Một số vấn đề về giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất và thực tiễn áp dụng
Trong thực tiễn, “văn bản hợp nhất” thường được sử dụng để chỉ văn bản được tạo ra bằng cách gộp nội dung văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản được sửa đổi, bổ sung, giúp người đọc dễ dàng tra cứu, theo dõi quy định hiện hành, thuận tiện trong áp dụng. Tuy nhiên, việc xác định chính xác giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất vẫn còn có sự nhầm lẫn, dẫn đến việc áp dụng trong thực tế gặp lúng túng, vướng mắc. Bài viết này, tác giả phân tích, làm rõ giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất, phân biệt văn bản hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
1. Quy định của pháp luật về văn bản hợp nhất
Hiện nay, bên cạnh thuật ngữ “văn bản hợp nhất” thì còn có thuật ngữ “hợp nhất văn bản”, hai thuật ngữ này dường như là sự đảo từ ngữ cho nhau; tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa thì hai cụm từ này không phải là một, mà là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, đã được ghi nhận cụ thể.
Tại khoản 1, khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13 ngày 22/3/2012 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật quy định như sau:
“1. Hợp nhất văn bản là việc đưa nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản đã được ban hành trước đó (sau đây gọi tắt là văn bản sửa đổi, bổ sung) vào văn bản được sửa đổi, bổ sung theo quy trình, kỹ thuật quy định tại Pháp lệnh này.
……
3. Văn bản hợp nhất là văn bản được hình thành sau khi hợp nhất văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản được sửa đổi, bổ sung.”.
Như vậy, hợp nhất văn bản là khái niệm mang bản chất của hoạt động, đó là việc đưa nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa đổi, bổ sung vào chung một văn bản.
Còn văn bản hợp nhất để xác định bản chất một loại hình văn bản được hình thành sau khi tiến hành hoạt động hợp nhất văn bản.
Đây là hai khái niệm khác nhau nên cần phân biệt cụ thể để tránh nhầm lẫn hoặc đánh đồng hai khái niệm này với nhau.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 2 Pháp lệnh này cũng ghi nhận khái niệm văn bản được hợp nhất là văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản được sửa đổi, bổ sung.
Hiện nay, Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13 vẫn còn hiệu lực thi hành, do đó, việc xác định khái niệm văn bản hợp nhất nêu trên vẫn còn giá trị. Văn bản hợp nhất được ký xác thực bởi cơ quan có thẩm quyền.
Điều 168 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định:
“1. Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung phải được hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.
2. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.”.
Như vậy, khi một văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung thì phải được hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng, dễ sử dụng và nâng cao hiệu quả trong thi hành pháp luật.
Thẩm quyền và thời hạn hợp nhất văn bản được quy định cụ thể cho từng chủ thể tại Điều 5, Điều 6 và Điều 7 Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13.
Ví dụ: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 63/2020/QH14 ngày 18 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
Theo quy định nêu trên, Văn phòng Quốc hội ban hành hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Văn bản hợp nhất 23/VBHN-VPQH năm 2020.
Việc hợp nhất văn bản cần tuân theo 03 nguyên tắc sau:
- Chỉ hợp nhất văn bản do cùng một cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Việc hợp nhất văn bản không được làm thay đổi nội dung và hiệu lực của văn bản được hợp nhất.
- Tuân thủ trình tự, kỹ thuật hợp nhất văn bản.
Ví dụ: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thực hiện việc hợp nhất và ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành, văn bản của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo. Trình tự, kỹ thuật hợp nhất văn bản được thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13.
2. Phân biệt giữa văn bản hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật và giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất
Trong thực tiễn, vẫn có sự nhầm lần khi cho rằng, văn bản hợp nhất cũng là văn bản quy phạm pháp luật, luồng quan điểm này nhận định, do văn bản hợp nhất cũng được sử dụng chính thức trong việc áp dụng và thi hành pháp luật.[1] Tuy nhiên, đây là sự nhầm lẫn, cần được xác định lại một cách cụ thể, chính xác, bảo đảm đúng quy định của luật.
Trước tiên, cần xác định cụ thể văn bản quy phạm pháp luật là gì, theo đó, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật này.[2]
Theo quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 84/2025/QH15 thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm:
“1. Hiến pháp.
2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
5. Nghị định, nghị quyết của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước.
9. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
10. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).
11. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
12. Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
13. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.”.
Như vậy, theo quy định của điều luật thì văn bản quy phạm pháp luật chỉ gồm 14 loại văn bản nêu trên và văn bản hợp nhất không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hay nói cách khác, văn bản hợp nhất không phải là văn bản quy phạm pháp luật.
Vấn đề đặt ra là, giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất cần được nhận thức đúng, theo quy định của luật, văn bản hợp nhất có giá trị sử dụng chính thức trong quá trình áp dụng pháp luật, thi hành pháp luật, giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân tra cứu đầy đủ các quy định đã được sửa đổi, bổ sung. Nói cách khác, văn bản hợp nhất là hình thức tổng hợp của ít nhất 02 văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung vào chung 01 văn bản với mục đích là để bảo đảm việc áp dụng trong thực tiễn được thuận lợi, thống nhất. Như vậy, chỉ cần tìm đến văn bản hợp nhất là có đủ cơ sở pháp lý cần có cho vấn đề cần áp dụng mà không cần tìm kiếm cùng lúc nhiều văn bản khác nhau để so sánh, đối chiếu, chỉ dẫn áp dụng. Đây cũng chính mà mục đích của việc ban hành văn bản hợp nhất.
Tuy nhiên, văn bản hợp nhất không phải là văn bản quy phạm pháp luật, không phải là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.[3] Do đó, khi áp dụng pháp luật, không thể viện dẫn văn bản hợp nhất, mà cần phải viện dẫn văn bản quy phạm pháp luật gốc để làm căn cứ pháp lý. Giá trị pháp lý vẫn thuộc về các văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung – là các văn bản quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, cần xác định rõ ràng việc văn bản quy phạm pháp luật không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực pháp lý của các văn bản gốc.
Việc hiểu rõ giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất và văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng, giúp phân định rõ và bảo đảm áp dụng đúng, thống nhất pháp luật trong thực tiễn, tranh việc viện dẫn trong áp dụng chưa chính xác.
Kết luận
Văn bản hợp nhất có ý nghĩa rất quan trọng trong áp dụng pháp luật. Tại Kết luận số 09-KL/TW năm 2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, vai trò của văn bản hợp nhất tiếp tục được làm rõ. Theo đó, văn bản hợp nhất được xác định là căn cứ chính thức để viện dẫn và áp dụng pháp luật, góp phần khắc phục tình trạng phải tra cứu nhiều văn bản rời rạc, nâng cao tính minh bạch, thống nhất và thuận tiện trong thực tiễn áp dụng.
Tuy nhiên, việc hiểu rõ giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất và văn bản quy phạm pháp luật để tránh nhầm lẫn trong áp dụng là hết sức cần thiết, mang tính khách quan.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
2. Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13 ngày 22/3/2012 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc trong quá trình xét xử
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Quy định mới về biện pháp xử lý chuyển hướng theo Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024
-
Tìm hiểu về việc quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
Bình luận