Nghiên cứu, đề xuất về phương thức xác lập, cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc của Tòa án nhân dân trong giai đoạn mới
Ngày 24/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất của Quốc hội khóa XVI, Đại biểu Quốc hội đã bỏ phiếu biểu quyết thống nhất thông qua Nghị quyết số 34/2026/QH16 ngày 24/8/2026 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (gọi tắt là Nghị quyết số 34/2026/QH16) và Nghị quyết này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027, thay thế cho Nghị quyết số 96/2019/QH14 hiện nay.
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết số 34/2026/QH16 của Quốc hội đã có những thay đổi rất cơ bản về phương thức xác lập, cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc của Tòa án nhân dân (TAND).
Theo đó, điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 34/2026/QH16 của Quốc hội quy định:
“Bảo đảm việc giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính đúng thời hạn theo quy định của pháp luật đạt 100%. Không làm oan người vô tội, không để xảy ra trường hợp bỏ lọt tội phạm. Không để xảy ra trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung không đúng quy định của pháp luật. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giao cụ thể tỷ lệ giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính trên tổng số thụ lý trong ngành Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết này và báo cáo Quốc hội để giám sát;”.
Thay đổi về phương thức xác lập và cách tính tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc của Nghị quyết số 34/2026/QH16 sẽ khắc phục được những bất cập, tồn tại của Nghị quyết số 96/2019/QH14, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các loại vụ việc, bảo đảm thời hạn luật định, đồng thời đẩy nhanh tiến độ giải quyết đối với một số vụ án, vụ việc đặc thù hoặc được dư luận quan tâm1.
Do đó, việc nghiên cứu đề xuất về phương thức xác lập, cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc của TAND theo Nghị quyết số 34/2026/QH16 của Quốc hội là rất cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng để xây dựng phương án giao chỉ tiêu, làm rõ nội hàm chỉ tiêu,… để thực hiện vào năm 2027 theo chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Văn Quảng, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) phát biểu kết luận tại Hội nghị triển khai, quán triệt Nghị quyết số 34/2026/QH16 (được tổ chức vào ngày 30/9/2026).
2. Thực trạng về phương thức xác lập và cách tính tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc trong giai đoạn hiện nay
Để minh họa, dẫn chứng cụ thể phương thức xác lập và cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc, tác giả xin đưa ra ví dụ về số liệu thụ lý, giải quyết các loại vụ việc đối với án dân sự như sau:
TAND X thụ lý mỗi tháng bình quân là 10 vụ án. Tổng lượng án đã thụ lý là 120 vụ (trừ chuyển thì số thụ lý là 118), đơn vị này đã giải quyết được 78 vụ, chuyển 02 vụ việc, còn lại 40 vụ việc. Cụ thể các loại vụ việc đã giải quyết quyết và còn lại như sau:
- Có 80 vụ thụ lý trong thời hạn;
- Có 02 vụ chuyển trong thời hạn luật định;
- Có 70 vụ giải quyết trong hạn luật định;
- Có 08 vụ giải quyết quá hạn luật định nhưng do nguyên nhân khách quan (do việc định giá tài sản đòi hỏi phải có cán bộ chuyên môn, hội đồng định giá nhà nước từ chối định giá không tài sản cần định giá phức tạp, do trong vụ án kinh doanh thương mại, thời hạn chuẩn bị xét xử ngắn nhưng đương sự nhiều, phải thực hiện thủ tục tống đạt, ủy thác tống đạt đòi hỏi nhiều thời gian,...);
- Trong số 40 vụ án còn lại chưa giải quyết thì có 30 vụ án còn trong hạn luật định (án mới thụ lý 10 vụ mới ban hành thông báo thụ lý, chờ đương sự có ý kiến, 20 vụ mới thực hiện thủ tục hòa giải, chưa đủ thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử) 05 vụ đã quá hạn luật định nhưng do nguyên nhân khách quan, 05 vụ án đang tạm đình chỉ.
* Cơ sở pháp lý:
Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội đã giao chỉ tiêu cho TAND về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc cụ thể như sau:
- Tỷ lệ giải quyết án hình sự đạt trên 88%;
- Tỷ lệ giải quyết án dân sự đạt trên 78%;
- Tỷ lệ giải quyết án hành chính đạt trên 60%.
