Hoàn thiện cơ chế hướng dẫn áp dụng pháp luật về người thứ ba ngay tình theo Bộ luật Dân sự năm 2015
Bảo vệ người thứ ba ngay tình là chế định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự. Bài viết phân tích cơ sở lý luận của giao dịch thế chấp và người thứ ba ngay tình, chỉ ra những hệ quả phát sinh trong thực tiễn xét xử và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật.
Đặt vấn đề
Bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch dân sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng đối với giao dịch thế chấp tài sản, đặc biệt là khi có sự tham gia của Ngân hàng, quy định này đang được hiểu và vận dụng chưa thống nhất. Trong đó, Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử (sau đây gọi là Công văn số 02) đưa ra hướng dẫn theo hướng gắn trạng thái ngay tình với nghĩa vụ thẩm định tài sản của Ngân hàng. Còn Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính (sau đây gọi là Công văn số 64) thì mở rộng cách hiểu về “giao dịch dân sự khác”, làm phát sinh tranh luận về việc có thể coi thế chấp là giao dịch chuyển giao tài sản. Những cách hiểu này đặt ra vấn đề về sự phù hợp với tinh thần của BLDS năm 2015 và ảnh hưởng đến tính thống nhất trong áp dụng pháp luật. Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung phân tích cơ sở pháp lý của việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch thế chấp, đánh giá tính hợp lý của hướng dẫn tại Công văn số 02 và Công văn số 64, từ đó chỉ ra những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.
1. Quy định của pháp luật về người thứ ba ngay tình
Pháp luật hiện tại chưa có một khái niệm cụ thể thế nào là người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên, quy định về ngay tình đã được đề cập đến từ BLDS năm 1995 và năm 2005, đến BLDS năm 2015 thì quy định về người thứ ba ngay tình đã có sự điều chỉnh nhất định. Ở những BLDS trước, khái niệm “chiếm hữu ngay tình” tiếp cận dưới góc độ chủ thể chiếm hữu “không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật”[1]. Ngay tình được hiểu là lòng ngay thẳng, thực thà, tình thế rõ ràng. Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học cũng giải thích rằng người thứ ba ngay tình khi tham gia GDDS vô hiệu là người được chuyển giao tài sản thông qua GDDS mà họ không biết, không buộc phải biết tài sản đó do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch vô hiệu.[2] Tới BLDS năm 2015 quy định về chiếm hữu ngay tình đã được hiểu là “việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu” (Điều 180 BLDS năm 2015). Vậy, có thể hiểu rằng người thứ ba ngay tình trong GDDS vô hiệu là người chiếm hữu ngay tình đối với tài sản là đối tượng trong GDDS vô hiệu trước đó, người thứ ba ngay tình có được tài sản này thông qua một GDDS mà có căn cứ để tin rằng giao dịch được xác lập tuân theo các quy định của pháp luật, không thể biết đối tượng giao dịch là tài sản do chủ sở hữu trước đó có được thông qua một giao dịch vô hiệu.[3]
Cụ thể hơn, khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015 về bảo vệ người thứ ba ngay tình trong GDDS vô hiệu quy định rằng, trường hợp GDDS vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một GDDS khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu. Quy định này cho thấy sự chuyển dịch của pháp luật dân sự từ việc xác định người thứ ba ngay tình theo tiêu chí “không biết, không buộc phải biết” sang việc bảo vệ người thứ ba ngay tình dựa trên sự tin tưởng vào trạng thái pháp lý của tài sản đã được đăng ký, qua đó mở rộng phạm vi bảo vệ đối với người thứ ba ngay tình. Sự thay đổi trong quy định của BLDS năm 2015 đã phù hợp hơn với không chỉ riêng với các điều luật khác trong cùng bộ luật mà còn tương thích cả với các quy định về đăng ký động sản, bất động sản trong các bộ luật khác. Điều này góp phần bảo đảm sự công bằng, hợp lý và ổn định trong quan hệ GDDS.
2. Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật
Khác với cách tiếp cận mang tính khái quát của BLDS năm 2015, Công văn 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử, khi hướng dẫn giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm, đã cụ thể hóa việc xác định người thứ ba ngay tình theo hướng xem xét nghĩa vụ thẩm định tài sản của Ngân hàng. Theo đó, Ngân hàng chỉ được coi là người thứ ba ngay tình khi đã thực hiện việc kiểm tra, xác minh tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm trước khi xác lập giao dịch thế chấp. BLDS năm 2015 đã thừa nhận tính hợp pháp của các giao dịch này nếu như tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một GDDS khác cho người thứ ba ngay tình. Giao dịch chỉ bị coi là vô hiệu nếu đó là tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc Công văn số 02 mặc nhiên coi không thẩm định tình trạng pháp lý của tài sản là dấu hiệu của không ngay tình đã dẫn đến cách hiểu vừa thiếu cơ sở pháp lý, vừa vô tình chuyển hướng rủi ro từ phía chủ thể có lỗi trong giao dịch vô hiệu sang phía người thứ ba.
Về mặt lý luận, việc đồng nhất xác định tình trạng ngay tình với nghĩa vụ thẩm định, xác minh là không phù hợp với chế định bảo vệ người thứ ba ngay tình trong pháp luật dân sự. Đối với tình huống trong Công văn, Ngân hàng hoàn toàn có căn cứ để tin tưởng và dựa vào đó để xác lập giao dịch, đó là việc giao dịch trước đó đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Còn về trách nhiệm chứng minh sự ngay tình của người thứ ba, ta có thể thấy cả BLDS Pháp tại Điều 2268 và BLDS Việt Nam năm 2015 tại Điều 184 đều quy định rằng, người chiếm hữu ngay tình nếu họ có căn cứ để tin rằng mình có quyền hợp pháp với tài sản đó. Trường hợp có tranh chấp, bên muốn phủ nhận trang thái ngay tình phải đưa ra bằng chứng để chứng minh[4]. Theo đó, trong trường hợp này, Ngân hàng không có nghĩa vụ phải chứng minh tình trạng ngay tình của mình, mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về chủ thể yêu cầu phủ nhận tư cách ngay tình của người thứ ba.
Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, trong quan hệ này, Ngân hàng là chủ thể chiếm hữu tài sản bảo đảm trên cơ sở giao dịch hợp pháp và có căn cứ để tin rằng tài sản thế chấp có đủ điều kiện pháp lý bởi giao dịch trước đó đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó về nguyên tắc phải được suy đoán là người thứ ba ngay tình. Việc yêu cầu Ngân hàng chứng minh nghĩa vụ thẩm định tài sản, xét ở góc độ bảo vệ người thứ ba ngay tình, có thể làm giảm đi định hướng trong cơ chế mà pháp luật dân sự đề ra. Vì vậy, việc áp dụng Công văn số 02 cần được xem xét theo hướng tôn trọng nội hàm của Điều 133 BLDS năm 2015 tránh tạo thêm các điều kiện hạn chế quyền của người thứ ba ngay tình.
Tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính, có ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ người thứ ba ngay tình về mặt thực tiễn áp dụng, song về mặt lý luận, quan điểm đặt ra trong Công văn có thể vẫn còn những vấn đề cần được làm rõ. Cụ thể, cách tiếp cận của Công văn chưa thực sự thống nhất với cách hiểu của BLDS năm 2015 về “chuyển giao bằng một GDDS khác”, đặc biệt là trong việc làm rõ mối quan hệ giữa giao dịch thế chấp với cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133 BLDS năm 2015. Qua nghiên cứu tác giả cho rằng, cách lý giải của Công văn số 64 đối với khái niệm trên trong quan hệ thế chấp vẫn còn những điểm chưa thật sự phù hợp về mặt lý luận với BLDS năm 2015.
