Giải pháp nâng cao chất lượng hòa giải trong giải quyết án hôn nhân và gia đình
Trong thực tiễn giải quyết án hôn nhân và gia đình thì mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn khác nhau sẽ có những giải pháp và cách hòa giải khác nhau sao cho phù hợp với môi trường, xã hội của thời kỳ đó và hơn hết hòa giải như thế nào cũng phải biết cách để phù hợp với tâm lý, lối sống, suy nghĩ của mỗi thế hệ ở những độ tuổi khác nhau. Bài viết này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hòa giải trong giải quyết án hôn nhân và gia đình.
1. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hòa giải trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình
Trong những năm gần đây, số lượng các vụ ly hôn ngày càng tăng cao qua từng năm và đang có những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân xuất phát từ mâu thuẫn về kinh tế, bất đồng quan điểm sống, cách nuôi dạy con chung, tình trạng bạo hành về tinh thần, thể chất xảy ra trong gia đình là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến ly hôn. Hiểu được những nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc ly hôn thì Thẩm phán sẽ có những phương án hòa giải phù hợp với từng cặp vợ chồng và mục đích chủ yếu là hòa giải đoàn tụ, hòa giải thuận tình ly hôn...
Hòa giải là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình (trừ trường hợp các vụ án mà pháp luật quy định không hòa giải được là trường hợp đã xác định được quan hệ hôn nhân không hợp pháp Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) và trường hợp không thể tiến hành hòa giải được bao gồm: trường hợp quy định tại Điều 207 BLTTDS do bị đơn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai; đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng như ở nước ngoài, ở tù, bị đơn mất năng lực hành vi dân sự). Kết quả hòa giải ảnh hưởng rất lớn đến việc giải quyết vụ án, nếu qua quá trình hòa giải các đương sự thỏa thuận được với nhau thì việc giải quyết vụ án của Tòa án đơn giản hơn khi qua hòa giải các đương sự không thỏa thuận được với nhau còn tranh chấp về quan hệ hôn nhân, về tài sản và về con chung... thì sẽ việc giải quyết vụ án sẽ khó khăn và phức tạp hơn nhiều đặc biệt là vấn đề chia tài sản chung vợ chồng khi giải quyết vụ án...
Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng của việc hòa giải trong giải quyết án hôn nhân và gia đình thì mỗi Thẩm phán lại có một phương pháp khác nhau, một giải pháp khác nhau.
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình
Hòa giải là thủ tục bắt buộc trong vụ án hôn nhân và gia đình. Khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và tiến hành hòa giải sẽ có các hướng: Hòa giải đoàn tụ, đương sự sẽ rút đơn khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, hòa giải thành và công nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự, hòa giải không thành và Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử. Để nâng cao chất lượng hòa giải trong việc giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình bản thân tôi đã đưa ra những giải pháp cụ thể, các giải pháp này đã được tôi áp dụng trong thực tế giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình và mang lại hiệu quả trong công tác, các giải pháp đó cụ thể là:
2.1. Phải nắm vững các quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án
Đây là yêu cầu bắt buộc đối với Thẩm phán, khi giải quyết bất kỳ vụ việc nào thì người Thẩm phán phải nắm rõ các quy định của pháp luật. Trong việc hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình, để việc hòa giải vụ án được chất lượng thì đương nhiên thẩm phán phải nắm rõ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; BLTTDS về các thủ tục hòa giải, các bước tiến hành phiên hòa giải từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, đảm bảo việc hòa giải đúng thủ tục mà pháp luật quy định.
2.2. Xem xét yêu cầu cung cấp chứng cứ, xác minh vụ việc trước khi hòa giải
Một là, yêu cầu cung cấp chứng cứ
Để mở phiên họp hòa giải thì các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thông thường đã khá đầy đủ. Trước đó Thẩm phán phải yêu cầu các đương sự cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ (nếu có) phản ánh nội dung và diễn biến của vụ án. Đối với những vụ án hôn nhân và gia đình thì chứng cứ chủ yếu liên quan đến các vấn đề chứng minh quan hệ hôn nhân, các điều kiện về nuôi con chung, về tài sản chung.
Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán phải tự mình tìm hiểu, thu thập chứng cứ, gặp gỡ các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã từng tham gia giúp đỡ giải quyết, gặp người chứng kiến nghe họ trình bày về diễn biến và nội dung vụ việc mà họ biết được. Chỉ có như vậy thì Thẩm phán mới có thể hiểu biết được bản chất vụ việc, nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn, từ đó đưa ra lời tư vấn chính xác, đúng pháp luật, thuyết phục được các bên tự nguyện giải quyết mâu thuẫn.
Sau khi các đương sự đã cung cấp đầy đủ các văn bản, tài liệu có liên quan, Thẩm phán cần dành thời gian để đọc, nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu đó, trong khi đọc có thể đồng thời hình thành luôn giải pháp trên cơ sở sắp xếp các tài liệu theo tầm quan trọng của vấn đề đưa ra. Có những tài liệu Thẩm phán không hiểu, không đọc được hoặc nghi ngờ về tính chân thực của nó thì cần hỏi lại các đương sự để khẳng định.
Hai là, xác minh vụ việc
Đối với những vụ án hôn nhân và gia đình phức tạp, liên quan đến việc tranh chấp về việc ai là người nuôi con, đến tài sản chung vợ chồng... Sau khi xem xét các giấy tờ, tài liệu các bên cung cấp, Thẩm phán thấy chưa đủ cơ sở để đưa ra những giải pháp, Thẩm phán cần phải tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, gặp gỡ, tiếp xúc với các cơ quan, tổ chức và những người có liên quan để tìm hiểu rõ bản chất vụ việc, tránh vội vàng đưa ra những kết luận phiến diện, chủ quan.
Quá trình xác minh vụ việc đòi hỏi Thẩm phán phải thực sự khách quan, vô tư, nhất là khi tiếp xúc với những người có lợi ích liên quan trong vụ việc hoặc thân quen với một bên đương sự. Thông thường, những người này luôn bảo vệ, đưa ra những thông tin có lợi cho mình hoặc người thân quen của mình. Vì vậy, Thẩm phán cần khéo léo đề nghị những người có liên quan cung cấp những thông tin, tài liệu chính xác, trung thực. Trong quá trình tiếp xúc với những người này, Thẩm phán lập biên bản làm việc theo quy định của pháp luật.
2.3. Thẩm phán phải tìm mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu
Những vụ án ly hôn thường có nhiều nguyên, nhưng nguyên nhân sâu xa của nó có thể là những vấn đề hoàn toàn không có liên quan đến nội dung tranh chấp. Nói cách khác, các bên trong quan hệ tranh chấp phát sinh có thể sử dụng hình thức tranh chấp này để giải quyết một mâu thuẫn khác. “Ví dụ: Hai vợ chồng ly hôn do vợ hoặc chồng có mâu thuẫn với bố mẹ vợ hoặc bố mẹ chồng”. Trường hợp này, nếu Thẩm phán chỉ hướng nội dung hòa giải đến việc ly hôn thì sẽ không giải quyết được ngọn nguồn của mâu thuẫn.
Để tìm ra mâu thuẫn, các xung đột lợi ích cốt lõi và nguyên nhân chủ yếu của vụ việc, Thẩm phán cần liên tục đặt ra những câu hỏi tại sao lại như vậy đối với các thông tin, tình tiết của vụ việc mà mình được tiếp nhận.
Các nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn có nhiều nhưng chủ yếu: nguyên nhân mâu thuẫn về kinh tế, nguyên nhân về tinh thần, nguyên nhân về tâm sinh lý,... Đối với từng loại nguyên nhân thì Thẩm phán thu thập thông tin cụ thể khác nhau. Điều này giúp cho việc tìm ra một số giải pháp giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp và tạo ra nhiều lựa chọn đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các bên đương sự. Nắm bắt đúng lợi ích cốt lỗi dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp, giúp tìm được các giải pháp thích hợp, kết quả là các giải pháp giải quyết tranh chấp trở nên bền vững (giải quyết được cái “gốc” của vấn đề).
