Một số bất cập trong việc áp dụng, thi hành án treo và kiến nghị hoàn thiện

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định, khi xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Biện pháp này thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự với người phạm tội. Mặc dù pháp luật về chế định này đã không ngừng hoàn thiện song vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục để việc áp dụng và thi hành án treo đạt hiệu quả trong thực tế.

Đặt vấn đề

Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho người bị kết án phạt tù, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù giam tại trại giam khi có những điều kiện nhất định, nhằm khuyến khích họ tự cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội[1]. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng và thi hành án treo trong thời gian qua đã bộc lộ không ít bất cập, cả về quy định pháp luật lẫn tổ chức thực hiện. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả của chính sách hình sự mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất công bằng, thiếu thống nhất trong xét xử và thi hành án. Bên cạnh đó, việc nhận thức và vận dụng các điều kiện cho hưởng án treo giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn có sự khác biệt, dẫn đến tình trạng áp dụng chưa thật sự chặt chẽ hoặc chưa phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ngoài ra, công tác giám sát, giáo dục người được hưởng án treo tại địa phương vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, phân tích những bất cập trong áp dụng và thi hành án treo là cần thiết, qua đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong thời gian tới.

1. Khái quát về chế định án treo và điều kiện được hưởng án treo

Án treo là một trong các biện pháp tác động mà nhà nước đã sử dụng để tác động đến người phạm tội. Trải qua quá trình lịch sử khá dài, án treo ngày càng khẳng định được tính ưu việt của nó. Chế định án treo là một biểu hiện rõ nét của sự kết hợp hài hòa giữa trừng trị với khoan hồng, đồng thời cũng thể hiện sự tham gia của nhân dân vào việc giám sát người phạm tội, qua đó đã giáo dục, cải tạo họ để trở thành người có ích cho xã hội.

Ở Việt Nam, chế định án treo được quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) (viết tắt là BLHS 2015) và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP). Theo đó, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ chấp hành hình phạt tù[2].

Từ quy định trên có thể thấy án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và được Tòa án áp dụng trong quá trình xét xử vụ án khi người bị kết án đáp ứng điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 65 BLHS 2015. Về hậu quả pháp lý, người bị kết án được hưởng án treo sẽ được miễn chấp hành hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên nếu không vi phạm điều kiện thử thách của án treo. Tuy nhiên người bị kết án vẫn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung (nếu bị áp dụng) cũng như các quyết định khác có trong bản án và họ vẫn thuộc trường hợp có án tích nếu không thuộc các trường hợp không có án tích được quy định tại khoản 2 Điều 69 và khoản 1 Điều 107 BLHS 2015[3].

Để được hưởng án treo, người phạm tội cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP) như sau:

Thứ nhất, điều kiện về mức hình phạt.

Người bị kết án chỉ có thể được xem xét cho hưởng án treo khi mức hình phạt tù mà Tòa án tuyên là không quá 03 năm. Đây là điều kiện đầu tiên, có ý nghĩa như giới hạn pháp lý nhằm khoanh vùng phạm vi áp dụng án treo đối với những trường hợp có mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa đến mức cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi đời sống cộng đồng. Quy định này thể hiện rõ bản chất của án treo là chế định khoan hồng có điều kiện, không áp dụng tràn lan mà chỉ đặt ra đối với những người bị xử phạt tù ở mức thấp. Do đó, mức hình phạt không quá 03 năm vừa là căn cứ định lượng, vừa là cơ sở để Tòa án tiếp tục đánh giá các điều kiện khác về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và khả năng tự cải tạo của người phạm tội.

Thứ hai, điều kiện về nhân thân người phạm tội.

