Chia phần vốn góp của vợ chồng sau ly hôn và hệ quả đối với tư cách thành viên công ty

Phần vốn góp của vợ chồng tại công ty trách nhiệm hữu hạn là loại tài sản chung có tính chất đặc thù: giá trị của nó gắn với một pháp nhân đang hoạt động, còn quyền của người sở hữu được thực hiện thông qua tư cách thành viên do pháp luật doanh nghiệp điều chỉnh. Bài viết phân biệt tài sản góp vốn, phần vốn góp và tài sản của công ty; tách việc xác định tài sản chung khỏi việc xác định tư cách thành viên; đánh giá các phương án chia phần vốn góp khi ly hôn, có tham chiếu pháp luật một số bang của Hoa Kỳ. Các tác giả cho rằng bản án nên xác định cụ thể người nhận phần vốn góp, tỷ lệ vốn và cơ chế thực hiện tại doanh nghiệp, thay vì chỉ giao cho mỗi bên một công ty.

Đặt vấn đề

Vợ chồng cùng góp vốn, cùng điều hành doanh nghiệp nhưng khi hôn nhân chấm dứt, Tòa án phải chia một loại tài sản mà giá trị gắn với một pháp nhân đang hoạt động, có người lao động, có chủ nợ và chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp. Trong trường hợp vợ chồng cùng là thành viên của nhiều công ty, một cách giải quyết có vẻ thuận tiện là giao cho mỗi bên một công ty và buộc bên nhận phần có giá trị lớn hơn thanh toán chênh lệch. Tuy nhiên, nếu bản án không xác định rõ ai là thành viên và nắm giữ tỷ lệ vốn bao nhiêu, công ty có thể rơi vào tình trạng chỉ còn một thành viên mà chưa có căn cứ để đăng ký thay đổi hoặc chuyển đổi loại hình, khiến bản án khó thi hành và ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thứ ba như người lao động, chủ nợ.

Các nghiên cứu về chia tài sản chung khi ly hôn thường tập trung vào việc xác định tài sản chung, công sức đóng góp và tỷ lệ chia. Với phần vốn góp, cần đặt thêm câu hỏi: ai là thành viên công ty sau khi bản án có hiệu lực. Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ đặt ra hậu quả giải thể khi công ty không có đủ số lượng thành viên tối thiểu trong 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Vấn đề nằm ở chỗ bản án có tạo đủ căn cứ để doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thi hành án dân sự thực hiện hay không.

1. Nhận diện tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn

1.1. Phân biệt tài sản góp vốn, phần vốn góp và tài sản của công ty

Ba đối tượng thường được gọi chung là “tài sản trong công ty” cần được tách bạch.

Thứ nhất, tài sản vợ chồng dùng để góp vốn, như tiền, quyền sử dụng đất hay máy móc. Trước khi được đưa vào công ty, đây thường là tài sản chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thứ hai, phần vốn góp, tức tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty[1]. Người góp vốn phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty, và việc góp vốn chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đã chuyển sang công ty[2]. Từ thời điểm đó, vợ chồng không còn sở hữu số tiền hay thửa đất đã góp; thứ họ nắm giữ là phần vốn góp, có thể được nhận diện là một quyền tài sản gắn với tư cách thành viên[3].

Thứ ba, tài sản của công ty. Pháp nhân có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; tài sản đó bao gồm cả vốn góp của thành viên[4]. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân, thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp[5]. Nhà xưởng, hàng hóa hay tài khoản đứng tên công ty là tài sản của công ty, không phải của thành viên.

Khi vợ chồng nắm toàn bộ vốn điều lệ nếu chia trực tiếp tài sản của công ty là định đoạt tài sản của một chủ thể khác và có thể làm suy giảm khối tài sản bảo đảm cho chủ nợ. Cách diễn đạt “giao công ty cho một bên quản lý” vì thế dễ dẫn đến nhầm lẫn về khách thể: công ty là chủ thể, còn tài sản chung có thể chia là phần vốn góp.