Công văn số 64 hướng dẫn cụm từ “chuyển giao bằng một GDDS khác” tại khoản 2 Điều 133 của BLDS năm 2015 phải được áp dụng theo nghĩa rộng. Có nghĩa là: Không chỉ có những giao dịch nhằm chuyển giao QSH như: Hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở; chuyển nhượng, chuyển đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất... mà cả những giao dịch nhằm chuyển giao những quyền về sở hữu đối với tài sản hoặc quyền về sử dụng đối với thửa đất. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 317 BLDS năm 2015 quy định về thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên nhận thế chấp. Với quy định này, biện pháp thế chấp chứa đựng ba đặc điểm như sau: (i) tài sản thuộc sở hữu của bên thế chấp; (ii) bên thế chấp không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp mà thực tế thường chuyển giao các loại giấy tờ cho nhau để ràng buộc trách nhiệm; (iii) mục đích nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ giữa các bên.[5]
Bản chất pháp lý của thế chấp là biện pháp bảo đảm đặc thù của hợp đồng dân sự, khác biệt với các biện pháp bảo đảm khác. Cụ thể, bên nhận thế chấp giữ các giấy tờ liên quan đến tài sản trong suốt thời hạn hợp đồng và chỉ có quyền xử lý tài sản khi nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện đúng hạn theo quy định; còn bên thế chấp giữ tài sản thế chấp, sử dụng và hưởng lợi từ tài sản thế chấp, đầu tư để tăng giá trị tài sản thế chấp, cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp hay thậm chí là được bán, trao đổi, tặng cho tài sản khác (không phải hàng hóa kinh doanh) nếu được sự đồng ý của bên nhận thế chấp hoặc theo quy định của luật,... (Điều 321 BLDS năm 2015). Qua đây có thể thấy, trong giao dịch thế chấp thì QSH tài sản vẫn nằm trong tay của bên thế chấp (tức chủ sở hữu).
Ngoài ra, khi xem xét kỹ Điều 317 BLDS năm 2015 ta có thể thấy, quan hệ thế chấp chỉ phát sinh khi tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là tài sản thuộc QSH hợp pháp của bên thế chấp. Khi một bên không là chủ sở hữu của tài sản mà họ vẫn ký hợp đồng thế chấp thì bản chất giao dịch này đã mâu thuẫn ngay từ điều kiện áp dụng của Điều 317. Yêu cầu chủ thể trong thế chấp tài sản không phải là yêu cầu mang tính hình thức, mà là điều kiện của GDDS. Điều này được nhiều học giả ghi nhận, trong đó khẳng định rằng bên thế chấp là chủ thể có QSH hợp pháp tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.[6] Việc này không chỉ thể hiện tính pháp lý chặt chẽ trong BLDS mà còn nhất quán với các nguyên tắc về QSH và các điều kiện có hiệu lực của GDDS quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015. Vì vậy, giao dịch thế chấp với Ngân hàng lúc này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 133 BLDS năm 2015 để xác định Ngân hàng là người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên xét trên thực tế để bảo vệ quyền lợi tối đa của người thứ ba ngay tình thì cần có những sửa đổi pháp luật cần thiết được kiến nghị cụ thể ở Chương 3.
Từ những phân tích ở trên, tác giả đồng tình với quan điểm bảo vệ người thứ ba ngay tình của Công văn số 64, tuy nhiên nhóm cho rằng giao dịch thế chấp tài sản không tồn tại việc chuyển giao QSH tài sản. Bởi trong giao dịch thế chấp thực chất chỉ chuyển giao các loại giấy tờ liên quan đến tài sản (nếu có thỏa thuận) để ràng buộc trách nhiệm của bên thế chấp với bên nhận thế chấp. Khả năng xử lý tài sản thế chấp khi xảy ra vi phạm nghĩa vụ không làm thay đổi thực tế rằng tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp, không có sự chuyển giao tài sản nào diễn ra. Do đó, không có cơ sở để áp dụng cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133 BLDS năm 2015 đối với bên thế chấp trên lập luận coi thế chấp là giao dịch chuyển giao tài sản có điều kiện. Vì vậy, cách hiểu của Công văn số 64 nếu được duy trì sẽ làm mâu thuẫn về mặt lý luận với BLDS năm 2015 và phát sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử.
