Một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình về cơ bản đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, qua đánh giá quy định và thực tiễn áp dụng thì thấy còn tồn tại một số hạn chế, bất cập; từ đó đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nữa đòi hỏi của thực tiễn. Bài viết này tập trung đánh gia quy định về một số tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Đặt vấn đề

Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, trong đó nhấn mạnh: “xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không phân biệt đối xử giữa các con; hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; một vợ, một chồng; vợ chồng bình đẳng; Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; cùng nhau thực hiện kế hoạch hóa gia đình; Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình”.

Nhằm bảo vệ các quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ, đấu tranh có hiệu quả đối với những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ hôn nhân và gia đình, Đảng và Nhà nước ta có những chính sách quan trọng, thiết thực triển khai trong thực tiễn. Bên cạnh đó, không thể thiếu những quy định mang tính đấu tranh, trừng trị những hành vi vi phạm quy định về chế độ hôn nhân và gia đình, trong đó có chế tài hình sự. Bộ luật Hình sự (BLHS)1 nước ta từ trước đến nay luôn dành hẳn một chương quy định về những tội phạm xâm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình với những điều khoản cụ thể về hành vi khách quan, hình phạt áp dụng,… Điều này thể hiện sự nhất quán trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là luôn coi trọng bảo vệ nền tảng các quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, sự vận động của xã hội ngày càng nhanh, đa dạng và phức tạp, một số trường hợp các quy định của pháp luật chưa theo kịp với thực tiễn khách quan. Do đó, quá trình áp dụng phát sinh một số vướng mắc, bất cập. Từ đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật, trong đó  có việc hoàn thiện quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 2015.

1. Tổng quan quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình được quy định cụ thể tại Chương XVII BLHS năm 2015 với 07 điều luật (từ Điều 181 - Điều 187).

Nghiên cứu các quy định về tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong pháp luật hình sự nước ta thì thấy, về mặt khách thể, hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp cho các quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ xã hội chủ nghĩa. Hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình tuy được biểu hiện bằng những hình thức khác nhau nhưng về cơ bản các hành vi này có một số điểm chung như:

- Do xuất phát từ quan điểm xử lý đối với các hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình là kiên trì giáo dục thuyết phục việc tuân thủ pháp luật, kết hợp hài hòa biện pháp giáo dục với biện pháp cưỡng chế đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng. Vì vậy, hành vi cấu thành các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình về cơ bản phải có mức độ nghiêm trọng như vi phạm có hệ thống, dùng thủ đoạn thô bạo, xảo quyệt dẫn tới hệ quả ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ hôn nhân gia đình  hoặc đã bị xử phạt hành chính mà vẫn tiếp tục vi phạm.

- Các hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình xảy ra nhìn chung có nguyên nhân là do ảnh hưởng của tàn dư tư tưởng hôn nhân và gia đình phong kiến đã ăn sâu vào tiềm thức của con người, mà đối tượng bị xâm hại chủ yếu là phụ nữ và những người bị lệ thuộc trong quan hệ hôn nhân và gia đình, điển hình như các hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện; hành vi tổ chức tảo hôn; hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng… Bên cạnh đó, có một số hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình mới xuất hiện như hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.

- Hành vi khách quan của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình thường được biểu hiện dưới dạng hành động phạm tội như hành vi thường xuyên đánh đập, mắng chửi, xỉ vả, thách cưới thật cao... (Điều 181 BLHS năm 2015) hay hành vi đứng ra tổ chức lễ cưới cho đôi trai gái mà trong đó có một hoặc cả hai bên chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật (Điều 183 BLHS năm 2015). Tuy nhiên, có một số hành vi có thể được thực hiện dưới dạng không hành động phạm tội thể hiện bằng việc không thực hiện nghĩa vụ, bổn phận mà theo quy định của pháp luật thì bắt buộc phải thực hiện, chẳng hạn như việc không chấp hành nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án bằng cách im lặng để trốn tránh nghĩa vụ đó (Điều 186 BLHS năm 2015) hay không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc ông bà, cha mẹ bằng việc bỏ đói, bỏ rét để ngược đãi ông bà, cha mẹ (Điều 185 BLHS năm 2015).

- Đa số các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình được quy định là tội phạm có cấu thành hình thức, tức là tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện xong hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm mà không cần có hậu quả xảy ra, như: Điều 183 BLHS năm 2015 quy định về tội tổ chức tảo hôn, Điều 184 BLHS năm 2015 quy định tội loạn luân hay Điều 187 quy định tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại,... Bên cạnh đó, trong các tội phạm như: tội vi phạm chế độ một vợ một chồng (Điều 182 BLHS năm 2015); tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 BLHS năm 2015); tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186 BLHS năm 2015), nhà làm luật quy định hành vi chỉ cấu thành tội phạm khi phải kèm theo điều kiện là phải dẫn tới hệ quả như làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn tới ly hôn (182 BLHS năm 2015) hay làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 186 BLHS năm 2015)… hoặc thuộc trường hợp “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”. Điều đó có nghĩa là, các tội phạm trên có cả hai mô hình cấu thành tội phạm: mô hình cấu thành hình thức và mô hình cấu thành vật chất. Trong trường hợp này, nếu thực hiện hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm mà thiếu các điều kiện trên thì cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự (không phạm tội).

- So với quy định của BLHS năm 1999 thì quy định của BLHS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, cụ thể:

Thứ nhất, quy định mới 3 tội danh (tội phạm hóa) bao gồm: Tội cưỡng ép ly hôn; Tội cản trở ly hôn tự nguyện (Điều 181 năm 2015); Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187 năm 2015). Bên cạnh việc tội phạm hóa thì BLHS năm 2015 đã xóa bỏ (phi tội phạm hóa) 2 hành vi mà BLHS năm 1999 quy định là tội phạm gồm: Hành vi tảo hôn và hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật. Việc tội phạm hóa hay phi tội phạm hóa các hành vi trong các tội phạm chương này nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng chống các hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình.