Tuy nhiên, các Chỉ thị và Kế hoạch2 có liên quan của TANDTC đều giao các chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc đối với từng loại án đều cao hơn so với chỉ tiêu do Quốc hội giao. Cụ thể như sau:
- Tỷ lệ giải quyết án hình sự đạt từ 90% trở lên;
- Tỷ lệ giải quyết án dân sự đạt từ 85% trở lên;
- Tỷ lệ giải quyết án hành chính đạt từ 65% trở lên;
- Tỷ lệ xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án đạt từ 99% trở lên;
- Tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo thẩm quyền đạt từ 60% trở lên.
* Cách tính tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc được quy định như sau:
- Khái niệm và một số quy ước về một số chỉ tiêu:
(1) Tổng số vụ việc đã thụ lý: là tổng các loại vụ việc còn lại của kỳ trước chuyển sang với các loại vụ việc mới thụ lý trong kỳ báo cáo, tổng số thụ lý này không tính các loại vụ việc nhập, chuyển (trừ số vụ việc nhập, chuyển);
(2) Tổng số vụ việc đã giải quyết: là tổng số các loại vụ việc được giải quyết, xét xử trong kỳ báo cáo, các loại vụ việc chuyển, nhập, tạm đình chỉ không được tính vào tổng số các loại vụ việc đã giải quyết;
(3) Tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc: là tỷ lệ tổng số vụ việc đã giải quyết (2) so với tổng số vụ việc đã thụ lý (1).
- Công thức:
Với ví dụ nêu trên thì tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc của TAND X sẽ là 66,10% (78/118). Như vậy, TAND X đã không hoàn thành chỉ tiêu thi đua của ngành và Nghị quyết số 96/2019/NQ14 đã đề ra.
Xuất phát từ bất cập, tồn tại nêu trên nên một số Tòa án sẽ hạn chế nhận đơn, thụ lý vụ việc vào những tháng cuối năm để làm giảm tổng số các loại vụ việc, tăng tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc lên.
Công thức này được sử dụng để tính tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc theo từng loại án và tổng số án của đơn vị và thẩm phán;
* Nhận xét, đánh giá: Với phương thức xác lập và cách tính này sẽ dẫn đến thực trạng vào những tháng cuối năm thi đua, các Tòa án sẽ hạn chế thụ lý các loại vụ việc (nhằm giảm tổng số các loại vụ việc đã thụ lý, tăng tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc) và những người tiến hành tố tụng như Thẩm phán, Thư ký, Kiểm sát viên, Luật sư,… phải bị động vì phải xét xử dồn dập, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án[1], khiến cho Thẩm phán vì thành tích mà “có nguy cơ cao” vi phạm Quyết định số 120/2017/QĐ-CA ngày 19/6/2017 Ban hành quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân (điểm a, b khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 10 xử lý trách nhiệm về vi phạm về thời hạn giải quyết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu).
3. Đề xuất phương thức xác lập, cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc
* Cơ sở pháp lý: Theo điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 34/2026/QH16 thì phương thức xác lập, cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc được phân thành hai chỉ tiêu cụ thể:
- Chỉ tiêu 1: Chi tiêu về giải quyết các loại vụ việc trong thời hạn luật định do Quốc hội giao trực tiếp là 100%.
- Chỉ tiêu 2: Chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc do Chánh án TANDTC quy định và báo cáo cho Quốc hội để giám sát. Tỷ lệ này là tỷ lệ tổng số vụ việc đã được giải quyết trên tổng số các loại vụ việc đã thụ lý.
3.1. Đề xuất cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc trong thời hạn luật định (Chỉ tiêu 1)
3.1.1. Xác định “thời hạn luật định”
Để phương thức xác định, cách tính chỉ tiêu này thì đòi hỏi chúng ta phải làm rõ nội hàm “trong thời hạn luật định” và “quá thời hạn luật định”. Việc xác định “thời hạn luật định” phải dựa vào thời hạn chuẩn bị xét xử, chuẩn bị xét đơn yêu cầu,… theo các quy định cụ thể như sau:
[1] Điều 277 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);
[2] Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
[3] Điều 366 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
[4] Điều 130 Luật Tố tụng hành chính;
[5] Điều 8 của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân;
[6] Điều 41 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025;
[7] Và một số quy định khác có liên quan.
Theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với các vụ án dân sự thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, nếu vụ án phức tạp thì có thể gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, đối với vụ án dân sự thì việc xác định vụ án đó đã được giải quyết trong thời hạn luật định được xác định như sau:
[1] Vụ án được giải quyết bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, đình chỉ giải quyết vụ án, chuyển vụ án, nhập vụ án phải bảo đảm còn trong thời hạn quy định khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
[2] Vụ án được giải quyết bằng xét xử thì quyết định đưa vụ án ra xét xử phải đảm bảo trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bảo đảm bảo về thời hạn mở phiên tòa, thời hạn hoãn, tạm ngừng và tiếp tục mở lại phiên tòa theo các quy định của bộ luật tố tụng[2].
