Hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số ở Việt Nam
Bài viết phân tích một cách hệ thống cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số ở Việt Nam. Trên cơ sở khung tiêu chí gồm: (i) bảo đảm quyền con người; (ii) tính thống nhất; (iii) tính khả thi công nghệ; (iv) tính minh bạch; (v) an toàn dữ liệu, bài viết chỉ ra ba điểm nghẽn cốt lõi: (1) chưa luật hóa đầy đủ phiên tòa trực tuyến; (2) thiếu khung pháp lý chuyên biệt về chứng cứ điện tử; (3) chưa thống nhất và chưa ưu tiên thủ tục tố tụng điện tử. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình hoàn thiện pháp luật theo hướng “tố tụng số mặc định” kết hợp bảo đảm quyền tiếp cận công lý.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ trên cơ sở Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam trong giai đoạn mới, Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12//2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tại Chỉ thị 04/2025/CT-CA ngày 31/12/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hệ thống Tòa án nhân dân đã đặt ra mục tiêu quan trọng là triển khai Tòa án điện tử vào năm 2027 và Tòa án số vào năm 2030. Là ngành luật quan trọng có vai trò kiểm soát quyền lực hành pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước cơ quan công quyền, tố tụng hành chính (TTHC) cũng đứng trước yêu cầu phải số hóa nhanh chóng để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền con người và tiếp cận công lý.
Hiện nay ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề chuyển đổi số ngành Tòa án và thể chế tố tụng điện tử, chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự, nhưng hầu như không có sự đề cập và phân tích sâu các điểm nghẽn cụ thể trong pháp luật TTHC, đặc biệt là sự không đồng bộ giữa Luật TTHC năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2024, 2025 (Luật TTHC năm 2015) và các Nghị quyết hướng dẫn (như Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026 hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân, Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 về tổ chức phiên tòa trực tuyến). Bên cạnh đó, ở phương diện quốc tế, cũng chủ yếu tập trung vào chuyển đổi số trong tố tụng dân sự mà ít đề cập đến TTHC.
Do đó, việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về thủ tục TTHC trên môi trường số ở Việt Nam càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bài viết tập trung phân tích, đánh giá ba khía cạnh then chốt là phiên tòa trực tuyến, chứng cứ điện tử và nộp đơn, tài liệu, chứng cứ, tống đạt điện tử; trên cơ sở đó, chỉ ra những điểm còn mâu thuẫn, bất cập để đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và bảo đảm thực hiện hiệu quả pháp luật về thủ tục TTHC trên môi trường số.
1. Một số vấn đề lý luận về thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số
Thủ tục tố tụng hành chính là thủ tục được thực hiện để giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án[1].
Thủ tục TTHC trên môi trường số được hiểu là các thủ tục được thực hiện bằng phương tiện điện tử để giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án. Theo Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP, thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số bao gồm các thủ tục: nộp đơn khởi kiện; cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ; cấp, tống đạt, thông báo văn bản; nộp tạm ứng án phí, lệ phí, chi phí tố tụng, án phí, lệ phí, chi phí tố tụng; phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án hành chính… được thực hiện bằng phương tiện điện tử[2].
Hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số là việc xây dựng, ban hành các quy định pháp luật mới để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế những quy định pháp luật đã không còn phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu lực của pháp luật về thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số[3].
Để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về thủ tục TTHC trên môi trường số, cần dựa trên các tiêu chí sau:
Thứ nhất, tính hợp hiến và bảo đảm quyền con người. Trước hết, pháp luật về thủ tục TTHC trên môi trường số phải bảo đảm các quyền tố tụng cơ bản như quyền tiếp cận công lý, quyền được xét xử công bằng, quyền tranh tụng bình đẳng trước Tòa án. Trong điều kiện ứng dụng công nghệ số, các quy định không được làm hạn chế mà cần mở rộng khả năng thực hiện các quyền này thông qua các phương thức điện tử như nộp đơn trực tuyến, tham gia phiên tòa trực tuyến, tiếp cận bản án, quyết định của Tòa án. Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng bảo vệ quyền riêng tư, bí mật cá nhân và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể tham gia tố tụng[4].
Thứ hai, tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện ở việc không có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định của Luật TTHC với nhau và với quy định của các văn bản pháp luật có liên quan; đồng thời xem xét mức độ đồng bộ với hạ tầng công nghệ của Tòa án nhân dân, bảo đảm khả năng triển khai thống nhất trong thực tiễn[5].