Thực tiễn xét xử cho thấy việc xác định Ngân hàng có phải là người thứ ba ngay tình trong giao dịch thế chấp vẫn còn nhiều cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất, đặc biệt trong các trường hợp tài sản bảo đảm có nguồn gốc pháp lý phức tạp. Bản án số 940/2025/DS-PT ngày 20/8/2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp của Tòa án nhân dân thành phố H đã phản ánh rõ những vướng mắc này. Vụ án phát sinh từ tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và bà Trà Thị Thúy H, trong đó tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đã được bà H chuyển nhượng bằng giấy viết tay cho nhiều người trước thời điểm thế chấp. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi nợ của Ngân hàng nhưng tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản, với lập luận Ngân hàng không phải là người thứ ba ngay tình do không thẩm định thực tế tài sản trên đất theo hướng dẫn tại Công văn số 02. Ngân hàng kháng cáo cho rằng đã căn cứ vào giấy chứng nhận và cam kết của bên thế chấp khi xác lập giao dịch, đồng thời các hợp đồng chuyển nhượng trước đó đều không đủ điều kiện pháp lý. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định việc áp dụng Công văn số 02 trong trường hợp này là chưa phù hợp, do các giao dịch chuyển nhượng trước đều chưa được công chứng, đăng ký và người nhận chuyển nhượng chưa được xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm còn vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đo đạc, xác định ranh giới phần đất có thể phát mãi và chưa đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng. Trên cơ sở đó, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo, hủy một phần bản án sơ thẩm liên quan đến hợp đồng thế chấp và yêu cầu phát mãi tài sản để giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.
Thứ nhất, khó khăn chủ yếu nằm ở sự thiếu thống nhất trong việc đánh giá yếu tố ngay tình của Ngân hàng. Khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015 bảo vệ người thứ ba ngay tình với điều kiện chủ thể không biết và không thể biết về việc giao dịch trước đó vô hiệu. Một số Tòa án sơ thẩm vẫn dựa vào mức độ thẩm định thực tế tài sản để đánh giá tình trạng ngay tình của Ngân hàng, coi việc không kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản là căn cứ loại trừ tư cách người thứ ba ngay tình. Cách áp dụng này dẫn đến việc phủ nhận giá trị pháp lý của đăng ký quyền sử dụng đất và làm phát sinh tiêu chí ngoài luật định khi đánh giá ngay tình.
Thứ hai, sự lúng túng trong việc áp dụng Điều 133 BLDS năm 2015 đối với giao dịch thế chấp. Thực tiễn cho vẫn còn quan điểm coi thế chấp là GDDS khác theo hướng dẫn của Công văn số 64, từ đó áp dụng cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình cho Ngân hàng. Tuy nhiên về mặt lý luận, cách hiểu này phản ánh chưa đúng bản chất của thế chấp là biện pháp bảo đảm không làm phát sinh sự chuyển giao quyền đối với tài sản tại thời điểm xác lập giao dịch, dẫn đến việc áp dụng Điều 133 thiếu chính xác.