Tại Hoa Kỳ, pháp luật bang Texas quy định thành viên hoặc người nhận chuyển giao phần vốn góp (membership interest) không có quyền đối với tài sản cụ thể nào của công ty[6]; pháp luật của bang New York cũng quy định tương tự[7]. Khi ly hôn, đối tượng được chia vì thế là phần vốn góp, không phải tài sản của công ty.

1.2. Quan hệ giữa quyền đối với tài sản chung và tư cách thành viên công ty

Khi đối tượng đã được xác định là phần vốn góp, Tòa án cần trả lời hai câu hỏi thuộc hai lĩnh vực pháp luật khác nhau.

Câu hỏi thứ nhất, phần vốn góp có phải là tài sản chung hay không, do pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Phần vốn góp hình thành từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, dù đứng tên vợ hay chồng; nếu không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì được coi là tài sản chung[8]. Trường hợp vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc xác định trước hết căn cứ vào thỏa thuận đó[9].

Câu hỏi thứ hai, ai là thành viên và thực hiện quyền thành viên, do pháp luật doanh nghiệp điều chỉnh và được thể hiện qua danh sách thành viên, Điều lệ, giấy chứng nhận phần vốn góp và sổ đăng ký thành viên[10]. Phần vốn góp là tài sản chung không làm người không đứng tên trở thành thành viên; người đứng tên vẫn biểu quyết, dự họp Hội đồng thành viên dù giá trị phần vốn thuộc tài sản chung, phù hợp với khả năng vợ chồng thỏa thuận để một bên tự mình giao dịch với tài sản chung đưa vào kinh doanh[11].

Tách hai câu hỏi giúp tránh đồng nhất tỷ lệ vốn đứng tên với tỷ lệ được hưởng. Nếu toàn bộ phần vốn của hai vợ chồng hình thành từ tài sản chung thì khối tài sản cần chia là tổng các phần vốn đứng tên cả hai, chia theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh, công sức đóng góp, lợi ích chính đáng trong sản xuất, kinh doanh và lỗi của mỗi bên[12]. Người vợ đứng tên 30% vốn điều lệ vẫn có thể được hưởng một nửa tổng giá trị.

Tại Hoa kỳ, vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật của các Bang. Pháp luật của Bang Texas tách bạch hai câu hỏi này: phần vốn góp có thể là tài sản chung (community property), nhưng quyền tham gia quản lý công ty thì không[13]. Khi ly hôn, người phối ngẫu (là vợ hoặc chồng) chỉ là người nhận chuyển giao (assignee) phần vốn góp[14] và chỉ trở thành thành viên khi được tất cả thành viên chấp thuận[15]. Đạo luật mẫu về công ty Trách nhiệm hữu hạn (Revised Uniform Limited Liability Company Act (2006, sửa đổi năm 2013) viết tắt là RULLCA) cũng chỉ cho người nhận quyền tài sản có thể chuyển nhượng (transferable interest) hưởng các khoản phân phối, không có quyền quản lý[16]. Nhờ vậy, quyền lợi kinh tế của người phối ngẫu được bảo vệ mà các thành viên còn lại không phải chấp nhận một người đồng quản trị họ không lựa chọn. Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 chưa có quy định tương ứng: Điều 53 xử lý phần vốn góp khi thành viên chết, mất tích, tặng cho hoặc trả nợ, nhưng không đề cập việc chia theo bản án ly hôn[17].

Về chứng cứ, chứng từ nguồn tiền góp vốn cho biết tính chất chung hay riêng của phần vốn góp; giấy chứng nhận phần vốn góp, sổ đăng ký thành viên và hồ sơ đăng ký doanh nghiệp chủ yếu chứng minh tư cách thành viên và tỷ lệ vốn, không phải lúc nào cũng phản ánh đúng việc góp vốn trên thực tế[18]. Nếu thành viên chưa góp đủ vốn cam kết, công ty phải điều chỉnh vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp[19].

