Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý: Mở rộng cơ hội tiếp cận công lý cho người dân

(TCTA) - Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, số 05/2026/QH16. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế trợ giúp pháp lý, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân, nhất là đối với người nghèo, người yếu thế và các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội.

Hoàn thiện chính sách, pháp luật và các thiết chế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý

Việc ban hành Luật xuất phát từ yêu cầu chính trị, pháp lý và thực tiễn sâu sắc. Về chính trị, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống trợ giúp pháp lý chuyên nghiệp, hiện đại, dễ tiếp cận, phục vụ hiệu quả Nhân dân. Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng cũng nhấn mạnh nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật và các thiết chế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý.

Về thực tiễn, sau gần 08 năm thi hành, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã đạt nhiều kết quả tích cực, song cũng bộc lộ một số hạn chế. Phạm vi người được trợ giúp pháp lý còn hẹp; cơ chế cộng tác viên chưa thực sự thu hút mạnh mẽ nguồn lực xã hội; quy định về chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chưa phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý chưa được thể chế hóa đầy đủ. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu mới của đất nước.

Luật số 05/2026/QH16 có bố cục gồm 03 điều. Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trong đó sửa đổi, bổ sung 24 điều và bãi bỏ 02 điều. Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan. Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành. Cách thiết kế này thể hiện tinh thần lập pháp gọn, rõ, tập trung xử lý những vấn đề cấp thiết, đồng thời tạo cơ sở pháp lý linh hoạt cho việc tổ chức thi hành.

Mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý

Một trong những điểm mới nổi bật nhất của Luật là mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý. Luật bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với một số nhóm đối tượng như cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật. Đồng thời, Luật quy định trực tiếp một số nhóm được trợ giúp pháp lý như người thuộc hộ cận nghèo; người cao tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình; người nhiễm HIV.

Đáng chú ý, Luật bổ sung thêm nhiều đối tượng mới được trợ giúp pháp lý, gồm người dân tộc thiểu số thuộc dân tộc rất ít người; người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại; người gặp khó khăn đột xuất do thiên tai hoặc hỏa hoạn trong các vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả; cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý. Đây là bước mở rộng quan trọng, thể hiện rõ tính nhân văn, tiến bộ của chính sách pháp luật.

Luật hóa cơ chế trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân

Một điểm mới có ý nghĩa lớn đối với hoạt động tư pháp là việc luật hóa cơ chế trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân, trong điều tra hình sự và cơ chế phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Cơ chế này vốn đã được triển khai trong thực tiễn và phát huy hiệu quả, nay được nâng lên thành quy định của luật, tạo cơ sở pháp lý ổn định, thống nhất, lâu dài. Qua đó, quyền được trợ giúp pháp lý của người dân, nhất là trong các vụ việc tố tụng, được bảo đảm tốt hơn; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan liên quan cũng được xác định rõ ràng hơn.

Luật cũng thể hiện rõ tinh thần phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương. Theo quy định mới, việc thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước không còn bị giới hạn bởi các điều kiện địa bàn như trước đây, mà căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được trao thẩm quyền quyết định thành lập Chi nhánh, phù hợp với nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, Luật bổ sung các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ số trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Bộ Tư pháp được giao vai trò đầu mối trong xây dựng, quản lý, vận hành, nâng cấp hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý. Dữ liệu trợ giúp pháp lý sẽ được kết nối, tích hợp, chia sẻ với Cổng Pháp luật quốc gia, hình thành nền tảng dữ liệu liên thông, giúp người dân tiếp cận thông tin và dịch vụ trợ giúp pháp lý nhanh chóng, thuận tiện hơn.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính

Luật Trợ giúp pháp lý, số 05/2026/QH16 đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Một số nội dung trước đây được quy định chi tiết trong Luật năm 2017 như hồ sơ, thời hạn bổ nhiệm, cấp thẻ, miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý; thời hạn cử người thực hiện trợ giúp pháp lý trong một số vụ việc… nay được chỉnh sửa theo hướng tinh gọn, giao Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần đổi mới công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm tính linh hoạt trong thực tiễn thi hành.

Luật cũng chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý. Đối với trợ giúp viên pháp lý, Luật bổ sung các trường hợp không được bổ nhiệm, cấp thẻ theo hướng tương đồng với quy định về hành nghề luật sư; hoàn thiện quy định về miễn nhiệm, thu hồi thẻ; bổ sung trường hợp đương nhiên miễn nhiệm khi trợ giúp viên pháp lý chuyển công tác, thôi việc, bị cho thôi việc hoặc nghỉ hưu. Đối với cộng tác viên trợ giúp pháp lý, Luật mở rộng đối tượng tham gia, trong đó có một số công chức, viên chức đã nghỉ hưu, thôi việc hoặc viên chức đang công tác có kinh nghiệm pháp luật và được cơ quan đồng ý bằng văn bản. Cộng tác viên không chỉ thực hiện tư vấn pháp luật mà còn được thực hiện đại diện ngoài tố tụng.

Một nội dung đáng chú ý khác là tăng cường trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và Ủy ban nhân dân cấp xã trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Việc quy định rõ trách nhiệm giám sát, phối hợp triển khai ở cơ sở sẽ giúp chính sách trợ giúp pháp lý đi vào đời sống, đến gần hơn với người dân, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa bàn còn khó khăn.

Để Luật được triển khai hiệu quả, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thi hành; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn; tổ chức truyền thông, phổ biến rộng rãi nội dung của Luật; rà soát các văn bản liên quan và chỉ đạo địa phương triển khai thống nhất.

Có thể khẳng định, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý là bước tiến quan trọng trong hoàn thiện chính sách bảo đảm tiếp cận công lý ở Việt Nam. Với việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, luật hóa cơ chế phối hợp trong tố tụng, đẩy mạnh phân cấp, chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, Luật tạo nền tảng pháp lý hiện đại, nhân văn và hiệu quả hơn, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

QUANG PHÚC

Ngày 13/5/2026, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Cấn Đình Tài chủ trì Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, công bố các Luật đã được Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp thứ nhất thông qua. Ảnh: Khải Hoàn/TCTA