Thứ ba, về hệ quả tố tụng phát sinh từ việc áp dụng sai chế định người thứ ba ngay tình. Việc xác định không đúng tư cách pháp lý của Ngân hàng kéo theo những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án như không xác định rõ phạm vi tài sản có thể xử lý hay chưa đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng. Điều này làm giảm hiệu quả giải quyết tranh chấp và gia tăng nguy cơ bị hủy, sửa án ở cấp phúc thẩm.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về người thứ ba ngay tình
3.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
3.1.1. Làm rõ nội hàm "chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác"
Trên cơ sở nghiên cứu một số lý luận của các nhà nghiên cứu cũng như thực tiễn áp dụng, tác giả có kiến nghị về sửa đổi quy định của pháp luật như sau: Cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình cần được quy định triệt để hơn, trong đó, cần xác định "chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác" trong quy định của Điều 133 BLDS năm 2015. Trên thực tế, "chuyển giao tài sản" thường được hiểu là việc dịch chuyển quyền đối với tài sản thông qua các giao dịch dân sự. Trong khi đó, bản chất của giao dịch thế chấp về mặt lý luận không phải là hành vi chuyển giao tài sản, bởi tài sản thế chấp vẫn do bên thế chấp nắm giữ, điều này cũng được quy định rõ ràng tại khoản 2 Điều 317 BLDS năm 2015. Nếu xét về hậu quả pháp lý cuối cùng, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, tài sản thế chấp sẽ được giao cho bên nhận thế chấp để xử lý. Tuy nhiên, việc xử lý tài sản này không làm thay đổi bản chất của giao dịch thế chấp là một biện pháp bảo đảm không có sự chuyển giao, mà chỉ nên coi là hệ quả pháp lý, với mục đích khắc phục phần nghĩa vụ bị vi phạm.
Từ cách tiếp cận này, để tránh các cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn, khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015 nên được cân nhắc sửa đổi, bổ sung theo hướng khẳng định rõ rằng: trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sau đó "trở thành đối tượng của một giao dịch dân sự" với người thứ ba ngay tình, người này căn cứ vào việc đăng ký đó để xác lập và thực hiện giao dịch thì giao dịch với người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu.
3.1.2. Làm rõ căn cứ xác định tình trạng ngay tình của người thứ ba
Bên cạnh vấn đề về phạm vi "chuyển giao tài sản", một trong những hạn chế nổi bật khác của BLDS năm 2015 là chưa quy định rõ ràng và cụ thể các căn cứ để xác định tình trạng ngay tình của người thứ ba. Hiện nay, khái niệm "ngay tình" chủ yếu được hiểu theo nghĩa phủ định, tức là người thứ ba không biết và không thể biết về sự vô hiệu của giao dịch dân sự gốc. Tuy nhiên, pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí nào được dùng để đánh giá một người có thể biết hay không, dẫn đến tình trạng tùy nghi trong nhận định và áp dụng của các cơ quan tài phán.
Về mặt lý luận, tình trạng ngay tình cần được đánh giá dựa trên các tiêu chí khách quan, phản ánh mức độ thẩm tra, xác minh mà một người bình thường, hành xử cẩn trọng trong hoàn cảnh tương tự được kỳ vọng phải thực hiện trước khi xác lập giao dịch. Theo đó, người thứ ba được coi là ngay tình khi tài sản đã được đăng ký theo trình tự pháp luật quy định và người này đã căn cứ vào thông tin đăng ký để thực hiện giao dịch; khi không có dấu hiệu rõ ràng, công khai nào về khả năng vô hiệu của giao dịch trước đó mà một người có hiểu biết trung bình cần nhận thức được; hoặc khi người thứ ba đã thực hiện các bước xác minh hợp lý trong khuôn khổ khả năng tiếp cận thông tin thực tế của mình[8].
Do đó, kiến nghị được đặt ra là BLDS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng liệt kê một số căn cứ mang tính định hướng để xác định tình trạng ngay tình, hoặc giao Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật.
3.1.3. Xác định hợp lý trách nhiệm chứng minh trong việc xác lập tình trạng ngay tình
Liên quan mật thiết đến vấn đề căn cứ xác định tình trạng ngay tình là câu hỏi về phân bổ trách nhiệm chứng minh: bên nào có nghĩa vụ chứng minh người thứ ba có hoặc không có ngay tình trong một vụ tranh chấp cụ thể? Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, bởi việc phân bổ trách nhiệm chứng minh không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là người thứ ba trong giao dịch.