Thứ ba, tính khả thi về mặt công nghệ. Theo đó, các quy định pháp luật phải tương thích với trình độ phát triển khoa học - công nghệ, mức độ số hóa của hệ thống Tòa án và khả năng tiếp cận công nghệ của người dân, doanh nghiệp. Việc xây dựng pháp luật không thể vượt quá năng lực hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực hiện có[6].
Thứ tư, tính minh bạch và khả năng tiếp cận của pháp luật. Các quy định pháp luật TTHC phải được xây dựng rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu và dễ áp dụng; đồng thời, phải được công bố rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi để người dân, cơ quan, tổ chức tiếp cận thông tin pháp lý[7].
Thứ năm, tính an toàn pháp lý và bảo vệ dữ liệu. Cần bảo đảm cơ chế pháp lý đầy đủ nhằm bảo vệ an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân trong quá trình tố tụng; bao gồm các quy định về bảo mật, phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm, cũng như trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong việc ngăn chặn rò rỉ, xâm phạm dữ liệu[8].
2. Thực trạng pháp luật về thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số ở việt nam
2.1. Quy định về phiên tòa trực tuyến
Phiên tòa trực tuyến đã được ghi nhận và tiến hành tổ chức theo quy định của Nghị quyết số 33/2021/QH15, Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến và tiếp tục được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP. Theo thống kê tại Hội nghị triển khai công tác năm 2026 của TANDTC, đến hết năm 2025 toàn quốc đã xét xử trực tuyến được 16.383 vụ việc[9], trong đó có một bộ phận không nhỏ số vụ án hành chính, từ đó, góp phần bảo đảm tiến độ giải quyết vụ án và mở rộng khả năng tiếp cận công lý.
Hạn chế, bất cập: (i), Luật TTHC năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây gọi là Luật TTHC hiện hành) và các văn bản hướng dẫn tồn tại sự không thống nhất khi Luật TTHC hiện hành chưa ghi nhận việc tổ chức phiên tòa dưới hình thức trực tuyến trong quy định của Luật, đặc biệt quy định về việc yêu cầu đương sự phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời… tại bàn Thư ký trong thời gian chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạc phiên tòa theo Điều 153 Luật TTHC năm 2015 là minh chứng rõ ràng thể hiện quy định về nội quy phiên tòa trong Luật TTHC năm 2015 được xây dựng chỉ để phục vụ phương thức xét xử trực tiếp, chứ hoàn toàn không phù hợp và khả thi với đặc thù của phiên tòa trực tuyến; (ii), quy định về phạm vi đối tượng được hỗ trợ để thực hiện phiên tòa trực tuyến còn hẹp là đương sự thuộc diện được trợ giúp pháp lý và không đủ điều kiện kỹ thuật để tham gia phiên tòa trực tuyến[10].
Phiên tòa trực tuyến hiện vẫn mang tính “giải pháp tình thế”, thiếu nền tảng pháp lý vững chắc. Điều này làm phát sinh rủi ro khi vận dụng quy định pháp luật để tổ chức phiên tòa trực tuyến (như tranh chấp về tính hợp lệ của thủ tục tố tụng, dễ bị bác bỏ nếu đương sự khiếu nại về tính hợp pháp), đồng thời hạn chế khả năng mở rộng và chuẩn hóa mô hình Tòa án số.
2.2. Chứng cứ điện tử
Pháp luật hiện hành đã bước đầu ghi nhận giá trị pháp lý của chứng cứ điện tử trong TTHC. Cụ thể, Điều 80 của Luật TTHC năm 2015 đã công nhận dữ liệu điện tử là một trong các nguồn chứng cứ, tương đồng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025)[11]. Đồng thời, trình tự, thủ tục giao nộp, tiếp nhận và xử lý chứng cứ điện tử trong TTHC cũng đã được cụ thể hóa tại Chương II của Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP, theo hướng về cơ bản tương tự như đối với tài liệu, chứng cứ truyền thống[12]. Tuy nhiên, việc quy định chứng cứ điện tử “tương tự” chứng cứ truyền thống cho thấy pháp luật hiện hành chưa nhận diện đầy đủ tính đặc thù của loại chứng cứ này, đặc biệt trong các vấn đề về xác thực, toàn vẹn dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư.
