Cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng dân sự

Ngày 10 tháng 3 năm 2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã liên tịch ban hành Thông tư số 07/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thông tư quy định việc phối hợp trong các nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, Tòa án; việc tham gia phiên tòa, phiên họp; chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ; gửi văn bản tố tụng; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị trong tố tụng dân sự.

Một nội dung trọng tâm của Thông tư là quy định cụ thể việc chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ giữa Tòa án và Viện kiểm sát. Việc chuyển hồ sơ để Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp được thực hiện theo khoản 2 Điều 220, Điều 292, khoản 3 Điều 318, khoản 2 Điều 323, khoản 2 Điều 336 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với phiên họp xét kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp phúc thẩm gửi đơn kháng cáo quá hạn, bản tường trình và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Viện kiểm sát; trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được, Viện kiểm sát phải trả lại cho Tòa án. Đối với phiên họp phúc thẩm xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, thời hạn nghiên cứu hồ sơ và trả lại là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ.

Đối với các phiên họp trong thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Tòa án gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở phiên họp; Viện kiểm sát trả lại hồ sơ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được.

Trong thủ tục phúc thẩm, khi Viện kiểm sát có yêu cầu nghiên cứu hồ sơ để xem xét kháng nghị, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát; chậm nhất là ngay sau khi hết thời hạn kháng nghị theo khoản 1 và khoản 2 Điều 280, khoản 2 Điều 322, khoản 2 Điều 372, khoản 2 Điều 442, khoản 3 Điều 446, Điều 450 và khoản 2 Điều 461 Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ sơ.

Trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, Tòa án chuyển hồ sơ trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp kháng nghị thực hiện theo khoản 3 Điều 336 và Điều 357; việc trả hồ sơ theo Điều 334 và Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự. 

Thông tư cũng quy định chặt chẽ về phương thức chuyển hồ sơ. Hồ sơ có thể được chuyển trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính; tài liệu phải được đánh số, sắp xếp theo khoản 2 Điều 204 Bộ luật Tố tụng dân sự và kèm theo bản kê danh mục. Khi nhận hồ sơ, cơ quan nhận phải kiểm tra niêm phong, đối chiếu tài liệu; trường hợp phát hiện thiếu tài liệu hoặc niêm phong không nguyên vẹn thì phải lập biên bản để phối hợp xử lý.

Trường hợp hồ sơ đã được chuyển cho Viện kiểm sát mà có tài liệu, chứng cứ được cung cấp hoặc thu thập bổ sung thì Tòa án phải chuyển ngay bản sao cho Viện kiểm sát. Ngược lại, tài liệu, chứng cứ do Viện kiểm sát thu thập được chuyển cho Tòa án theo khoản 6 Điều 97, khoản 2 Điều 330 và được đưa vào hồ sơ, bảo quản tại Tòa án theo khoản 1 Điều 107 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thông tư cũng quy định về việc thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị của Viện kiểm sát. Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định thực hiện các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Thông tư liên tịch; Kiểm sát viên được thực hiện các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị theo khoản 3, khoản 6 và khoản 8 Điều 58; khoản 4 Điều 236; điểm c khoản 1 Điều 254; Điều 255 và Điều 258 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo đó, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự; yêu cầu sao chụp tài liệu; yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn theo khoản 2 Điều 329 và Điều 357; yêu cầu cung cấp hồ sơ theo Điều 515; kiến nghị việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo khoản 1 Điều 194 và khoản 3 Điều 364 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ theo khoản 3 Điều 58 Bộ luật Tố tụng dân sự, trong đó nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập và lý do. Trước khi mở phiên tòa, phiên họp, Kiểm sát viên gửi văn bản yêu cầu cho Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự; sau khi thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải gửi cho Kiểm sát viên bản sao tài liệu, chứng cứ; trường hợp tài liệu, chứng cứ được thu thập tại phiên tòa, phiên họp thì việc công bố thực hiện theo điểm c khoản 1 Điều 254 và khoản 1 Điều 303 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên không thể thực hiện được hoặc Tòa án xét thấy không cần thiết thì chậm nhất đến ngày hết thời hạn mở phiên tòa, phiên họp theo quyết định của Tòa án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho Kiểm sát viên và nêu rõ lý do.

Tại phiên tòa, phiên họp, nếu Kiểm sát viên yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ thì phải nêu rõ nội dung và lý do; Thẩm phán, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận theo điểm c khoản 1 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do và được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp.

Về việc Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp trong tố tụng dân sự, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thông báo thụ lý vụ việc dân sự theo các điều 196, 285 và 365 hoặc thụ lý hồ sơ theo Điều 436, khoản 3 Điều 446, khoản 1 Điều 449 và Điều 455 Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp.

Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, phiên họp xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở phiên họp, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên họp.

Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với các vụ án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ theo khoản 2 Điều 97 và các điều 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105 và 106 Bộ luật Tố tụng dân sự; các vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng; các vụ án có đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở; các vụ án có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hoặc các vụ án chưa có điều luật để áp dụng theo khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án cùng cấp và Tòa án cấp dưới ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương XLI Bộ luật Tố tụng dân sự khi Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo về việc Tòa án, người có thẩm quyền không ra văn bản giải quyết trong thời hạn quy định hoặc khi có căn cứ xác định việc không ra văn bản giải quyết là không đúng quy định. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, Tòa án phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát; trường hợp vụ việc phức tạp thì phải thông báo lý do và trả lời trong thời hạn 15 ngày.

Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án cùng cấp kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án cấp mình và Tòa án cấp dưới khi nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo về việc Tòa án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật trong khi giải quyết; khi có căn cứ xác định việc Tòa án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong khi giải quyết. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, Tòa án phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát; trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời là 30 ngày.

Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án cùng cấp và Tòa án cấp dưới cung cấp hồ sơ, tài liệu về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo khi nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; khi Tòa án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của Viện kiểm sát; khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai nhưng người khiếu nại vẫn tiếp tục khiếu nại; hoặc khi cần xem xét hồ sơ, tài liệu để quyết định việc kiến nghị. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, Tòa án phải cung cấp hồ sơ, tài liệu cho Viện kiểm sát.

Trường hợp có căn cứ xác định việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án, người có thẩm quyền không đúng pháp luật, Viện kiểm sát kiến nghị Tòa án cùng cấp và Tòa án cấp dưới khắc phục vi phạm pháp luật; nếu Tòa án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu, kiến nghị thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án cấp trên. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, Tòa án phải xem xét, trả lời bằng văn bản; trường hợp vụ việc phức tạp thì phải thông báo lý do và trả lời trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị.

Thông tư liên tịch số 07/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2026 và thay thế Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31 tháng 8 năm 2016.

HOÀNG HIỆP

Nguồn ảnh: Internet.