Theo nguyên tắc chung của tố tụng dân sự, người nào có yêu cầu thì người đó có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình. Tuy nhiên, đối với tình trạng ngay tình thì việc áp dụng cứng nhắc nguyên tắc này sẽ đặt ra những thách thức lớn về mặt thực tiễn chứng minh. Vì vậy, cần xây dựng một cơ chế suy đoán ngay tình có điều kiện: người thứ ba được suy đoán là ngay tình khi đã tham chiếu vào hệ thống đăng ký công khai của Nhà nước và không có căn cứ rõ ràng nào để nghi ngờ tính hợp lệ của tài sản. Khi đó, trách nhiệm chứng minh sẽ chuyển sang phía người yêu cầu tuyên bố giao dịch với người thứ ba vô hiệu, tức là bên muốn bác bỏ tình trạng ngay tình phải chứng minh rằng người thứ ba biết hoặc buộc phải biết về khiếm khuyết của giao dịch.
Cơ chế này vừa phù hợp với nguyên tắc bảo vệ niềm tin hợp pháp trong giao dịch dân sự, vừa tạo động lực cho các bên chủ động minh bạch thông tin, góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống đăng ký tài sản. Theo đó, kiến nghị được đặt ra là cần bổ sung quy định về suy đoán ngay tình và cơ chế phân bổ nghĩa vụ chứng minh tương ứng trong BLDS năm 2015 hoặc trong văn bản hướng dẫn thi hành.
3.2. Kiến nghị hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật
3.2.1. Sửa đổi, thống nhất nội dung các công văn hướng dẫn
Thực tiễn áp dụng pháp luật về người thứ ba ngay tình cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trong xét xử xuất phát từ tình trạng các công văn hướng dẫn còn mâu thuẫn, chồng chéo, hoặc chưa phù hợp với tinh thần của BLDS năm 2015. Một số công văn được ban hành trong bối cảnh pháp lý cũ, không được cập nhật kịp thời sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực.
Trước thực trạng đó, cần thiết phải tiến hành rà soát toàn diện các công văn hướng dẫn liên quan đến người thứ ba ngay tình, xác định rõ những nội dung còn hiệu lực, những nội dung cần sửa đổi và những nội dung cần bãi bỏ. Việc rà soát này cần được thực hiện có hệ thống, gắn liền với các quy định cụ thể của BLDS năm 2015, đồng thời tham chiếu thực tiễn xét xử để đánh giá mức độ phù hợp của từng hướng dẫn. Sau khi rà soát, cần kịp thời ban hành văn bản thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong toàn bộ hệ thống hướng dẫn áp dụng pháp luật.
3.2.2. Ban hành văn bản giải thích pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn
Bên cạnh việc sửa đổi các công văn hướng dẫn hiện hành, một giải pháp căn cơ hơn là Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn. Việc nâng cao giá trị pháp lý của văn bản hướng dẫn mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả nhằm áp dụng thống nhất trong toàn ngành.
3.2.3. Phát triển án lệ về người thứ ba ngay tình
Một hướng tiếp cận quan trọng khác trong việc hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật là đẩy mạnh phát triển án lệ liên quan đến người thứ ba ngay tình. Kể từ khi Tòa án nhân dân tối cao chính thức công nhận và áp dụng án lệ theo Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, hệ thống án lệ của Việt Nam đã từng bước được xây dựng và phát triển. Tuy nhiên, số lượng án lệ liên quan đến người thứ ba ngay tình vẫn còn hạn chế, chưa bao quát được đầy đủ các tình huống phức tạp phát sinh trong thực tiễn.