Chứng cứ điện tử là loại chứng cứ có tính đặc thù cao, phụ thuộc chặt chẽ vào hạ tầng công nghệ và môi trường số, khác biệt căn bản so với chứng cứ truyền thống về hình thức tồn tại, phương thức thu thập và cơ chế kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên, pháp luật TTHC hiện hành vẫn chưa thiết lập được một khung pháp lý đầy đủ và chuyên biệt đối với loại chứng cứ này. Cụ thể, chưa có quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục thu thập; chưa xác định chuẩn mực về hình thức tồn tại (dạng dữ liệu, định dạng, siêu dữ liệu); chưa có tiêu chí đánh giá độ tin cậy và tính toàn vẹn của dữ liệu; đồng thời còn thiếu cơ chế pháp lý hiệu quả nhằm bảo vệ quyền riêng tư trong quá trình thu thập, khai thác chứng cứ điện tử, như việc phân loại mức độ xâm phạm dữ liệu cá nhân hoặc ứng dụng các công nghệ bảo đảm tính xác thực như blockchain[13]. Hệ quả là pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu về tính khả thi công nghệ và an toàn pháp lý trong môi trường số, làm gia tăng rủi ro tranh chấp về giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng[14]. Việc thiếu vắng một chế định pháp lý riêng đối với chứng cứ điện tử cho thấy pháp luật hiện hành vẫn tiếp cận theo hướng “đồng nhất hóa” giữa chứng cứ điện tử và chứng cứ truyền thống, trong khi trên thực tế đây là hai loại chứng cứ có bản chất hoàn toàn khác nhau.
Hệ quả của việc thiếu một khung pháp lý đầy đủ và rõ ràng về chứng cứ điện tử là làm suy giảm đáng kể hiệu lực của cơ chế chứng minh trong TTHC trên môi trường số. Trước hết, việc không có tiêu chí pháp lý cụ thể để xác định tính xác thực, tính toàn vẹn và nguồn gốc của dữ liệu điện tử dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá giá trị chứng minh của loại chứng cứ này, qua đó làm gia tăng nguy cơ bị bác bỏ ngay cả đối với những chứng cứ hợp pháp[15]. Bên cạnh đó, sự thiếu vắng các quy định về bảo vệ dữ liệu và kiểm soát quá trình thu thập, khai thác chứng cứ điện tử còn tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền riêng tư, bí mật cá nhân và an toàn dữ liệu tố tụng của các chủ thể liên quan[16]. Ở cấp độ hệ thống, những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà còn làm suy giảm niềm tin của xã hội đối với tính công bằng, minh bạch và độ tin cậy của mô hình tố tụng số, từ đó cản trở tiến trình xây dựng Tòa án điện tử và Tòa án số trong thực tiễn[17].
2.3. Nộp đơn, tài liệu, chứng cứ và tống đạt điện tử
Pháp luật hiện hành đã bước đầu ghi nhận và cho phép thực hiện các thủ tục TTHC bằng phương tiện điện tử. Cụ thể, Điều 119 và Điều 120 của Luật TTHC năm 2015 quy định người khởi kiện có quyền lựa chọn nộp đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ đến Tòa án bằng phương thức điện tử thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Bên cạnh đó, Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP đã tiếp tục cụ thể hóa cơ chế này khi cho phép người tham gia tố tụng thực hiện việc nộp đơn, tài liệu, chứng cứ và cho phép Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thông qua Hệ thống dịch vụ công của Tòa án nhân dân kể từ ngày 01/3/2026[18]. Tuy nhiên, các quy định này vẫn dừng lại ở việc thừa nhận phương thức điện tử như một lựa chọn song song với phương thức truyền thống, chưa thiết lập cơ chế ưu tiên hoặc bắt buộc áp dụng, đồng thời còn tồn tại sự thiếu thống nhất về nền tảng kỹ thuật và thời điểm xác định hiệu lực pháp lý của việc nộp đơn điện tử.
Những hạn chế bất cập từ những quy định nêu trên:
Thứ nhất, tồn tại sự thiếu thống nhất giữa Luật TTHC năm 2015 và Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP về nền tảng kỹ thuật và thời điểm xác định ngày khởi kiện trong môi trường điện tử. Cụ thể, Luật TTHC năm 2015 quy định việc nộp đơn, tài liệu, chứng cứ bằng phương tiện điện tử được thực hiện thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án và xác định ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn. Trong khi đó, Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP lại quy định việc thực hiện giao dịch điện tử thông qua Hệ thống dịch vụ công của Tòa án và xác định ngày khởi kiện là thời điểm hệ thống xác nhận việc gửi đơn thành công. Sự khác biệt này không chỉ tạo ra xung đột trong áp dụng pháp luật mà còn gây khó khăn trong việc xác định chính xác thời điểm phát sinh quyền khởi kiện của đương sự, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống kỹ thuật mới chưa được triển khai đồng bộ trên thực tế.