Thứ hai, hầu hết các tội danh của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình đều có sự thay đổi trong việc quy định các tiết định tội và một số tình tiết định khung theo hướng định lượng hóa, cụ thể hóa cũng như quy định rõ hơn phạm vi xử lý hình sự để thuận lợi hơn trong việc áp dụng.

3. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình và kiến nghị hoàn thiện

Như đã phân tích ở phần trên, BLHS năm 2015 về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, qua đánh giá một số quy định và thực tiễn áp dụng đã cho thấy vẫn còn một số hạn chế nhất định cần phải tiếp tục hoàn thiện nhằm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu của thực tiễn. Qua tìm hiểu thì những hạn chế đó tập trung vào những vấn đề cụ thể sau đây:

Thứ nhất, BLHS sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung song nhiều quy định về các tội phạm cụ thể của chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình vẫn còn là những quy định mang tính định tính, dẫn tới một số khó khăn trong áp dụng vào thực tiễn. Mặc dù một trong những nguyên tắc nhất quán và xuyên suốt trong chính sách hình sự là sửa đổi các quy định của luật hình sự phải ngày càng cụ thể hóa, định lượng hóa tạo thuận lợi và thống nhất trong áp dụng. Quy định của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình về cơ bản đã quy định mô tả các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tuy nhiên qua nghiên  cứu, tác giả thấy rằng, quy định trong các tội: Cưỡng ép kết hôn; Cưỡng ép ly hôn; Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Cản trở ly hôn tự nguyện và Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại vẫn chưa cụ thể, còn mang tính chung chung, cảm tính mà chưa có quy định mang tính định tính, định lượng cụ thể. Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong áp dụng. Do đó, tác giả kiến nghị, khi sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 cần quy định theo hướng mô tả hành vi tạo sự thống nhất trong áp dụng, cụ thể cần phải quy định rõ thế nào là Cưỡng ép kết hôn; Cưỡng ép ly hôn; Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Cản trở ly hôn tự nguyện và Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.

Thứ hai, trong chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình có nhiều tội quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”, trong khi đó, vấn đề xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình rất hạn chế được áp dụng trong thực tiễn. Tác giả cho rằng, đây có thể là một trong những lý do dẫn đến tình trạng các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ít được áp dụng trong thực tế cho dù hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình khá phổ biến và có biểu hiện tăng lên trong thời gian gần đây, một số vụ gây bức xúc trong dư luận. Điều này dẫn đến giảm hiệu quả trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Vì vậy, để đảm bảo yêu cầu của thực tiễn nên chăng bỏ quy định dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, đồng thời tăng việc quy định chế tài các hình phạt không tước tự do như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với tất cả các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở khung cấu thành cơ bản. Quy định như vậy vừa bảo đảm tính răn đe khi áp dụng các biện pháp hình sự vừa bảo đảm việc áp dụng các chế tài có nội dung cưỡng chế phù hợp với các hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình.

Thứ ba, BLHS năm 2015 quy định một số tội phạm mới hoặc bổ sung một số dấu hiệu mới cần được giải thích, làm rõ. Phương án khả thi nhất lúc này có lẽ ban hành sớm các văn bản hướng dẫn để thống nhất việc áp dụng trong thực tiễn.

Trên cơ sở phân tích, chúng tôi đưa ra hướng hoàn thiện cụ thể như sau:

Một là, cần quy định rõ vào trong luật các hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện và hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại theo hướng như sau:

- Cưỡng ép kết hôn hoặc ly hôn là hành vi dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái ý muốn của họ.

- Cản trở kết hôn tự nguyện, tiến bộ là hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật như hoàn toàn tự nguyện, đã đủ tuổi kết hôn, không đang có vợ, có chồng và  không thuộc trường hợp pháp luật cấm kết hôn với nhau

-  Cản trở ly hôn tự nguyện là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

- Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại ở đây là hành vi tổ chức cho người khác mang thai hộ thể hiện bằng việc bố trí, sắp xếp, điều hành hoạt động mang thai hộ vì mục đích thương mại như tìm người phụ nữ có thể mang thai cho người khác bằng việc áp dụng biện pháp kĩ thuật hỗ trợ sinh sản; kết nối họ với người cần được mang thai hộ, tiến hành các công việc để việc mang thai hộ được thực hiện ở cơ sở y tế  như tạo phôi để cấy vào tử cung người mang thai hộ; nuôi dưỡng và bố trí việc sinh đẻ cho người mang thai hộ.

Hai là, cần bỏ dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm đồng thời quy định các hình phạt không tước tự do ở khung cấu thành cơ bản của các tội danh cụ thể sau:

- Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (Điều 181 BLHS năm 2015);

- Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng (Điều 182 BLHS năm 2015);

- Tội tổ chức tảo hôn (Điều 183 BLHS năm 2015);

 - Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 BLHS năm 2015);

- Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186 BLHS năm 2015).

Ba là,  BLHS năm 2015 đã quy định 03 tội danh mới bao gồm: Tội cưỡng ép ly hôn; Tội cản trở ly hôn tự nguyện và Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Để đảm bảo thuận lợi và thống nhất trong thực tiễn cần phải sớm ban hành các văn bản hướng dẫn làm rõ nội hàm của các hành vi cưỡng ép ly hôn; cản trở ly hôn tự nguyện; tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. 

 

ThS. MAI KHẮC PHÚC (Giảng viên khoa Luật hình sự Đại học Luật TP. HCM)

1 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, năm 2025, sau đây gọi là BLHS năm 2015.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.