1.3. Phạm vi tài sản và lợi ích kinh tế cần xác định khi chia tài sản khi li hôn

Ngoài phần vốn góp, vợ chồng còn có thể có các quyền tài sản khác đối với công ty. Lợi nhuận đã được Hội đồng thành viên quyết định chia nhưng chưa thanh toán là một quyền đòi nợ; nếu quyết định chia được thông qua trong thời kỳ hôn nhân thì đây là thu nhập thuộc tài sản chung[20]. Khoản tiền vợ chồng cho công ty vay là quan hệ vay tài sản, không làm tăng phần vốn góp, và cần được chứng minh bằng hợp đồng vay, chứng từ chuyển tiền, sổ sách kế toán.

Lợi nhuận chưa phân phối và giá trị tăng thêm của doanh nghiệp cần xử lý thận trọng hơn. Khi chưa có quyết định chia, lợi nhuận sau thuế vẫn là tài sản của công ty và chỉ được chia khi đáp ứng điều kiện tại Điều 69 Luật Doanh nghiệp năm 2020[21]. Giá trị của nó đã nằm trong giá trị phần vốn góp khi định giá; nếu vừa định giá phần vốn góp theo giá trị doanh nghiệp, vừa chia riêng lợi nhuận chưa phân phối thì cùng một giá trị bị tính hai lần. Trong vụ Hill v. Sanderson, Tòa phúc thẩm Bang North Carolina chấp nhận việc không chia khoản lợi nhuận do công ty giữ lại, vì khoản này vẫn thuộc về công ty[22].  

Về phương pháp định giá, Luật Doanh nghiệp sau sửa đổi năm 2025 xác định giá thị trường của phần vốn góp có thể là giá giao dịch liền kề trước đó, giá thỏa thuận hoặc giá do tổ chức thẩm định giá xác định[23]. Phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hiếm khi có giao dịch, nên Tòa án thường phải dựa vào thẩm định giá doanh nghiệp và cần làm rõ kết quả định giá đã bao gồm những yếu tố nào.

3. Hệ quả pháp lý của việc giao toàn bộ phần vốn góp cho một bên vợ hoặc chồng

Giao toàn bộ phần vốn góp tại một công ty cho vợ hoặc chồng giúp doanh nghiệp có một người điều hành, còn bên kia nhận tiền. Nhưng phương án này làm thay đổi cơ cấu thành viên, có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của người thứ ba.

3.1. Thay đổi cơ cấu thành viên và tổ chức quản lý công ty

Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có từ 02 đến 50 thành viên[24]. Đọc riêng điều này, có thể cho rằng Tòa án không được dồn toàn bộ vốn vào một người. Nhưng theo khoản 3 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020: khi việc chuyển nhượng hoặc thay đổi phần vốn góp dẫn đến chỉ còn một thành viên, công ty phải tổ chức quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và đăng ký thay đổi trong 15 ngày[25]. Điểm c khoản 1 Điều 207 cũng chỉ buộc giải thể khi công ty thiếu thành viên tối thiểu trong 06 tháng liên tục mà không chuyển đổi[26]. Yêu cầu có ít nhất hai thành viên vì thế là điều kiện của một loại hình doanh nghiệp, không phải lệnh cấm tập trung vốn vào một người.

Việc công ty phải chuyển sang mô hình có Chủ tịch công ty, sửa Điều lệ và đăng ký thay đổi là hệ quả cần được tổ chức thực hiện[27], không phải căn cứ để kết luận phương án chia tài sản trái pháp luật. Như vậy, mối lo ngại về khả năng thi hành bản án trong Công văn số 196/TANDTC-GĐKT III ngày 26/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về rút kinh nghiệm trong việc xét xử[28] nên được hiểu là bản án phải tuyên rõ các bước chuyển đổi, chứ không phải Tòa án buộc phải tránh phương án này.

Cũng không nên đồng nhất việc thay đổi phần vốn góp theo bản án với hợp đồng chuyển nhượng. Chuyển nhượng theo khoản 1 Điều 52 là giao dịch tự nguyện, phải chào bán trước cho các thành viên còn lại; còn ở đây, quyền được xác lập bởi một bản án có hiệu lực mà cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải chấp hành[29]. Áp dụng máy móc thủ tục chào bán sẽ cho phép thành viên khác vô hiệu hóa bản án. Tuy vậy, công ty vẫn phải đăng ký thay đổi, trong khi danh mục hồ sơ chuyển đổi tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP dường như không nêu bản án, quyết định của Tòa án[30]. Bản án có hiệu lực là giấy tờ chứng minh việc thay đổi phần vốn góp.