Người được xem xét hưởng án treo phải có nhân thân cho thấy ngoài lần phạm tội này, họ về cơ bản chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc. Điều kiện này có ý nghĩa quan trọng vì án treo đặt niềm tin vào khả năng tự cải tạo của người phạm tội trong môi trường xã hội bình thường. Tuy nhiên, pháp luật không đánh giá nhân thân theo hướng tuyệt đối hóa lý lịch “chưa từng vi phạm”, mà có sự phân hóa hợp lý. Người đã từng bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, đã được xóa án tích, hoặc đã từng bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý, vẫn có thể được xem xét hưởng án treo nếu tính chất, mức độ của tội phạm mới không nghiêm trọng hoặc họ chỉ giữ vai trò không đáng kể trong vụ án. Cách tiếp cận này bảo đảm sự công bằng, tránh việc một sai phạm trong quá khứ đã được pháp luật ghi nhận là không còn hậu quả pháp lý lại tiếp tục trở thành rào cản tuyệt đối đối với chính sách khoan hồng.

Thứ ba, điều kiện về tình tiết giảm nhẹ.

Người bị kết án phải có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, đồng thời không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 BLHS. Trường hợp có tình tiết tăng nặng, số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng ít nhất 02 tình tiết và vẫn phải có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51. Quy định này cho thấy án treo không chỉ phụ thuộc vào mức hình phạt, mà còn phải dựa trên sự đánh giá toàn diện về mức độ đáng được khoan hồng của người phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ là cơ sở phản ánh thái độ khai báo, ăn năn hối cải, việc khắc phục hậu quả, hoàn cảnh phạm tội hoặc những yếu tố nhân đạo khác. Vì vậy, yêu cầu về số lượng và chất lượng tình tiết giảm nhẹ góp phần bảo đảm rằng án treo chỉ được áp dụng đối với trường hợp thật sự có căn cứ để tin rằng việc không buộc chấp hành hình phạt tù vẫn đáp ứng mục đích giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm.

Thứ tư, điều kiện về nơi cư trú hoặc nơi làm việc.

Người bị kết án phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Đây là điều kiện mang tính bảo đảm cho khả năng thi hành án treo trên thực tế. Nếu người được hưởng án treo không có địa chỉ cư trú cụ thể hoặc không có môi trường làm việc ổn định, việc giám sát, giáo dục sẽ gặp khó khăn, thậm chí làm mất đi ý nghĩa của chế định án treo. Nơi cư trú rõ ràng được hiểu là nơi thường trú hoặc tạm trú có địa chỉ xác định cụ thể, nơi người được hưởng án treo sẽ sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo; còn nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Quy định này cho thấy án treo không chỉ là quyết định khoan hồng của Tòa án, mà còn là một cơ chế thi hành hình phạt gắn với trách nhiệm quản lý, giám sát của cộng đồng, cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương.

2. Một số bất cập trong việc áp dụng và thi hành án treo

Thứ nhất, bất cập trong việc Tòa án xem xét điều kiện để áp dụng án treo.

Mặc dù pháp luật hiện hành đã có những quy định cụ thể về điều kiện để người bị kết án được xét hưởng án treo, tuy nhiên thực tiễn xét xử vẫn còn những quan điểm trái chiều khi xác định điều kiện để áp dụng án treo. Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP) nêu rõ việc áp dụng án treo được thực hiện nếu “nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù”. Người phạm tội được áp dụng điều kiện này nếu Tòa án nhận thấy họ có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội[4]. Tuy nhiên hướng dẫn này vẫn còn mang tính chất định tính dẫn đến việc áp dụng án treo có những quan điểm khác nhau trên thực tế.

Trường hợp thứ nhất: người phạm tội đã đủ điều kiện để được hưởng án treo nhưng Tòa án lại không cho hưởng án treo.

Ngày 16/01/2024, bị cáo Vừ Mí D, sinh năm 1996 bị TAND huyện B, tỉnh B xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015. Theo nội dung bản án, bị cáo Vừ Mí D không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Mặc dù có các yếu tố nhân thân và được hưởng tình tiết giảm nhẹ như trên nhưng bị cáo Vừ Mí D vẫn bị xử phạt tù mà không cho hưởng án treo. Nếu đối chiếu với các điều kiện được hưởng án treo có thể thấy trong vụ án này Vừ Mí D đã đủ điều kiện để được hưởng án treo, cụ thể mức hình phạt tù Tòa án tuyên không quá 03 năm, người phạm tội có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, như vậy phản ánh được khả năng tự cải tạo của người phạm tội. Việc cho người phạm tội được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nhưng Hội đồng xét xử lại không áp dụng quy định về án treo là không hợp lý, gây bất lợi cho người phạm tội[5].