Ngoài ra, chúng ta cần áp dụng tương tự pháp luật đối với các vụ án có nhận đơn khởi kiện bổ sung, đơn phản tố và đơn yêu cầu độc lập thì thời hạn luật định sẽ được tính lại kể từ ngày nhận đơn khởi kiện bổ sung, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập như đối với trường hợp có quyết định tạm đình chỉ giải quyết và quyết định tiếp tục giải quyết theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tính lại thời hạn luật định là hoàn toàn phù hợp bởi vì trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nếu Tòa án có nhận đơn khởi kiện bổ sung, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập của các đương sự thì Tòa án phải thực hiện thực hiện quy trình tố tụng lại như một hồ sơ mới thụ lý và đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian (ban hành thông báo thụ lý và tống đạt cho các đương sự, chờ các đương sự có ý kiến, yêu cầu các đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lại).
3.1.2. Một số khái niệm, quy ước và cách tính cụ thể
- Khái niệm và một số quy ước về một số chỉ tiêu:
(1) Tổng số vụ việc đã thụ lý trong thời hạn luật định: là tổng số các loại vụ việc của kỳ trước còn lại chuyển sang và số vụ việc thụ lý mới trong kỳ báo cáo còn trong hạn luật định, không tính các loại vụ việc chuyển, nhập (trừ số vụ việc chuyển, nhập), không tính số vụ việc đã quá thời hạn luật định do nguyên nhân khách quan nhưng chưa giải quyết xong, cộng với án quá hạn luật định do nguyên nhân khách quan nhưng đã được giải quyết xong trong kỳ báo cáo.
Như vậy, với ví dụ 1 thì Tổng số vụ việc đã thụ lý trong thời hạn luật định là: (1) = 70+8=78 vụ
(2) Tổng số vụ việc đã giải quyết trong thời hạn luật định: là tổng số các loại vụ việc đã giải quyết trong kỳ báo cáo trong thời hạn luật định với tổng số vụ việc đã được giải quyết quá thời hạn luật định do nguyên nhân khách quan.
Như vậy, với ví dụ 1 thì Tổng số vụ việc đã giải quyết trong thời hạn luật định là: (2) = 70+8= 78 vụ
(3) Tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc trong hạn luật định: là tỷ lệ giữa Tổng số các vụ việc đã giải quyết trong hạn luật định (2) so với Tổng số các vụ việc đã thụ lý trong hạn luật định (1).
- Công thức:
Khi đó, tỷ lệ giải quyết trong hạn luật định sẽ đạt 78/78 = 100%.
* Nhận xét, đánh giá:
Lý do phương thức xác lập chỉ tiêu về tổng số vụ việc đã giải quyết, tổng số các việc đã thụ lý vẫn tính đối với các loại vụ việc quá thời hạn luật định do nguyên nhân khách quan và đã giải quyết hoặc không tính đối với các loại vụ việc đã thụ lý quá thời hạn luật định do nguyên nhân khách quan và chưa giải quyết là phù hợp với thực tiễn công tác tại các TAND các cấp. Vì đây là do trở ngại khách quan, không phải do nguyên nhân chủ quan của Thẩm phán.
Hơn nữa, cơ sở pháp lý vững chắc để loại trừ các vụ việc quá thời hạn luật định do nguyên nhân khách quan trong phương thức xác lập và cách tính tỷ lệ giải quyết các vụ việc trong hạn luật định là: Mục 1.2 của II trong Hướng dẫn thực hiện chỉ tiêu cơ quan đánh giá kết quả công tác nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân được ban hành kèm theo Quyết định số 358/QĐ-VKSTC ngày 23/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về Ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê đánh giá nghiệp vụ và quy định về chế độ báo cáo thống kê nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân (gọi tắt là Quyết định số 358/QĐ-VKSTC). Theo quy định này, phướng pháp tính chỉ tiêu: “Bảo đảm 100% trường hợp thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được kiểm sát” trong Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội được phép loại trừ trường hợp quá hạn luật định nhưng do lỗi của Viện kiểm sát.