Ở Hoa Kỳ, vấn đề này hầu như không đặt ra vì pháp luật các bang cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có một thành viên[31]. Trong vụ Barrett v. Barrett năm 2019, Tòa phúc thẩm Bang New York hủy lệnh bán phần vốn góp của người chồng, giao toàn bộ phần vốn đó cho người chồng và bù cho người vợ bằng một phần quyền đối với bất động sản chung[32]. So sánh này cho thấy khó khăn ở Việt Nam đến từ cách phân loại công ty theo số lượng thành viên, tức là vấn đề thủ tục, không phải vấn đề về sự hợp lý của việc giao vốn cho một bên.

3.2. Sự độc lập của công ty và quyền của người thứ ba

Công văn số 196/TANDTC-GĐKT III ngày 26/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về rút kinh nghiệm trong việc xét xử lưu ý phương án phân chia có thể ảnh hưởng đến công ty, người lao động và chủ nợ. Song không nên mặc định rằng cứ thay đổi thành viên là quyền lợi của họ bị xâm phạm. Công ty vẫn là pháp nhân đó, giữ nguyên mã số doanh nghiệp[33], vẫn là bên có nghĩa vụ với chủ nợ và là người sử dụng lao động. Ảnh hưởng chỉ phát sinh qua những cơ chế cụ thể sau:

Thứ nhất, tài sản của công ty có bị dùng để thực hiện nghĩa vụ riêng giữa vợ và chồng không. Đây là rủi ro lớn nhất cho chủ nợ: nếu bên nhận phần vốn góp lấy tiền của công ty để trả chênh lệch, dưới dạng chia lợi nhuận chưa đủ điều kiện hay giảm vốn điều lệ trái quy định, khối tài sản bảo đảm cho chủ nợ sẽ giảm, và thành viên phải hoàn trả cho công ty khoản đã nhận[34]. Bản án cần xác định rõ người có nghĩa vụ thanh toán là bên vợ hoặc chồng nhận phần vốn góp, không phải công ty.

Thứ hai, phần vốn góp có đang được dùng để bảo đảm nghĩa vụ không. Là quyền tài sản, phần vốn góp có thể được cầm cố, thế chấp[35], và việc chuyển giao theo bản án không làm mất quyền của bên nhận bảo đảm. Như vậy, Tòa án cần đưa người thứ ba này vào tham gia tố tụng[36].

Thứ ba, công ty có thành viên khác ngoài vợ chồng không. Khi đó, việc dồn vốn của hai vợ chồng vào một người có thể thay đổi tương quan biểu quyết, vì người nắm từ 65% vốn của các thành viên dự họp có thể tự mình thông qua phần lớn nghị quyết của Hội đồng thành viên[37]. Thành viên khác không thể ngăn cản việc chia tài sản chung, nhưng lợi ích của họ cần được xem xét, nhất là khi Điều lệ hạn chế chuyển nhượng. Pháp luật Texas giữ nguyên hiệu lực của thỏa thuận mua bán phần vốn góp được thi hành khi thành viên ly hôn[38]. Trong vụ Barrett, điều khoản đòi hỏi sự đồng ý của tất cả thành viên khi chuyển nhượng là lý do Tòa không cho bán phần vốn góp.

Thứ tư, việc thi hành phương án chia tác động thế nào đến hoạt động của công ty. Chuyển đổi loại hình không làm chấm dứt hợp đồng lao động; người sử dụng lao động chỉ phải xây dựng phương án sử dụng lao động khi việc chuyển đổi ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người[39]. Rủi ro thực sự thường đến từ việc không thi hành được bản án của Tòa án: nếu công ty không đăng ký chuyển đổi rồi phải giải thể, hoặc hai bên tiếp tục tranh chấp quyền điều hành.