Trường hợp thứ hai: các vụ án có tính chất tương tự nhưng Tòa án lại có quan điểm khác nhau về việc áp dụng án treo.

Vụ án 1: Ngày 31/7/2023, TAND tỉnh L mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Hồ Ngọc T, kết quả giải quyết vụ án xác định bị cáo phạm tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 BLHS 2015. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định bị cáo Hồ Ngọc T có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân tốt ngoài lần phạm tội này chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp ổn định, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, là lao động chính trực tiếp nuôi cha mẹ già và 02 con nhỏ, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Kết quả bị cáo Hồ Ngọc T bị xử phạt 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm[6].

Vụ án 2: Ngày 27/02/2024, TAND tỉnh Đ mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị C, kết quả giải quyết vụ án xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015. Xét về kháng cáo xin hưởng án treo, Tòa án cấp phục thẩm xác định bị cáo Nguyễn Thị C được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có làm đơn xin miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Mặc dù vậy, Hội đồng xét xử vẫn quyết định giữ nguyên phán quyết của bản án sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị C 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản mà không cho hưởng án treo[7].

Nếu so sánh tính chất của hai vụ án nêu trên có thể thấy, các bị cáo đều bị xử phạt tù dưới 03 năm, có những đặc điểm nhân thân và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tương tự nhau song quan điểm về việc cho người bị kết án được hưởng án treo của Tòa án lại hoàn toàn khác biệt, điều này cho thấy sự thiếu thống nhất trong việc đánh giá các điều kiện được hưởng án treo của Tòa án và chưa thể hiện được chính sách nhân đạo của chế định án treo.

Thứ hai, bất cập về trường hợp không được hưởng án treo.

Khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP) quy định người phạm tội 02 lần trở lên (trừ một trong các trường hợp sau: Người phạm tội là người dưới 18 tuổi; Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng; Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể; Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú) thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Quy định không cho hưởng án treo trong trường hợp này có phần chưa hợp lý, chưa đảm bảo tính công bằng bởi tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” đã được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025). Hơn nữa, phạm tội nhiều lần chưa hẳn phản ánh tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ như 02 trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: A trộm cắp tài sản của B một chiếc điện thoại di động trị giá 05 triệu đồng, sau đó trộm cắp của C chiếc xe máy trị giá 06 triệu đồng. Tổng giá trị tài sản A chiếm đoạt là 11 triệu đồng và A bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 với tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g Điều 52 BLHS năm 2015.

Trường hợp thứ hai: B trộm cắp tài sản của H một chiếc xe máy SH trị giá 55 triệu đồng và B bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, A thuộc trường hợp không cho hưởng án treo mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015; trong khi đó B có thể được cho hưởng án treo nếu đủ điều kiện[8].

Thứ ba, bất cập về giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú của người được hưởng án treo.

Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 quy định người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú khi có lý do chính đáng, nhưng phải xin phép và thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Khi vắng mặt, người được hưởng án treo phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục. Trường hợp không đồng ý, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Quy định này cho thấy pháp luật mới chỉ đặt ra nghĩa vụ trả lời bằng văn bản của các cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp không chấp thuận cho người hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, trong khi chưa quy định rõ hình thức thể hiện sự đồng ý. Đây là điểm bất cập vì có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng tùy tiện trong thực tiễn[9]. Nếu việc đồng ý chỉ được thực hiện bằng lời nói, người được hưởng án treo sẽ không có căn cứ pháp lý để chứng minh mình đã được phép vắng mặt. Khi phát sinh tranh chấp hoặc khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, quyền và lợi ích hợp pháp của họ có thể bị ảnh hưởng, thậm chí có nguy cơ bị xem là vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Trong trường hợp nghiêm trọng, Tòa án có thẩm quyền có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo[10].