Thứ hai, mặc dù pháp luật đã thừa nhận phương thức tố tụng điện tử, nhưng cách tiếp cận hiện hành vẫn dừng lại ở việc coi đây là một lựa chọn song song với phương thức truyền thống, chưa thiết lập cơ chế ưu tiên hoặc bắt buộc áp dụng trong những trường hợp phù hợp. Điều này dẫn đến thực tế phần lớn đương sự vẫn lựa chọn phương thức tố tụng truyền thống, làm hạn chế hiệu quả triển khai tố tụng số và chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động tư pháp[19].
Sự thiếu thống nhất và chưa rõ ràng gây khó khăn cho người dân khi khó có thể xác định được nền tảng để thực hiện quyền khởi kiện, quyền được tiếp cận công lý của mình; đồng thời, quy định cho phép lựa chọn phương thức nộp đơn, tài liệu, chứng cứ và tống đạt bằng phương tiện điện tử khiến phần lớn đương sự vẫn ưu tiên lựa chọn phương thức tố tụng truyền thống vốn đã quen thuộc, từ đó làm chậm quá trình chuyển đổi sang mô hình tố tụng số, cản trở mục tiêu triển khai trên phạm vi toàn quốc mô hình Tòa án điện tử vào năm 2027 và Tòa án số vào năm 2030. Những bất cập này cho thấy pháp luật hiện hành chưa thiết lập được một cơ chế tố tụng điện tử thống nhất và hiệu quả, đồng thời vẫn mang nặng tư duy “song hành” thay vì chuyển sang mô hình “tố tụng số mặc định”, vốn là xu hướng phổ biến trong tư pháp hiện đại.
3. Kinh nghiệm quốc tế về hoàn thiện pháp luật tố tụng trong bối cảnh chuyển đổi số
Hiện nay, trên thế giới, vấn đề chuyển đổi số trong lĩnh vực tố tụng và hoàn thiện thể chế pháp luật liên quan đến vấn đề này đã trở thành một xu thế tất yếu. Trong đó, có thể kể đến một số mô hình tiêu biểu như:
3.1. Liên minh châu Âu (EU)
Liên minh châu Âu là một trong những khu vực đi đầu trong chuyển đổi số hoạt động tư pháp, với lộ trình triển khai từ năm 2009 đến nay, kết hợp đồng bộ giữa giải pháp kỹ thuật và hoàn thiện khung pháp lý. Hệ thống tư pháp số của EU được xây dựng trên các nền tảng như cổng thông tin tư pháp điện tử, hệ thống trao đổi dữ liệu xuyên biên giới (e-CODEX) và cơ chế xét xử trực tuyến, đồng thời đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu liên thông dữ liệu giữa các quốc gia thành viên và bảo vệ dữ liệu cá nhân theo chuẩn chung của EU[20]. Trong giai đoạn 2024-2028, EU chuyển sang mô hình “số hóa mặc định” (digital by default), theo đó việc nộp tài liệu, trao đổi chứng cứ và sử dụng chứng cứ điện tử được quy định theo hướng bắt buộc áp dụng từ năm 2025. Tuy nhiên, EU vẫn duy trì các phương thức phi điện tử trong những trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý đối với các nhóm yếu thế, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả và tăng cường an ninh mạng, khả năng tương tác giữa các hệ thống[21].
Từ kinh nghiệm của EU có thể rút ra một số hàm ý quan trọng cho Việt Nam, bao gồm: (i) xây dựng lộ trình chuyển đổi số tư pháp mang tính dài hạn và có kiểm soát; (ii) kết hợp chặt chẽ giữa hoàn thiện pháp luật và phát triển hạ tầng kỹ thuật; (iii) bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu số hóa và bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân; và (iv) chú trọng tính liên thông hệ thống và cơ chế hỗ trợ nhằm tránh việc loại trừ các nhóm yếu thế trong tiếp cận công lý.
3.2. Singapore
Singapore được đánh giá là một trong những quốc gia đi đầu trong việc số hóa hoạt động tư pháp, với việc triển khai hệ thống eLitigation và ban hành Rules of Court 2021 (Quy tắc số S 914/2021). Theo đó, việc nộp, xử lý và quản lý hồ sơ điện tử được quy định theo hướng bắt buộc áp dụng trong hầu hết các thủ tục tố tụng. Hệ thống hồ sơ điện tử được thiết kế theo hướng tự động hóa, chuẩn hóa và kiểm soát chặt chẽ, qua đó hạn chế sai sót và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động tư pháp[22]. Bên cạnh đó, Singapore áp dụng rộng rãi các phiên điều trần trực tuyến với quy tắc nghi thức tố tụng và tiêu chuẩn bảo mật nghiêm ngặt; việc sử dụng tài liệu giấy chỉ được cho phép trong những trường hợp ngoại lệ và phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Tòa án. Đồng thời, pháp luật cũng thiết lập các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm an ninh, an toàn dữ liệu trong tố tụng điện tử[23].