“Phương pháp tính: Tỷ lệ giữa số tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giải quyết đúng thời hạn trên tổng số tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã giải quyết trong kỳ thống kê (cả số chưa giải quyết của kỳ trước chuyển sang), đạt 100%. Những trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố quá hạn giải quyết không do lỗi của Viện kiểm sát thì không tính vào tỷ lệ không đạt đối với chỉ tiêu này (Viện kiểm sát đã thực hiện đầy đủ việc yêu cầu kiểm tra, xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; yêu cầu ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định khởi tố, không khởi tố… nhưng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn không thực hiện dẫn đến việc tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố bị quá hạn)”.
Mặc dù, Quyết định số 358/QĐ-VKSTC trên cơ sở thực hiện Nghị quyết số 96/2019/QH14 nhưng qua nghiên cứu đối chiếu thì chỉ tiêu này giữa Nghị quyết số 96/2019/QH14 và Nghị quyết số 34/2026/QH16 không có thay đổi về chỉ tiêu này.
Việc loại trừ các vụ việc quá thời hạn luật định do nguyên nhân khách quan sẽ đảm bảo tính khả thi, đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất trong cả hệ thống chính trị, đảm bảo nhất quán giữa phương thức xác lập và cách tính về tỷ lệ án hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan (loại trừ nguyên nhân khách quan).
3.2. Đề xuất cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định (Chỉ tiêu 2)
3.2.1. Xác định án “chưa đủ điều kiện giải quyết”
Các vụ việc chưa đủ điều kiện giải quyết là các loại vụ việc đã được Tòa án thụ lý nhưng chưa đủ thời gian cần thiết để thực hiện những thủ tục tố tụng theo quy định để Tòa án giải quyết xong vụ việc đó và các vụ việc đang tạm đình chỉ, các vụ việc quá thời hạn luật định do nguyên nhân khách quan nhưng chưa giải quyết xong. Theo đó, thành phần của các vụ việc chưa đủ điều kiện giải quyết gồm:
[1] Các vụ việc trong thời hạn luật định nhưng chưa giải quyết (chưa đủ thời gian để thực hiện các thụ lý để giải quyết vụ việc như các vụ mới thụ lý đang chờ đương sự có ý kiến; các vụ việc đang thực hiện thủ tục niêm yết, các vụ việc đang tiến hành hòa giải, chưa đủ thủ tục để đưa vụ việc ra xét xử, mở phiên họp).
[2] Các vụ việc đang tạm đình chỉ.
[3] Các vụ việc quá thời hạn luật định do nguyên nhân khách quan nhưng chưa được giải quyết xong;
Các vụ việc chưa đủ điều kiện giải quyết bằng tổng của [1] + [2] + [3].
3.2.2. Một số khái niệm, quy ước và cách tính cụ thể
- Khái niệm và một số quy ước về một số chỉ tiêu:
(1) Tổng số vụ việc thụ lý đủ điều kiện giải quyết: Là tổng số các vụ việc đã được giải quyết trong kỳ báo cáo với các loại vụ việc chưa giải quyết và đủ điều kiện giải quyết.
Các vụ việc chưa đủ điều kiện để giải quyết là tổng vụ việc chưa giải quyết còn trong thời hạn luật định với các vụ việc đang tạm đình chỉ, các vụ việc quá thời hạn luật định nhưng chưa giải quyết xong (theo mục 3.2.1).
Như vậy, (1) = 78 (tổng số đã giải quyết) + 05 (số vụ việc chưa giải quyết đã đủ điều kiện giải quyết) = 82 vụ.
(2) Tổng số vụ việc đã giải quyết: là tổng số vụ việc đã giải quyết trong kỳ báo cáo, không tính các loại vụ việc nhập, chuyển, các vụ việc tạm đình chỉ.
Như vậy, (2) = 78 vụ.
(3) Tỷ lệ các vụ việc đã giải quyết: là tỷ lệ tổng số các vụ việc đã giải quyết (2) so với tổng số các vụ việc thụ lý đủ điều kiện giải quyết (1).
- Công thức:
Tỷ lệ các loại vụ việc đã giải quyết là 78/82=95,12%.
* Nhận xét, đánh giá:
Việc phân định rõ ràng các loại vụ việc đủ hoặc chưa đủ điều kiện giải quyết là rất cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng trong công tác giải quyết các loại vụ việc, góp phần bảo vệ Thẩm phán. Bời vì thực tiễn đã chứng minh các loại vụ việc chưa đủ điều kiện giải quyết thì các Thẩm phán lực bất đồng tâm không thể giải quyết các loại vụ việc này trong kỳ báo cáo được.