3.3. Bảo vệ bên nhận tiền thanh toán chênh lệch

Sau khi đăng ký thay đổi, bên nhận phần vốn góp kiểm soát công ty, còn bên kia chỉ có một quyền đòi tiền. Nếu không được trả, họ phải yêu cầu thi hành án, trong khi phần vốn góp có thể đã bị chuyển nhượng hoặc công ty đã bị rút vốn. Quyền được chia một nửa giá trị lúc ấy chỉ còn trên giấy.

Khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 buộc bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thanh toán chênh lệch cho bên kia[40], nhưng không gắn thời điểm thanh toán với thời điểm nhận tài sản. Theo Khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020, trong chuyển nhượng, người chuyển nhượng vẫn giữ quyền thành viên cho đến khi thông tin về người nhận được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên[41]. Do đó, Tòa án có thể dùng khoảng cách giữa thời điểm có quyền và thời điểm thực hiện quyền tại công ty để tuyên trình tự: bên nhận phần vốn góp chỉ được yêu cầu ghi nhận và đăng ký thay đổi sau khi, hoặc đồng thời với khi, thanh toán chênh lệch.

Ngoài ra, lãi do chậm thi hành án bù đắp việc trả chậm[42] nhưng không ngăn được hiện tượng tẩu tán tài sản. Biện pháp khẩn cấp tạm thời như cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp[43] chỉ gắn với giai đoạn tố tụng. Kê biên phần vốn góp khi thi hành án[44] thường mất nhiều thời gian. Hai bên cũng có thể thỏa thuận dùng chính phần vốn góp làm tài sản bảo đảm và Tòa án ghi nhận thỏa thuận đó khi công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Tại Hoa Kỳ, pháp luật Bang Ohio quy định cho phép Tòa án có thể cho trả khoản bù chênh lệch (distributive award) một lần hoặc nhiều kỳ, và có thể buộc khoản này được bảo đảm bằng một quyền ưu tiên (lien) trên tài sản cụ thể của người phải trả[45]. Nhờ đó, việc cho trả dần, vốn cần thiết khi bên nhận doanh nghiệp không đủ tiền mặt, không biến bên kia thành chủ nợ không có bảo đảm. Pháp luật Việt Nam chưa có quy định tương tự như vậy. Như vậy, hệ quả của việc giao toàn bộ phần vốn góp cho một bên có thể kiểm soát được nếu bản án tuyên đủ ba nội dung: thay đổi cơ cấu thành viên cùng trách nhiệm đăng ký; giới hạn không dùng tài sản của công ty để thực hiện nghĩa vụ giữa vợ chồng; trình tự thanh toán gắn với thời điểm nhận phần vốn góp. Thiếu một trong ba nội dung đó, quyền tài sản được xác định đúng vẫn có thể không được thực hiện trên thực tế.

Kiến nghị, đề xuất

Khi vợ chồng cùng là thành viên công ty, Tòa án không chỉ chia một khối giá trị, mà còn định hình lại quan hệ của mỗi bên với một pháp nhân đang hoạt động. Chia tài sản khi ly hôn vốn đã khó. Khi tài sản đó gắn với một doanh nghiệp đang hoạt động, độ khó của việc chia tài sản chung vợ chồng tăng lên, vì quyền lợi của vợ chồng phải được đặt cạnh lợi ích của công ty, các thành viên khác, người lao động và chủ nợ. Một bản án xác định đúng giá trị là cần thiết, nhưng chỉ khi thi hành được, bản án mới thực sự bảo vệ được quyền tài sản của các bên sau ly hôn. Do đó, dựa vào các phân tích trên, tác giả xin nêu một số kiến nghị về như sau:

Một là, phần quyết định của bản án nên tránh cách diễn đạt “giao công ty cho… quản lý”. Thay vào đó, bản án có thể tuyên cụ thể người được nhận phần vốn góp, tỷ lệ hoặc giá trị phần vốn góp tại từng công ty, nghĩa vụ thanh toán chênh lệch của bên nhận và trách nhiệm phối hợp đăng ký thay đổi tại công ty. Những nội dung này có thể thực hiện ngay trên cơ sở pháp luật hiện hành.

