc quản lý, giám sát phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và quyền riêng tư của trẻ.
Thứ nhất, cần xây dựng khung nội dung tối thiểu cho giáo dục phòng ngừa trên môi trường mạng. Pháp luật hiện hành cần xác định một khung nội dung tối thiểu mà trẻ cần được tiếp cận, bao gồm: nhận diện hành vi tiếp cận, dụ dỗ hoặc thao túng có mục đích tình dục; nhận biết yêu cầu cung cấp hình ảnh, video hoặc thông tin nhạy cảm; bảo vệ thông tin cá nhân; từ chối và chấm dứt tương tác có nguy cơ; lưu giữ bằng chứng cần thiết; và tìm kiếm sự hỗ trợ từ người lớn hoặc các cơ chế trợ giúp phù hợp. Khung này cần được phân hóa theo độ tuổi, mức độ trưởng thành và dạng nguy cơ mà trẻ có thể gặp phải, thay vì áp dụng đồng nhất cho mọi trẻ em.
Thứ hai, cần xác lập rõ hơn các nguyên tắc định hướng hoạt động quản lý, giám sát của gia đình đối với trẻ trên môi trường mạng. Pháp luật cần định hướng việc lựa chọn biện pháp quản lý dựa trên tính cần thiết, mức độ tương xứng và phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, cũng như các nguy cơ mà trẻ đang đối mặt. Mức độ can thiệp vì vậy có thể cao hơn đối với trẻ nhỏ hoặc khi xuất hiện dấu hiệu nguy cơ rõ ràng, nhưng phải giảm bớt khi trẻ có khả năng tự nhận thức và tự bảo vệ tốt hơn.
Hơn nữa, việc quản lý cần được đặt trong mối quan hệ với quyền về đời sống riêng tư của trẻ. Hướng hoàn thiện không phải là mở rộng quyền kiểm tra của cha mẹ, mà là xác định những nguyên tắc giúp cha mẹ lựa chọn biện pháp ít xâm nhập nhất nhưng vẫn đủ khả năng phòng ngừa rủi ro; đồng thời ưu tiên trao đổi, giải thích và tạo sự đồng thuận với trẻ khi điều kiện cho phép.
3.2. Nâng cao hiệu quả thực hiện biện pháp giáo dục của gia đình
Thứ nhất, nâng cao năng lực giáo dục và năng lực số của cha mẹ gắn với các công cụ hỗ trợ thực hành. Hoạt động bồi dưỡng cần tập trung vào những kỹ năng trực tiếp như nhận diện phương thức tiếp cận, dụ dỗ trên môi trường mạng; hướng dẫn trẻ bảo vệ thông tin, hình ảnh cá nhân; trao đổi về giới tính và nội dung nhạy cảm; lắng nghe và phản ứng phù hợp khi trẻ gặp nguy cơ. Các nội dung này nên được chuyển hóa thành các tài liệu ngắn, dễ sử dụng như bảng kiểm theo độ tuổi, tình huống mẫu, hướng dẫn nhận diện dấu hiệu nguy cơ và danh mục kênh trợ giúp. Cách tiếp cận theo tình huống giúp phụ huynh không chỉ nhận biết nguy cơ mà còn biết cách xử lý khi nguy cơ phát sinh.
Thứ hai, tăng cường kết nối giữa gia đình, nhà trường và các chủ thể hỗ trợ. Sự phối hợp cần được duy trì thường xuyên thay vì chỉ diễn ra khi xảy ra sự cố. Nhà trường có thể chủ động chia sẻ với phụ huynh những nội dung giáo dục về an toàn trực tuyến mà trẻ đang tiếp cận, đồng thời gia đình phản hồi những nguy cơ hoặc khó khăn phát sinh trong quá trình trẻ sử dụng Internet tại nhà. Quan trọng hơn việc gia tăng số lượng hoạt động là bảo đảm tính thống nhất và liên tục của thông điệp giáo dục giữa các môi trường. Đây cũng là hướng được các nghiên cứu về giáo dục phòng chống xâm hại tình dục đề cao thông qua việc xây dựng mạng lưới kết nối giữa học sinh, gia đình, nhà trường và các tổ chức bảo vệ trẻ em.
Thứ ba, chuyển trọng tâm từ việc kiểm soát sang việc hình thành năng lực tự bảo vệ cho trẻ. Quản lý thiết bị hoặc giới hạn hoạt động trực tuyến vẫn cần thiết ở những độ tuổi và tình huống nhất định, nhưng không thể thay thế cho quá trình giáo dục. Cha mẹ cần kết hợp quản lý với giải thích, trao đổi và hướng dẫn để trẻ hiểu nguyên nhân của các giới hạn, tự nhận diện nguy cơ, thiết lập giới hạn trong tương tác trực tuyến và biết tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết. Đồng thời, môi trường giao tiếp tin cậy trong gia đình là điều kiện để trẻ chủ động chia sẻ những trải nghiệm nhạy cảm hoặc đáng lo ngại thay vì che giấu vì sợ hãi.