2.4. Thẩm phán phải tìm kiếm giải pháp phù hợp cho các bên
Để bảo đảm thành công của buổi hòa giải, Thẩm phán phải tìm ra được giải pháp hợp tình, hợp lý cho các bên. Quá trình tìm kiếm giải pháp cho các bên cần phải dựa trên các yếu tố: Hệ thống bằng chứng của vụ án; cơ sở pháp lý, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán...; lập luận (các luận điểm phân tích, chứng minh).
- Thẩm phán xử lý chứng cứ để xác định đúng nội dung và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn:
Từ những chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán tìm hiểu nội dung vụ việc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp (do các bên, những người khác có liên quan cung cấp, do Thẩm phán thu thập), Thẩm phán cần xử lý để xác định đâu là chứng cứ cần thiết, có giá trị dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của các bên là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Kết thúc quá trình này, Thẩm phán ghi khái quát lại diễn biến của vụ việc, nguyên nhân (kèm theo hệ thống bằng chứng liên quan).
Đây là công việc quan trọng trong quá trình hòa giải vụ án. Nếu những phân tích, lập luận của Thẩm phán dựa trên những bằng chứng không chuẩn xác, không có giá trị, thì sẽ không thuyết phục được các bên, ảnh hưởng tới hiệu quả hòa giải.
- Thẩm phán xác định hệ thống quy định pháp luật, quy tắc đạo đức xã hội, phong tục, tập quán... để giải quyết vụ án.
+ Xác định hệ thống quy định pháp luật áp dụng: Trên cơ sở nội dung vụ việc, Thẩm phán liệt kê các điều luật liên quan đến nội dung vụ việc, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên: Các điều luật quy định trực tiếp về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của các đương sự trong vụ án, các điều luật khác có liên quan...
+ Xác định các quy tắc đạo đức xã hội, phong tục, tập quán: Xã hội truyền thông Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng đức trị của Nho giáo, nên người dân Việt Nam (đặc biệt là người dân sống ở khu vực nông thôn) rất coi trọng giá trị đạo đức. Các quan hệ xã hội bị chi phối mạnh bởi quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán truyền thống. Vì vậy, bên cạnh yếu tố pháp luật, Thẩm phán cần xác định, liệt kê cụ thể các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán, các quy định trong hương ước, quy ước của thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư có liên quan trực tiếp đến nội dung vụ án để làm căn cứ phân tích, lập luận, thuyết phục, hướng dẫn các bên tìm giải pháp giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp.
- Thẩm phán xây dựng giải pháp cho xung đột, mâu thuẫn
Trên cơ sở chứng cứ thu thập được, các quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp, Thẩm phán sử dụng các thao tác để đưa ra giải pháp cho các đương sự trong vụ án ly hôn như:
+ Phân tích nội dung vụ việc, nguyên nhân mâu thuẫn, tranh chấp: Chia tách thành các vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp cụ thể để đi sâu xem xét một cách toàn diện về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung.
+ So sánh, đối chiếu giữa quy định của pháp luật với nội dung vấn đề tranh chấp từ đó xem xét theo quy định của pháp luật, thì giải pháp nào là tốt nhất cho các đương sự, bảo đảm tốt nhất, hài hòa nhất quyền lợi, nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định của pháp luật, đó phải là giải pháp “các bên cùng có lợi”, “tối ưu cho tất cả các bên”, “trên cơ sở lẽ phải, lẽ công bằng”, không có “bên thắng, bên thua”.
+ Lập luận cho giải pháp mình đưa ra: Chuẩn bị trước cách thức mình sẽ trình bày giải pháp trước các bên, bảo đảm rõ ràng, trung thực vấn đề được bình luận, đề xuất và chứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá của mình là xác đáng. Thể hiện rõ chủ kiến của mình, không mập mờ, khó hiểu.
2.5. Thẩm phán phải giải thích, thuyết phục, hướng dẫn các bên tự thỏa thuận dàn xếp mâu thuẫn, tranh chấp
Thuyết phục các bên tự nguyện thỏa thuận, giải quyết tranh chấp là nghệ thuật hòa giải, đòi hỏi Thẩm phán phải có kiến thức pháp luật chắc, có kiến thức xã hội sâu rộng, có kỹ năng hòa giải, có uy tín, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm cuộc sống, biết vận dụng pháp luật và đạo đức xã hội để thuyết phục các bên đi đến thỏa thuận giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp.