Việc không giải quyết được án chưa đủ điều kiện giải quyết không phải do lỗi chủ quan của Thẩm phán mà do những những quy định của pháp luật đã quy định:
+ Những vụ việc nào còn trong thời hạn luật định và chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết thì Tòa án không thể đưa vụ án ra xét xử hoặc mở phiên họp được. Nếu vẫn tính các loại vụ việc này vào số vụ việc còn lại để tính tỷ lệ cho Thẩm phán thì sẽ dễ xảy ra tình trạng Thẩm phán do áp lực của công tác thi đua mà vẫn đưa ra xét xử hoặc mở phiên họp đối với các vụ việc chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định.
+ Những vụ việc đang tạm đình chỉ được hiểu là những vụ việc đang nằm ở chế độ chờ, Thẩm phán không thể đưa vụ án ra xét xử hoặc mở phiên họp được vì sẽ vi phạm tố tụng.
+ Những vụ việc quá thời hạn luật định (như đã phân tích ở mục 3.1).
Đồng thời, việc phân loại các loại vụ việc đủ hoặc chưa điều kiện giải quyết là hoàn toàn phù hợp, thống nhất với phương thức xác lập và cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc với các cơ quan tư pháp khác mà điển hình là Cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 34/2026/QH16 “Tỷ lệ thi hành án dân sự xong về việc đạt trên 82%, về tiền đạt trên 50% tổng số có điều kiện thi hành”.
Kết luận
Nghị quyết số 34/2026/QH16 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng, tạo hành lang pháp lý mới cho công tác tư pháp nói chung và hoạt động xét xử của TAND trong giai đoạn mới nói riêng. Việc đổi mới phương thức xác lập và cách tính chỉ tiêu tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc không đơn thuần là thay đổi về mặt kỹ thuật, thống kê, mà là giải pháp then chốt nhằm khắc phục triệt để những bất cập, tồn tại hiện nay.
Phương thức xác lập và cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết được phân thành hai chỉ tiêu cụ thể: tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc trong hạn luật định và tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc trên tổng số vụ việc có điều kiện giải quyết. Việc tách bạch hai chỉ tiêu này và thay đổi cách tính chỉ tiêu đảm bảo tính khách quan và công bằng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự vì chấm dứt tình trạng hạn chế thụ lý các loại vụ việc vào những tháng cuối năm thi đua. Ngoài ra, việc thay đổi này đã tạo sự đồng bộ về cơ chế đánh giá chỉ tiêu giữa TAND với các cơ quan tư pháp khác.
Do đó, đề xuất phương thức xác lập và cách tính chỉ tiêu mới này vừa bảo đảm tính khả thi khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 34/2026/QH16, vừa tạo động lực thi đua thực chất cho đội ngũ cán bộ, Thẩm phán, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của TAND, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1 Hoàng Hiệp, TANDTC tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 34/2026/QH16 của Quốc hội, https://tapchitoaan.vn/tandtc-to-chuc-hoi-nghi-quan-triet-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-so-342026qh16-cua-quoc-hoi16473.html, truy cập ngày 02/10/2026.
2 Kế hoạch số 1099/KH-TANDTC ngày 30/12/2025 của TANTDC về việc thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 trong Tòa án nhân dân; Kế hoạch số 578/KH-TANDTC ngày 17/9/2026 của TANDTC về Tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2026 trong Tòa án nhân dân.
[1] Bài “Cần thay đổi cách tính tỷ lệ giải quyết án” của tác giả Huỳnh Minh Khánh, được đăng trên Tạp chí Tòa án điện tử ngày 26/02/2018
[2] Thời hạn mở phiên tòa theo quy định tại Khoản 4, Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự là 01 tháng, một số trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn 02 tháng;
Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng, nếu xử theo thủ tục rút gọn thì không quá 15 ngày kể từ ngày hoãn phiên tòa theo quy định tại Khoản 1, Điều 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 259 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV
-
Tòa án nhân dân tối cao quy định điều kiện, cơ cấu ngạch Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án
-
TAND khu vực 2 - Hà Nội trao đổi kinh nghiệm xét xử tranh chấp sở hữu trí tuệ với Câu lạc bộ Luật sư Bằng sáng chế Nanko, Nhật Bản
-
Đổi mới toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng trong Tòa án nhân dân gắn với chuyển đổi số
-
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tòa án đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và chuyển đổi số
Bình luận