Hai là, khi giải quyết tranh chấp có tài sản là phần vốn góp, Tòa án nên cân nhắc đưa công ty, các thành viên khác và bên nhận bảo đảm (nếu có) vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đồng thời thu thập hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, Điều lệ và sổ đăng ký thành viên như Công văn đã lưu ý. Kết quả định giá phần vốn góp cũng cần được xem xét kỹ để không tính trùng lợi nhuận chưa phân phối hay phần giá trị tăng thêm của doanh nghiệp.

Ba là, để bảo vệ bên nhận tiền chênh lệch, Tòa án nhân dân tối cao có thể cân nhắc hướng dẫn cách tuyên trình tự giữa việc thanh toán và việc đăng ký thay đổi phần vốn góp, chẳng hạn thông qua giải đáp nghiệp vụ, hoặc lựa chọn phát triển thành án lệ khi có bản án phù hợp. Một hướng dẫn như vậy có thể giúp các Tòa án áp dụng thống nhất mà chưa cần sửa luật.

Bốn là, sửa đổi pháp luật về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền có thể nghiên cứu hai nội dung. Một mặt, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực vào danh mục giấy tờ chứng minh việc thay đổi phần vốn góp khi đăng ký thay đổi thành viên hoặc chuyển đổi loại hình. Mặt khác, bổ sung vào Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020 trường hợp phần vốn góp được chia theo bản án, quyết định giải quyết ly hôn, theo hướng phân biệt quyền tài sản với tư cách thành viên. Pháp luật một số bang của Hoa Kỳ, như Texas với việc coi người phối ngẫu là người nhận chuyển giao phần vốn góp, Ohio với việc cho phép bảo đảm khoản bù chênh lệch bằng quyền ưu tiên trên tài sản của người phải trả, có thể là những gợi ý để tham khảo, nếu được đặt đúng trong bối cảnh pháp luật và thực tiễn Việt Nam.

 

TS. TRẦN THÚY HẰNG (Trường Đại học Luật Hà Nội) - PHẠM THÙY LINH (Sinh viên khóa K47, Trường Đại học Luật Hà Nội)

Tài liệu tham khảo

1. Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 296/2026/NĐ-CP).

2. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

3. Nga Phạm (2026), Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản về việc rút kinh nghiệm về một số nội dung liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, https://tapchitoaan.vn/toa-an-nhan-dan-toi-cao-ban-hanh-van-ban-ve-viec-rut-kinh-nghiem-ve-mot-so-noi-dung-lien-quan-den-linh-vuc-hon-nhan-va-gia-dinh16288.html.

4. Quốc hội (2014), Luật Hôn nhân và gia đình, Luật số 52/2014/QH13.

5. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, Luật số 91/2015/QH13.

6. Quốc hội (2019), Bộ luật Lao động, Luật số 45/2019/QH14.

7. Quốc hội (2020), Luật Doanh nghiệp, Luật số 59/2020/QH14.

8. Quốc hội (2025), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật số 64/2025/QH15.

9. Quốc hội (2025), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, Luật số 76/2025/QH15.

10. Quốc hội (2025), Luật Thi hành án dân sự, Luật số 106/2025/QH15.

11. Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

12. Trần Mộng Bình (2021), Xác định việc góp vốn và giấy chứng nhận phần vốn góp, https://tapchitoaan.vn/xac-dinh-viec-gop-von-va-giay-chung-nhan-phan-von-gop.

13. Barrett v. Barrett (2019), Supreme Court of the State of New York, Appellate Division, Fourth Department, CA 18-01211.

14. Hill v. Sanderson (2015), North Carolina Court of Appeals.

15. Iowa Code § 489.502 (Revised Uniform Limited Liability Company Act).

16. New York Limited Liability Company Law § 601.

17. Ohio Revised Code § 3105.171.

18. Texas Business Organizations Code, Chapter 101.


[1] Khoản 18 và khoản 27 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Luật số 59/2020/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 03/2022/QH15 và Luật số 76/2025/QH15). Trong bài viết, Luật Doanh nghiệp năm 2020 được hiểu là văn bản đã được sửa đổi, bổ sung.