Bất cập này càng đáng chú ý trong bối cảnh thực tế nhiều người chấp hành án treo có nhu cầu rời khỏi địa phương để lao động, học tập, sinh sống hoặc giải quyết công việc cá nhân. Nếu không có cơ chế ghi nhận rõ ràng bằng văn bản, công tác quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền sẽ gặp khó khăn, đồng thời người được hưởng án treo cũng thiếu cơ sở để bảo vệ mình khi thực hiện quyền vắng mặt hợp pháp.

Mặt khác, sự thiếu thống nhất còn thể hiện khi đối chiếu với Điều 89 Luật Thi hành án hình sự năm 2025. Theo quy định này, đối với trường hợp người được hưởng án treo có nguyện vọng làm việc, học tập ngoài nơi cư trú, Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục phải trả lời bằng văn bản, dù đồng ý hay không đồng ý. Trong khi đó, đối với việc xin phép vắng mặt tại nơi cư trú theo Điều 87, pháp luật lại không quy định rõ hình thức văn bản đối với trường hợp đồng ý. Sự không thống nhất này dễ gây lúng túng khi triển khai, làm giảm tính minh bạch trong thi hành án treo và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án.

Thứ tư, bất cập về vai trò của Tòa án trong thi hành án treo.

Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) cấp xã là chủ thể trực tiếp đảm nhận việc quản lý, giám sát và giáo dục người được hưởng án treo, qua đó giữ vị trí quan trọng trong bảo đảm hiệu quả thi hành án hình sự tại cộng đồng. Thông qua việc tiếp nhận hồ sơ, tổ chức theo dõi, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ và quá trình rèn luyện của người chấp hành án, UBND cấp xã góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, giúp họ khắc phục sai phạm và từng bước ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng[11]. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả chức năng này, UBND cấp xã cần có cơ chế phối hợp đồng bộ và sự hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời từ các cơ quan tư pháp, nhất là Tòa án. Thực tế cho thấy, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa quy định rõ thẩm quyền của Tòa án trong việc cấp “Sổ theo dõi người được hưởng án treo” cho người chấp hành án, cũng như trình tự bàn giao, quản lý và lưu giữ loại sổ này tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú. Khoảng trống pháp lý này làm phát sinh cách hiểu và cách thực hiện khác nhau giữa các địa phương. Nhiều trường hợp Tòa án không cấp hoặc chậm chuyển sổ theo dõi, khiến UBND cấp xã gặp khó khăn trong việc ghi nhận việc trình diện, theo dõi quá trình chấp hành nghĩa vụ và đánh giá kết quả rèn luyện hằng tháng của người được hưởng án treo. Bên cạnh đó, xét từ góc độ bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án, sổ theo dõi còn có ý nghĩa như một căn cứ xác nhận quan trọng khi họ cần xuất trình với Công an cấp xã hoặc cảnh sát khu vực nơi tạm trú để chứng minh tình trạng cư trú, lao động và việc tuân thủ pháp luật.

Bên cạnh đó, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cũng chưa quy định rõ trách nhiệm của Tòa án trong việc kiểm tra, giám sát và hướng dẫn nghiệp vụ đối với các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý, giám sát người được hưởng án treo. Việc thiếu vắng cơ chế pháp lý này đã làm hạn chế vai trò trung tâm của Tòa án trong thi hành án hình sự, đồng thời dẫn đến nguy cơ buông lỏng công tác quản lý, giáo dục người được hưởng án treo, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả và tính nghiêm minh của hoạt động thi hành án trên thực tế[12].

3. Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng và thi hành án treo

Thứ nhất, cần hoàn thiện quy định về điều kiện áp dụng án treo theo hướng cụ thể hóa tiêu chí “xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù”, bởi đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định nhưng hiện vẫn còn mang tính định tính, dễ dẫn đến sự khác biệt trong nhận thức và áp dụng giữa các Tòa án. Theo đó, Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần tiếp tục hướng dẫn rõ hơn các căn cứ đánh giá khả năng tự cải tạo của người phạm tội, nguy cơ gây nguy hiểm cho xã hội, cũng như khả năng ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội khi cho hưởng án treo. Các căn cứ này cần được xác định trên cơ sở tổng hợp nhiều yếu tố như nhân thân, thái độ khai báo, mức độ ăn năn hối cải, việc khắc phục hậu quả, ý kiến của bị hại, vai trò của người phạm tội trong vụ án, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp, nơi cư trú và khả năng tái phạm. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm lập luận của Tòa án trong bản án, đặc biệt trong trường hợp người bị kết án đã đáp ứng các điều kiện cơ bản về mức hình phạt, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và nơi cư trú hoặc nơi làm việc ổn định nhưng vẫn không được hưởng án treo. Khi đó, Tòa án phải chỉ ra lý do cụ thể, có căn cứ thực tế chứng minh việc buộc người phạm tội chấp hành hình phạt tù là thật sự cần thiết, tránh sử dụng những nhận định chung chung như “để răn đe, phòng ngừa chung”. Bên cạnh đó, TANDTC cần tăng cường tổng kết thực tiễn xét xử, ban hành án lệ, thông báo rút kinh nghiệm hoặc hướng dẫn nghiệp vụ đối với các trường hợp điển hình về cho hưởng hoặc không cho hưởng án treo, nhằm bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật. Việc hoàn thiện theo hướng này không chỉ hạn chế tình trạng áp dụng án treo tùy nghi, thiếu thống nhất, mà còn góp phần bảo đảm chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị kết án và nâng cao niềm tin của xã hội vào tính công bằng, minh bạch của hoạt động xét xử.

Thứ hai, để bảo đảm tính công bằng, hợp lý và nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, cần xem xét sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP) theo hướng không quy định cứng nhắc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là căn cứ đương nhiên không cho hưởng án treo. Thay vào đó, tình tiết này chỉ nên được xem là một trong các yếu tố để Tòa án cân nhắc khi quyết định cho hưởng án treo trên cơ sở đánh giá toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác. Đồng thời, cần bổ sung các tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ nguy hiểm trong trường hợp phạm tội nhiều lần như tổng giá trị tài sản chiếm đoạt, tính chất của từng lần phạm tội, khoảng thời gian giữa các lần phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội… nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất. Bên cạnh đó, việc sửa đổi cũng cần bảo đảm sự thống nhất với quy định của Bộ luật Hình sự, tránh tình trạng một tình tiết vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, vừa là căn cứ loại trừ cơ hội hưởng án treo, gây bất lợi kép cho người phạm tội. Việc trao quyền đánh giá linh hoạt hơn cho Tòa án sẽ góp phần bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Thứ ba, cần sửa đổi khoản 2 Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 theo hướng mọi trường hợp đồng ý hoặc không đồng ý việc vắng mặt tại nơi cư trú của người được hưởng án treo đều phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm, lý do vắng mặt và trách nhiệm của người chấp hành án trong thời gian vắng mặt. Quy định như vậy không chỉ bảo đảm tính thống nhất của pháp luật mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thực tiễn.

Thứ tư, đối với thi hành án treo, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần bổ sung quy định rõ ràng về trách nhiệm của Tòa án trong việc cấp “Sổ theo dõi người được hưởng án treo” cho người chấp hành án. Đồng thời, Tòa án cần có trách nhiệm chuyển một bản sổ này cho UBND cấp xã nơi người đó cư trú để phục vụ việc quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Thực tiễn cho thấy, do chưa có quy định bắt buộc, thống nhất nên ở một số nơi, Tòa án chưa thực hiện hoặc thực hiện chậm việc cấp, chuyển giao sổ theo dõi, làm ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp giữa Tòa án và chính quyền cơ sở trong công tác quản lý người được hưởng án treo.

Ngoài ra, khoảng trống pháp lý này cũng phần nào làm giảm sự tham gia của gia đình, cộng đồng dân cư và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục, hỗ trợ người chấp hành án khắc phục sai phạm và tái hòa nhập cộng đồng. Vấn đề này đặc biệt đáng lưu ý đối với người chưa thành niên phạm tội, bởi đây là nhóm cần được theo dõi, định hướng và hỗ trợ thường xuyên thông qua sự phối hợp giữa cơ quan tư pháp, chính quyền địa phương và gia đình. Vì vậy, việc bổ sung quy định về cấp, chuyển giao và lưu giữ sổ theo dõi không chỉ giúp nâng cao hiệu quả thi hành án treo mà còn góp phần bảo đảm mục tiêu nhân đạo, phòng ngừa tái phạm và hỗ trợ tái hòa nhập xã hội của pháp luật hình sự Việt Nam.