Thuyết phục các bên tự nguyện giải quyết tranh chấp được Thẩm phán thực hiện trong suốt quá trình hòa giải.
Về thực chất, thuyết phục là việc Thẩm phán đưa ra lời khuyên, hướng dẫn cách ứng xử (nên làm gì và không nên làm gì) để các bên chấp nhận, đồng ý những lời khuyên của Thẩm phán, tự lựa chọn phương thức giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp một cách tốt nhất.
Muốn thực hiện tốt việc thuyết phục các bên, trước hết Thẩm phán cần phải đưa ra giải pháp, phương án… để tháo gỡ mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột; trong đó xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong vụ việc, hành vi nào các bên được làm và những hành vi nào pháp luật cấm; phân tích những hành vi nào phù hợp với pháp luật, với đạo đức xã hội và hành vi nào trái pháp luật, trái với đạo đức xã hội, nêu rõ hậu quả pháp lý mà các bên phải gánh chịu nếu tiếp tục tranh chấp và đưa ra định hướng giải quyết tranh chấp để các bên xem xét, thảo luận, tự lựa chọn và quyết định. Một điều quan trọng là trong quá trình hòa giải, Thẩm phán cần phải luôn kết hợp cả tình và cả lý để phân tích, giải thích, thuyết phục các bên tranh chấp hòa giải với nhau.
Muốn thuyết phục các bên tranh chấp thương lượng thành công, đạt được thỏa thuận, Thẩm phán cần:
- Thông cảm và tôn trọng đương sự: Khi phân tích, giải thích cho các bên biết hành vi của họ là đúng hay sai, Thẩm phán cần phải xây dựng không khí gần gũi và tin tưởng, cảm thông và tôn trọng đương sự, luôn có thái độ ân cần, chia sẻ, nhiệt tình, cần phải làm cho không khí nói chuyện được vui vẻ, chan hòa. Như vậy, các đương sự sẽ lắng nghe ý kiến thuyết phục của Thẩm phán. Khi thuyết phục đối tượng mà nói được những suy nghĩ, trăn trở của họ, dễ đạt được kết quả mong muốn. Muốn như vậy thì mọi lý lẽ, thuyết phục của Thẩm phán phải xuất phát từ lập trường của các bên đương sự mà suy nghĩ và đặt vấn đề, đưa ra giải pháp tối ưu cho các bên tranh chấp, hợp tình, hợp lý. Nếu Thẩm phán không biết tôn trọng đối tượng, ra vẻ ta đây hơn người, chì chiết, mang tính dạy bảo thì chắc chắn cuộc hòa giải sẽ không thành công.
- Khơi gợi cho các bên đương sự những tình cảm tốt đẹp vốn có giữa họ (tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng…) để họ dễ thông cảm cho nhau.
- Đưa ra những chứng cứ, ví dụ cụ thể: Điều thuyết phục các đương sự tốt nhất là Thẩm phán cần đưa ra được những ví dụ, những chứng cứ minh họa cụ thể cho phân tích, lập luận của mình.
- Cần phải kiên trì thuyết phục, không nên nôn nóng: Thẩm phán cần phải suy nghĩ chín chắn, đắn đo câu nói, nói cái gì trước, cái gì sau, điều gì không nên nói. Ngoài ra, cần phải bình tĩnh, kiên trì giải quyết từng bước, nhất là đối với những đương sự có thái độ không hợp tác.
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Miễn trách nhiệm hình sự đối với tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
-
Hà Tĩnh: Trao Quyết định bổ nhiệm Phó Chánh án TAND tỉnh
-
Chuyên án VN10: Từ những tuýp kem đánh răng đến phiên tòa xét xử 227 bị cáo
-
Đương sự từ chối nhận, ký nhận văn bản tố tụng tại trụ sở Tòa án nhân dân - Thực trạng và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật
-
Chánh án Nguyễn Văn Quảng: Chất lượng xét xử phải được đánh giá thực chất
Bình luận