Từ mô hình của Singapore có thể rút ra một số bài học quan trọng cho Việt Nam, bao gồm: (i) từng bước chuyển từ cơ chế khuyến khích sang bắt buộc áp dụng thủ tục tố tụng điện tử đối với những hoạt động phù hợp; (ii) xây dựng hệ thống kỹ thuật ổn định, đồng bộ và chuẩn hóa quy trình tố tụng nhằm giảm thiểu sai sót; (iii) thiết lập cơ chế hỗ trợ hiệu quả đối với các chủ thể không có điều kiện tiếp cận công nghệ; và (iv) đặc biệt chú trọng hoàn thiện các quy định về bảo mật và an toàn dữ liệu trong môi trường tố tụng số.
3.3. Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những quốc gia triển khai mạnh mẽ mô hình Tòa án điện tử từ năm 2017, với việc thành lập các tòa án trực tuyến chuyên biệt (Internet Courts) cho phép thực hiện toàn bộ quy trình tố tụng trên môi trường số. Hệ thống pháp luật liên quan đến tố tụng trực tuyến, chứng cứ điện tử và dữ liệu số được xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng thông qua các quy định chuyên biệt, tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động xét xử trực tuyến[24]. Một đặc điểm nổi bật của mô hình này là việc áp dụng nguyên tắc tự nguyện lựa chọn giữa phương thức trực tuyến và trực tiếp, qua đó bảo đảm quyền tự quyết của đương sự trong tố tụng. Đồng thời, Trung Quốc đã thiết lập cơ chế xác thực danh tính điện tử chặt chẽ, xây dựng hệ thống tài khoản tố tụng riêng cho từng chủ thể và công nhận giá trị pháp lý của chứng cứ điện tử, bao gồm cả dữ liệu được xác thực thông qua công nghệ blockchain. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật cũng hướng tới việc cụ thể hóa tiêu chí kiểm tra, đánh giá chứng cứ điện tử, kết hợp với việc ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và điện toán đám mây trong hoạt động của Tòa án[25].
Từ kinh nghiệm của Trung Quốc có thể rút ra một số hàm ý quan trọng cho Việt Nam, bao gồm: (i) cần xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật chuyên biệt đối với tố tụng trên môi trường số thay vì chỉ điều chỉnh rải rác; (ii) bảo đảm cơ chế linh hoạt giữa phương thức trực tuyến và trực tiếp nhằm bảo vệ quyền lựa chọn của đương sự; (iii) chú trọng phát triển hệ thống xác thực điện tử và hoàn thiện khung pháp lý về giá trị chứng cứ số; và (iv) tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ hiện đại gắn với việc ứng dụng các công nghệ mới trong hoạt động xét xử.
Với khả năng số hóa ở từng mức độ khác nhau, song các quốc gia, khu vực nêu trên đều mang đến cho Việt Nam bài học kinh nghiệm quý giá đối với việc hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, đó là việc uu tiên sửa luật chính thức ghi nhận các thủ tục số; bắt buộc hóa dần; tăng cường bảo mật và hỗ trợ đương sự yếu thế.
4. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số ở Việt Nam
Để phát huy tối đa vai trò của pháp luật TTHC trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước cơ quan công quyền, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, để hoàn thiện pháp luật về thủ tục TTHC trên môi trường số ở nước ta, cần thực hiện các giải pháp sau:
4.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục tố tụng hành chính trên môi trường số
Thứ nhất, cần sửa đổi các quy định về nộp đơn khởi kiện và thực hiện giao dịch điện tử theo hướng thống nhất nền tảng kỹ thuật và xác định rõ giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử. Hiện nay, sự không thống nhất giữa quy định của Luật TTHC hiện hành và Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP về nền tảng thực hiện và thời điểm xác định ngày khởi kiện đã gây ra những khó khăn nhất định trong thực tiễn áp dụng. Do đó, pháp luật cần được sửa đổi theo hướng quy định thống nhất việc thực hiện các thủ tục tố tụng điện tử thông qua Hệ thống dịch vụ công của Tòa án nhân dân, đồng thời xác định thời điểm khởi kiện là thời điểm hệ thống xác nhận việc gửi đơn thành công. Cách tiếp cận này không chỉ bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật mà còn phù hợp với bản chất của giao dịch điện tử trong môi trường số.
Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung Luật TTHC năm 2015 theo hướng ghi nhận phiên tòa trực tuyến là một hình thức xét xử chính thức, song song với phiên tòa truyền thống trong Luật TTHC năm 2015; cần quy định rõ nguyên tắc bình đẳng tranh tụng và bảo mật của phiên tòa trực tuyến.
Thứ ba, bổ sung, hoàn thiện cơ chế pháp lý về chứng cứ điện tử như xây dựng quy định về nguyên tắc trình tự, thủ tục, biện pháp thu thập chứng cứ điện tử; đảm bảo cân bằng với việc bảo vệ quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân; ghi nhận ứng dụng công nghệ blockchain trong thu thập, lưu trữ và khai thác chứng cứ điện tử.
Thứ tư, cần thiết lập cơ chế thực hiện thủ tục tố tụng trên môi trường số theo hướng bắt buộc; các phương thức truyền thống chỉ áp dụng trong trường hợp ngoại lệ, như khi có sự cố kỹ thuật, tài liệu không thể số hóa hoặc đương sự không đủ điều kiện tiếp cận công nghệ,... Ban hành hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện thủ tục tố tụng trên môi trường số bằng hình thức văn bản và kèm theo video hướng dẫn để người dân biết cách thức thực hiện các hoạt động nêu trên; từ đó, sẽ tránh được các khó khăn, lúng túng, trở ngại do người dân chưa quen với việc thực hiện tố tụng trong thời đại mới.
Thứ năm, xây dựng thể chế bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu cá nhân và dữ liệu tố tụng; bổ sung quy định về hình thức và mức xử phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin trong giao dịch điện tử và phiên tòa trực tuyến để răn đe, phòng ngừa, củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tố tụng trực tuyến; mở rộng phạm vi hỗ trợ đối với những đương sự không có điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin, bảo đảm họ vẫn có thể thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong mọi khâu tố tụng.
Thứ sáu, hợp nhất các quy định hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số (như Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP; Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP; Nghị quyết số 33/2021/QH15 và Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP) thành một văn bản thống nhất để bảo đảm quá trình tố tụng trực tuyến diễn ra liền mạch, tiết kiệm tối đa thời gian, chi phí tố tụng cho người dân, giảm bớt áp lực công việc cho hệ thống Tòa án.
4.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả pháp luật tố tụng hành chính trong xây dựng Tòa án điện tử và Tòa án số
Thứ nhất, về hạ tầng công nghệ, an ninh mạng. Tiếp tục đầu tư, nâng cấp hạ tầng Tòa án theo hướng số hóa toàn trình, không giấy tờ; bảo đảm liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia; bảo đảm an toàn, bảo mật và tuân thủ pháp luật về dữ liệu. Trước mắt, khẩn trương hoàn thiện hạ tầng để triển khai hiệu quả thủ tục tố tụng và hành chính tư pháp trên môi trường số theo Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP.
Thứ hai, về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực. TANDTC cần sớm ban hành quy chế hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng trên môi trường số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của ngành; đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội thảo, phiên tòa trực tuyến rút kinh nghiệm để nâng cao năng lực áp dụng pháp luật TTHC trên môi trường số.
Thứ ba, về phối hợp liên ngành. Tăng cường phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xây dựng hướng dẫn liên ngành về phiên tòa trực tuyến, trao đổi chứng cứ điện tử, nhằm bảo đảm hiệu quả giải quyết vụ án hành chính.
Thứ tư, giải pháp về tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Đẩy mạnh, đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến; bên cạnh các phương thức truyền thống như đăng tải văn bản pháp luật trên cổng thông tin điện tử của TANDTC, phổ biến trên báo chí, trang thông tin đại chúng, truyền hình cần đổi mới, đẩy mạnh các phương thức như tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; chiếu các phiên tòa trực tuyến mẫu… Đảm bảo việc truyền đạt là thiết thực, gần gũi với nhân dân, có sự linh hoạt để phù hợp với từng đối tượng, từng khu vực, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Thứ năm, cần đẩy mạnh hợp tác, học hỏi kinh nghiệm thông qua việc mời chuyên gia nước ngoài chia sẻ kinh nghiệm trong các buổi hội thảo, tọa đàm; tổ chức chương trình hợp tác, giao lưu với các quốc gia đã thực hiện thành công việc chuyển đổi số hoạt động tố tụng và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này như Liên minh châu Âu - EU, Trung Quốc, Singapore,... để được hỗ trợ, giúp đỡ, trao đổi kinh nghiệm liên quan đến việc hoàn thiện hạ tầng công nghệ và hoàn thiện pháp luật tố tụng trên môi trường số.