Do đó, cần tăng cường tuyển chọn, công bố và hướng dẫn áp dụng án lệ liên quan đến người thứ ba ngay tình, đặc biệt tập trung vào các tình huống về giao dịch thế chấp, tài sản chưa được đăng ký, và tranh chấp giữa người thứ ba ngay tình với chủ sở hữu ban đầu nhằm tận dụng ưu điểm phản ánh trực tiếp thực tiễn xét xử, mang tính cụ thể và có khả năng điều chỉnh linh hoạt hơn so với quy phạm thành văn.
3.3. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện
3.3.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ áp dụng pháp luật
Hiệu quả của bất kỳ quy định pháp luật nào, dù được soạn thảo hoàn thiện đến đâu, cũng phụ thuộc rất lớn vào năng lực và bản lĩnh của đội ngũ áp dụng pháp luật. Đối với lĩnh vực người thứ ba ngay tình, đây là một vấn đề pháp lý có độ phức tạp cao, đòi hỏi người áp dụng không chỉ nắm vững quy định thực định mà còn phải có khả năng tư duy lý luận, phân tích bối cảnh và cân nhắc hài hòa các lợi ích đối lập trong từng vụ việc cụ thể.
Do đó, cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán không chỉ trong nghiệp vụ xét xử, mà còn gắn liền với việc xây dựng các văn bản hướng dẫn vừa phù hợp với thực tiễn vừa đảm bảo thống nhất với lý luận pháp lý. Bên cạnh đó, cần tổ chức thường xuyên các hội thảo chuyên đề, tọa đàm trao đổi nghiệp vụ về các vấn đề pháp lý còn gây tranh cãi, trong đó có vấn đề bảo vệ người thứ ba ngay tình, nhằm tạo diễn đàn để các Thẩm phán cùng nhau thảo luận, thống nhất quan điểm và nâng cao chất lượng xét xử.
3.3.2. Tăng cường công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản hướng dẫn
Cần xây dựng cơ chế rà soát định kỳ, có hệ thống đối với toàn bộ văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giao dịch dân sự, trong đó xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì, quy trình thực hiện và tiêu chí đánh giá tính phù hợp của từng văn bản. Kết quả rà soát cần được công bố công khai và kịp thời chuyển hóa thành các văn bản thay thế, sửa đổi hoặc bãi bỏ theo đúng thẩm quyền
3.3.3. Ứng dụng công nghệ trong rà soát và cảnh báo xung đột pháp luật
Trước thực trạng hệ thống văn bản pháp luật và hướng dẫn áp dụng ngày càng đồ sộ và phức tạp đó, ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), vào công tác quản lý và vận hành hệ thống văn bản pháp luật là một giải pháp có tính khả thi cao và cần được ưu tiên thúc đẩy. Cụ thể, có thể kể đến một số hướng ứng dụng thiết thực như: áp dụng AI vào công tác rà soát, chọn lọc, loại bỏ hoặc thay thế những văn bản không còn phù hợp hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; xây dựng hệ thống cảnh báo tự động khi phát hiện có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản mới ban hành và các văn bản hiện hành; hoặc triển khai nền tảng tra cứu pháp luật thông minh, có khả năng tổng hợp, đối chiếu và cập nhật hiệu lực của văn bản theo thời gian thực, phục vụ nhu cầu của cả cơ quan áp dụng pháp luật lẫn người dân và doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa giải pháp công nghệ và nỗ lực cải cách thể chế sẽ tạo nền tảng vững chắc để xây dựng một hệ thống hướng dẫn pháp luật mạch lạc, nhất quán và có khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến đổi của thực tiễn.
Kết luận
Bảo vệ người thứ ba ngay tình là chế định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự. Mặc dù BLDS năm 2015 đã có những bước tiến đáng ghi nhận, thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc xuất phát từ sự thiếu rõ ràng trong quy định lập pháp lẫn sự chưa tương thích của các công văn hướng dẫn.