[2] Khoản 1 và khoản 3 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[3] Điều 105 và Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Điều 81 và điểm c khoản 1 Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5] Khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[6] Tex. Bus. Orgs. Code § 101.106(a), (b), https://statutes.capitol.texas.gov/Docs/BO/htm/BO.101.htm#101.106, truy cập ngày 13/10/2026.

[7] N.Y. Limited Liability Company Law § 601, https://www.nysenate.gov/legislation/laws/LLC/601, truy cập ngày 13/10/2026.

[8] Khoản 1 và khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[9] Điều 47 và Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[10] Điều 25, Điều 47 và Điều 48 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[11] Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[12] Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[13] Tex. Bus. Orgs. Code § 101.106(a-1), (a-2), Sđd (9).

[14] Tex. Bus. Orgs. Code § 101.1115(a)(1),

https://statutes.capitol.texas.gov/Docs/BO/htm/BO.101.htm#101.1115 , (truy cập ngày 13/10/2026).

[15] Tex. Bus. Orgs. Code § 101.109(b), https://statutes.capitol.texas.gov/Docs/BO/htm/BO.101.htm#101.109, truy cập ngày 13/10/2026.

[16] Revised Uniform Limited Liability Company Act (2006, sửa đổi năm 2013), § 502. Đây là luật mẫu và cần phải được các bang nội luật hóa. Văn bản này đã được bang Iowa nội luật hóa tại Iowa Code § 489.502, https://www.legis.iowa.gov/docs/code/489.502.pdf, truy cập ngày 13/10/2026.

[17] Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[18] Trần Mộng Bình (2021), Xác định việc góp vốn và giấy chứng nhận phần vốn góp, https://tapchitoaan.vn/xac-dinh-viec-gop-von-va-giay-chung-nhan-phan-von-gop, truy cập ngày 13/10/2026.

[19] Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[20] Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[21] Điều 69 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[22] Hill v. Sanderson, Tòa phúc thẩm bang North Carolina, năm 2015,

https://appellate.nccourts.org/opinions/?c=2&pdf=33081 , (truy cập ngày 13/10/2026).

[23] Điểm b khoản 14 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Luật số 76/2025/QH15.

[24] Khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Luật số 59/2020/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 03/2022/QH15 và Luật số 76/2025/QH15).

[25] Khoản 3 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[26] Điểm c khoản 1 Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 1 Luật số 76/2025/QH15.

[27] Điều 85 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu.

[28] Nga Phạm (2026), Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản về việc rút kinh nghiệm về một số nội dung liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, https://tapchitoaan.vn/toa-an-nhan-dan-toi-cao-ban-hanh-van-ban-ve-viec-rut-kinh-nghiem-ve-mot-so-noi-dung-lien-quan-den-linh-vuc-hon-nhan-va-gia-dinh16288.html, truy cập ngày 13/10/2026.

[29] Điều 106 Hiến pháp năm 2013.

[30] Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 về đăng ký doanh nghiệp, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 296/2026/NĐ-CP.

[31]Ví dụ: Tex. Bus. Orgs. Code § 101.101(a),

https://statutes.capitol.texas.gov/Docs/BO/htm/BO.101.htm#101.101, truy cập ngày 13/10/2026.

[32] Barrett v. Barrett, Supreme Court of the State of New York, Appellate Division, Fourth Department, ngày 22/8/2019, CA 18-01211, https://www.nycourts.gov/courts/ad4/Clerk/Decisions/2019/08-22-19/PDF/0688.pdf, truy cập ngày 13/10/2026.

[33] Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[34] Điều 68, Điều 69 và Điều 70 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[35] Điều 115 và Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[36] Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[37] Điểm a khoản 3 Điều 59 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[38] Tex. Bus. Orgs. Code § 101.1115(b), https://statutes.capitol.texas.gov/Docs/BO/htm/BO.101.htm#101.1115 , (truy cập ngày 13/10/2026).

[39] Điều 43 và Điều 44 Bộ luật Lao động năm 2019.

[40] Khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[41] Khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[42] Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

[43] Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung).

[44] Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (Luật số 106/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

[45] Ohio Rev. Code § 3105.171(A)(1), (E)(1), https://codes.ohio.gov/ohio-revised-code/section-3105.171,

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.