Kết luận
Hoàn thiện pháp luật về thủ tục TTHC trên môi trường số không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật pháp lý mà còn là bước đi quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia. Quá trình này đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa hoàn thiện pháp luật, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Tòa án, cũng như phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Việc tập trung khắc phục ba điểm nghẽn then chốt sẽ là nền tảng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, bảo đảm công lý, nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực, tăng cường tính minh bạch và hiệu lực, hiệu quả của hoạt động TTHC tại nước ta, đồng thời thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2023), Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân. https://chinhphu.vn.
2. Dương Quỳnh Hoa, & Chu Thị Thanh An (2024), Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng, Tạp chí Kiểm sát, (13).
3.European Commission. (2023). EU e-Justice Strategy 2024–2028. https://commission.europa.eu
4. European Union (2016), General Data Protection Regulation (GDPR). https://eur-lex.europa.eu
5. European Union (2022), Regulation (EU) 2022/850 on e-CODEX. https://eur-lex.europa.eu.
6. Hangzhou Internet Court (2017), Introduction to Internet Courts.
7. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2026), Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.
8. Luo, W. (2020), Chinese law and legal system on electronic evidence.
9. Mason, S. (2017). Electronic evidence. Institute of Advanced Legal Studies.
10. Nguyễn Đăng Dung (2016), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
11. Nguyễn Ngọc Điện (chủ biên) (2017), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia.
12. Nguyễn Ngọc Quý (2025), Chuyển đổi số trong ngành Tòa án. Tạp chí Tòa án nhân dân.
13. OECD. (2017), Open government: The global context and the way forward. https://www.oecd.org.
14.OECD. (2019), Digital government review. OECD Publishing. https://www.oecd.org.
15. Quốc hội (2013, 2025), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
16. Quốc hội (2015, 2025), Bộ luật Tố tụng dân sự.
17. Quốc hội (2015), Luật Tố tụng hành chính.
18. Quốc hội. (2016). Luật Tiếp cận thông tin. https://vbpl.vn.
19. Quốc hội. (2020). Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung). https://vbpl.vn.
20 Quốc hội. (2021). Nghị quyết số 33/2021/QH15 về tổ chức phiên tòa trực tuyến. https://quochoi.vn.
21.Singapore Judiciary (2021). eLitigation system overview. https://www.judiciary.gov.sg.
22. Singapore Supreme Court. (2021). Rules of Court 2021 (S 914/2021). https://www.judiciary.gov.sg.
23. Supreme People’s Court of China. (2021). Online litigation rules of the people’s courts.
24. Tòa án nhân dân tối cao (2026). Thông tin về Hệ thống dịch vụ công Tòa án. https://nopdonkhoikien.toaan.gov.vn/Login.aspx và http://capsaobanan.toaan.gov.vn/.
25. UNCITRAL. (2017). Technical notes on online dispute resolution. United Nations. https://uncitral.un.org.
26. World Bank. (2020). GovTech maturity index.https://www.worldbank.org.
[1] Xem: Quốc hội (2015), Luật Tố tụng hành chính, Điều 1 và Điều 3; đồng thời xem thêm: Nguyễn Ngọc Điện (chủ biên) (2017), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.15-20.
[2] Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2026), Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026; xem thêm: UNCITRAL (2017), Technical Notes on Online Dispute Resolution, United Nations, para. 6-10.
[3] Xem: Nguyễn Đăng Dung (2016), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.245-250; đồng thời xem: OECD (2019), Digital Government Review, OECD Publishing.
[4] Xem: Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 14, Điều 16 và Điều 102; đồng thời xem: Liên Hợp Quốc (1966), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Điều 14; European Commission (2023), e-Justice Strategy 2024-2028.
[5] Xem: Quốc hội (2015), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Điều 5 và Điều 12; đồng thời xem: Nguyễn Đăng Dung (2016), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. ĐHQG Hà Nội, tr.260-265.
[6] Xem: OECD (2019), Digital Government Review, OECD Publishing; World Bank (2020), GovTech Maturity Index: The State of Public Sector Digital Transformation; đồng thời xem: Nguyễn Ngọc Quý (2025), “Chiến lược chuyển đổi số ngành Tòa án…”, Tạp chí Tòa án nhân dân
[7] Xem: Quốc hội (2016), Luật Tiếp cận thông tin, Điều 3 và Điều 11; đồng thời xem: OECD (2017), Open Government: The Global Context and the Way Forward.