Để khắc phục, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện quy định của BLDS năm 2015, xây dựng hệ thống hướng dẫn áp dụng thống nhất, đến nâng cao năng lực đội ngũ Thẩm phán và ứng dụng công nghệ trong quản lý văn bản pháp luật. Đây là nền tảng cần thiết để cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình thực sự phát huy hiệu quả, góp phần củng cố niềm tin và sự ổn định trong quan hệ giao dịch dân sự.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội (1995), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.95.
2. Nguyễn Xuân Hiếu (2019), Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, Luận văn thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.18.
3. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ Luật Dân sự nước CHXHCN Việt Nam năm 2015, NXB. Tư pháp, Hà Nội, tr.477.
4. Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Dân sự 2, NXB. Tư pháp, Hà Nội, tr.99.
5. Bùi Hữu Toàn, Bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng với tư cách người thứ ba ngay tình trong tranh chấp tài sản bảo đảm, https://tapchinganhang.gov.vn/bao-ve-quyen-loi-cua-to-chuc-tin-dung-voi-tu-cach-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-trong-tranh-chap-tai-san-bao-dam-6905.html.
6. Bùi Thanh Vũ (2025), Bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự trong pháp luật Pháp và giá trị tham khảo cho Việt Nam, https://tapchicongthuong.vn/bao-ve-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-trong-giao-dich-dan-su-trong-phap-luat-phap-va-gia-tri-tham-khao-cho-viet-nam-131181.htm.
7. Nguyễn Văn Điền, Một số vấn đề về hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=649.
8. Bùi Hữu Toàn (2022), Bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng với tư cách người thứ ba ngay tình trong tranh chấp tài sản bảo đảm, https://tapchinganhang.gov.vn/bao-ve-quyen-loi-cua-to-chuc-tin-dung-voi-tu-cach-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-trong-tranh-chap-tai-san-bao-dam-6905.html.
[1] Bùi Hữu Toàn, Bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng với tư cách người thứ ba ngay tình trong tranh chấp tài sản bảo đảm, https://tapchinganhang.gov.vn/bao-ve-quyen-loi-cua-to-chuc-tin-dung-voi-tu-cach-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-trong-tranh-chap-tai-san-bao-dam-6905.html, truy cập ngày 27/1/2026.
[2] Trường Đại học Luật Hà Nội (1995), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.95.
[3] Nguyễn Xuân Hiếu (2019), Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, Luận văn thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 18.
[4] Bùi Thanh Vũ (2025), Bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự trong pháp luật Pháp và giá trị tham khảo cho Việt Nam, https://tapchicongthuong.vn/bao-ve-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-trong-giao-dich-dan-su-trong-phap-luat-phap-va-gia-tri-tham-khao-cho-viet-nam-131181.htm, truy cập ngày 27/01/2026.
[5] Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ Luật Dân sự nước CHXHCN Việt Nam năm 2015, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.477.
[6]Nguyễn Văn Điền, Một số vấn đề về hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=649, truy cập ngày 15/01/2026.
[7] Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Dân sự 2, NXB. Tư pháp, Hà Nội, tr.99.
[8] Bùi Hữu Toàn (2022), Bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng với tư cách người thứ ba ngay tình trong tranh chấp tài sản bảo đảm, https://tapchinganhang.gov.vn/bao-ve-quyen-loi-cua-to-chuc-tin-dung-voi-tu-cach-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-trong-tranh-chap-tai-san-bao-dam-6905.html, truy cập ngày 20/01/2026.
Phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án dân sự sơ thẩm tại TAND Khu vực 2 - Đà Nẵng - Ảnh: Thùy Dương - VKSND KV2.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Xác định nơi công cộng trong tội gây rối trật tự công cộng - Một số vướng mắc và đề xuất, kiến nghị
-
Thời gian công bố kết quả trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Các mốc thời gian sau ngày bầu cử ĐBQH khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 -
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân
Bình luận