Kết luận
Biện pháp giáo dục của gia đình là một bộ phận quan trọng trong cơ chế phòng ngừa hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm trên không gian mạng. Pháp luật Việt Nam đã hình thành nền tảng tương đối đầy đủ về trách nhiệm giáo dục, hướng dẫn, quản lý và phối hợp, nhưng vẫn cần được cụ thể hóa phù hợp hơn với những nguy cơ đặc thù của môi trường số. Thực tiễn cũng cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở nhận thức của cha mẹ mà còn ở năng lực, phương pháp và điều kiện để thực hiện. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật cần gắn với việc nâng cao năng lực của gia đình, tăng cường sự phối hợp giữa các môi trường giáo dục và hướng tới việc hình thành khả năng tự bảo vệ của trẻ, thay vì chỉ dựa vào sự kiểm soát của người lớn.
Tài liệu tham khảo
1. ECPAT, INTERPOL và UNICEF (2022), Ngăn chặn hành vi gây tổn hại tại Việt Nam: Bằng chứng về bóc lột và xâm hại tình dục trẻ em qua mạng, Quan hệ đối tác toàn cầu về chấm dứt bạo lực trẻ em.
2. Lê Xuân Đức (2023), Phát huy vai trò của gia đình trong giáo dục thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 354.
3. Nguyễn Thị Mai Hương, Nguyễn Thu Trang (2020), Nhận thức của học sinh về xâm hại tình dục trẻ em qua mạng và một số giải pháp phòng ngừa (nghiên cứu trường hợp tại một số trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội), HNUE Journal of Science, Social Sciences, Vol. 65, Issue 5, tr.187-196, DOI: 10.18173/2354-1067.2020-0041.
4. Nguyễn Văn Hộ, Hà Thị Đức (2002), Giáo dục học đại cương, Nxb. Giáo dục.
5. Phạm Thị Thanh Thúy, Đặng Quốc Lâm (2024), Nhận thức về biểu hiện và nguy cơ xâm hại tình dục trên không gian mạng của học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 306.
6. Trần Duyên (2021), Thực trạng pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, Bản tin FDVN Law Firm, số 36, tháng 02/2021.
7. Vũ Văn Cảnh, Nguyễn Đắc Đức (2025), Gia đình Việt Nam với chức năng giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước, Tạp chí Truyền thống và Phát triển, số 3.
1 Nguyễn Văn Hộ, Hà Thị Đức (2002), Giáo dục học đại cương, Nxb. Giáo dục.
2 Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[1] Lê Xuân Đức (2023), Phát huy vai trò của gia đình trong giáo dục thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí giáo dục lý luận, số 354, tr.63-64; Vũ Văn Cảnh, Nguyễn Đắc Đức (2025), Gia đình Việt Nam với chức năng giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước, Tạp chí Truyền thống và Phát triển, số 3, tr.86-87.
[2] Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Khoản 1 Điều 71; khoản 1 Điều 72 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Khoản 1 Điều 54 Luật Trẻ em năm 2016.
[5] Khoản 2 Điều 34 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em; xem thêm Nghị định số 147/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ y tế.
[6] Trần Duyên (2021), Thực trạng pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, Bản tin FDVN Law Firm, số 36, tháng 02/2021, tr.5.
[7] Khoản 5 Điều 56 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em; xem thêm Nghị định số 147/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ y tế.
[8] Khoản 2 Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2025.
[9] Khoản 1 Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2025.
[10] Phạm Thị Thanh Thúy, Đặng Quốc Lâm (2024), Nhận thức về biểu hiện và nguy cơ xâm hại tình dục trên không gian mạng của học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 306, tr. 365-367.
[11] Nguyễn Thị Mai Hương, Nguyễn Thu Trang (2020), Nhận thức của học sinh về xâm hại tình dục trẻ em qua mạng và một số giải pháp phòng ngừa (nghiên cứu trường hợp tại một số trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội), HNUE Journal of Science, Social Sciences, Vol. 65, Issue 5, tr. 187-196, DOI: 10.18173/2354-1067.2020-0041.
[12] Nguyễn Thị Mai Hương, Nguyễn Thu Trang (2020), tlđd, tr.191.
[13] Nguyễn Thị Mai Hương, Nguyễn Thu Trang (2020), tlđd, tr.192.
[14] ECPAT, INTERPOL và UNICEF (2022), Ngăn chặn hành vi gây tổn hại tại Việt Nam: Bằng chứng về bóc lột và xâm hại tình dục trẻ em qua mạng, Quan hệ đối tác toàn cầu về chấm dứt bạo lực trẻ em, tr.11.
[15] ECPAT, INTERPOL và UNICEF (2022), tlđd, tr.28.
[16] ECPAT, INTERPOL và UNICEF (2022), tlđd, Hình 7, tr.30.
[17] ECPAT, INTERPOL và UNICEF (2022), tlđd, Hình 8, tr.30.
[18] ECPAT, INTERPOL và UNICEF (2022), tlđd, tr.54.
Ảnh minh họa: Lào Cai tăng cường biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ em và vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 16 tuổi - Nguồn: TCĐT Thương hiệu và Công luận.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV
-
Tòa án nhân dân tối cao quy định điều kiện, cơ cấu ngạch Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án
-
TAND khu vực 2 - Hà Nội trao đổi kinh nghiệm xét xử tranh chấp sở hữu trí tuệ với Câu lạc bộ Luật sư Bằng sáng chế Nanko, Nhật Bản
-
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tòa án đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và chuyển đổi số
-
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho chủ trương đổi tên Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương
Bình luận