[8] Xem: Chính phủ (2023), Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân; đồng thời xem: European Union (2016), General Data Protection Regulation (GDPR); UNCITRAL (2017), Technical Notes on Online Dispute Resolution.
[9] Minh Nguyệt, (2025), Ngành Tòa án nhân dân triển khai công tác năm 2026, Báo Thanh tra, tại địa chỉ: https://thanhtra.com.vn/doi-noi-52FA82FBF/nganh-toa-an-nhan-dan-trien-khai-cong-tac-nam-2026-fd59f04dc.html, truy cập ngày 10/02/2026.
[10] Hiện nay, pháp luật tố tụng hành chính chưa có quy định trực tiếp trong Luật về phạm vi đối tượng được hỗ trợ tham gia phiên tòa trực tuyến. Nội dung này chủ yếu được suy ra từ các quy định về điều kiện tổ chức phiên tòa trực tuyến tại Thông tư liên tịch số 05/2021… Theo đó, việc hỗ trợ mới tập trung vào các đối tượng không có điều kiện kỹ thuật hoặc thuộc diện được trợ giúp pháp lý, dẫn đến phạm vi áp dụng còn hẹp và chưa bảo đảm tính phổ quát của tố tụng số.
[11] Quốc hội (2015), Luật Tố tụng hành chính, Điều 80; Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 94 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[12] Hội đồng Thẩm phán TANDTC (2026), Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP, Chương II; xem thêm: Dương Quỳnh Hoa, Chu Thị Thanh An (2024), “Thu thập chứng cứ điện tử…”, Tạp chí Kiểm sát, số 13/2024.
[13] Xem: Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Điều 80; Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP; đồng thời xem: Stephen Mason (2017), Electronic Evidence, Institute of Advanced Legal Studies; UNCITRAL (2017), Technical Notes on Online Dispute Resolution.
[14] Xem: OECD (2019), Digital Government Review; Nghị định 13/2023/NĐ-CP; European Union (2016), General Data Protection Regulation (GDPR).
[15] Xem: Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Điều 80; Stephen Mason (2017), Electronic Evidence.
[16] Xem: Nghị định 13/2023/NĐ-CP; European Union (2016), General Data Protection Regulation (GDPR)
[17] Xem: OECD (2019), Digital Government Review; UNCITRAL (2017), Technical Notes on Online Dispute Resolution.
[18] Hội đồng Thẩm phán TANDTC (2026), Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP; xem thêm: Tòa án nhân dân tối cao (2026), thông tin về triển khai Hệ thống dịch vụ công Tòa án.
[19] Xem: OECD (2019), Digital Government Review (về nguyên tắc “digital by default” trong dịch vụ công).
[20] European Commission (2023), e-Justice Strategy 2024–2028; Regulation (EU) 2022/850 on e-CODEX
[21] European Commission (2023); xem thêm: European Union (2016), General Data Protection Regulation (GDPR).
[22] Singapore Supreme Court (2021), Rules of Court 2021 (S 914/2021); xem thêm: Singapore Judiciary, eLitigation System Overview.
[23] Xem: Singapore Judiciary; OECD (2019), Digital Government Review.
[24] Supreme People’s Court of China (2021), Online Litigation Rules of the People’s Courts; xem thêm: Hangzhou Internet Court (2017) - mô hình thí điểm tòa án trực tuyến.
[25] Xem: Supreme People’s Court of China; đồng thời xem: Wei Luo (2020), Chinese Law and Legal System on Electronic Evidence; UNCITRAL (2017), Technical Notes on Online Dispute Resolution.
Các Ki-ốt thực hiện dịch vụ công trực tuyến dự kiến được triển khai trong thời gian tới - Ảnh: Trung tâm Phục vụ hành chính công TP. Hà Nội.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Sửa đổi Bộ luật Hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự: Những vấn đề trọng tâm đặt ra
-
Khánh thành hai tòa Tài xá Đền Mẫu Sáo Đền: Chung tay gìn giữ di sản, tri ân tiền nhân
Đền Mẫu Sáo Đền thờ Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, thân mẫu vua Lê Thánh Tông -
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc
-
Quốc hội khóa XVI dự kiến xem xét, thông qua 43 dự án luật, nghị quyết tại Kỳ họp thứ 2
-
Sự kiện Vịnh Cam Ranh năm 1946: Bài học về bản lĩnh kiên định độc lập và khát vọng hòa bình
Bình luận