Kết luận

Án treo là chế định quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam, thể hiện sự kết hợp giữa tính nghiêm minh và chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Việc áp dụng án treo đúng đắn không chỉ tạo điều kiện cho người bị kết án tự cải tạo trong môi trường xã hội bình thường, mà còn góp phần giảm áp lực cho hệ thống giam giữ và thúc đẩy tái hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng và thi hành án treo hiện nay vẫn còn tồn tại một số bất cập, nhất là sự thiếu thống nhất trong đánh giá điều kiện cho hưởng án treo, quy định chưa thật sự hợp lý về trường hợp không được hưởng án treo, cũng như những hạn chế trong cơ chế quản lý, giám sát người chấp hành án tại địa phương. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng cụ thể, minh bạch và khả thi hơn; đồng thời nâng cao trách nhiệm lập luận của Tòa án và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong thi hành án. Những giải pháp này sẽ góp phần bảo đảm án treo được áp dụng công bằng, thống nhất, đúng mục đích và phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

 

PHẠM MINH VƯƠNG (Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi)

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thị Trâm Anh, Những bất cập tồn tại về chế định án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số chuyên đề 3, năm 2020.

2. Trịnh Thị Hạnh, Hoàn thiện quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số kỳ 2 (447), năm 2026.

3. Phan Thị Phương Hiền, Quy định về án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 9, năm 2024.

4. Nguyễn Phi Hùng, Bàn về chế định án treo: Bất cập và kiến nghị hoàn thiện, https://lsvn.vn/ban-ve-che-dinh-an-treo-bat-cap-va-kien-nghi-hoan-thien-1685034569-a130828.html.

5. Nguyễn Ngọc Kiện, Trương Thị Thu Hằng, Hồ Minh Tùng, Một số bất cập của luật thi hành án hình sự năm 2019 về án treo và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kiểm sát, số 6, năm 2023.

6. Hoàng Nguyên Thắng, Thẩm quyền giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật hiện hành, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,số 22, năm 2021.

7. Lê Thị Hồng Xuân, Quy định án treo trong Bộ luật Hình sự việt nam năm 2015, nhìn từ quy định pháp luật của một số nước, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 10, năm 2019.


[1] Nguyễn Thị Trâm Anh, Những bất cập tồn tại về chế định án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số chuyên đề 3, năm 2020, tr.28.

[2] Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP).

[3] Phan Thị Phương Hiền, Quy định về án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 9, năm 2024, tr.66.

[4] Khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP).

[5] Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của TAND huyện B, tỉnh B, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1406293t1cvn/chi-tiet-ban-an.

[6] Bản án hình sự phúc thẩm số 94/2023/HS-PT ngày 31/7/2023 của TAND tỉnh L, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1326748t1cvn/chi-tiet-ban-an.

[7] Bản án hình sự phúc thẩm số 34/2024/HS-PT ngày 27/02/2024 của TAND tỉnh Đ, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1419593t1cvn/chi-tiet-ban-an.

[8] Nguyễn Thị Trâm Anh, Những bất cập tồn tại về chế định án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số chuyên đề 3, năm 2020, tr.31.

[9] Nguyễn Ngọc Kiện, Trương Thị Thu Hằng, Hồ Minh Tùng, Một số bất cập của luật thi hành án hình sự năm 2019 về án treo và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kiểm sát, số 6, năm 2023, tr.21.

[10] Điều 89 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

[11] Hoàng Nguyên Thắng, Thẩm quyền giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật hiện hành, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,số 22, năm 2021, tr.43.

[12] Trịnh Thị Hạnh, Hoàn thiện quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số kỳ 2 (447), năm 2026.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.