Nguyễn Văn A chỉ phạm tội “Giết người” không phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”

Sau khi nghiên cứu bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Hiệp đăng trên Tạp chí Tòa án điện tử ngày 07/01/2026. Tác giả đồng ý quan điểm thứ hai: Nguyễn Văn A chỉ phạm tội “Giết người” không phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

1. Dao có tính sát thương cao không phải là vũ khí quân dụng theo quy định pháp luật

Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 đã xây dựng hệ thống khái niệm và phân loại pháp lý tương đối đầy đủ, chặt chẽ, qua đó thể hiện rõ ý chí của nhà làm luật trong việc phân định ranh giới giữa vũ khí quân dụng và các công cụ thông thường có khả năng gây sát thương.

Khoản 2 Điều 2: giải thích vũ khí quân dụng như sau:

“2. Vũ khí quân dụng bao gồm:

a) Súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, đạn sử dụng cho các loại vũ khí này; các loại bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi và vũ khí khác thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật này;

b) Súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi, đạn sử dụng cho các loại súng này thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành;

c) Vũ khí quy định tại điểm a khoản 4 Điều này trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật này để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;

d) Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;

đ) Linh kiện cơ bản của súng quy định tại điểm a khoản này bao gồm: thân súng, nòng súng, bộ phận cò, bộ phận khóa nòng, kim hỏa;

e) Linh kiện cơ bản của súng quy định tại điểm b khoản này bao gồm: thân súng, bộ phận cò;

g) Vũ khí khác có tính năng, tác dụng, khả năng gây sát thương tương tự như vũ khí quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này, không thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành”.

Điểm đáng lưu ý là việc xác định vũ khí quân dụng không dựa thuần túy vào khả năng gây chết người mà dựa trên tính chất quân sự, mục đích sử dụng và chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước.

Mặc dù tại điểm d khoản 2 Điều 2 có đề cập đến “dao có tính sát thương cao” trong trường hợp sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật, nhưng quy định này không làm thay đổi bản chất pháp lý của dao có tính sát thương cao, mà chỉ xác định hệ quả pháp lý khi công cụ này bị sử dụng sai mục đích. Cách quy định này không đồng nghĩa với việc đồng nhất dao có tính sát thương cao với vũ khí quân dụng.

Điều này càng được khẳng định rõ hơn tại khoản 6 Điều 2, theo đó: “Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành”.

Việc nhà làm luật tách riêng “dao có tính sát thương cao” thành một nhóm độc lập cho thấy ý chí lập pháp rõ ràng: không phải mọi công cụ có khả năng gây chết người đều là vũ khí quân dụng.

Cụ thể hóa các quy định trên, Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ đã ban hành:

Phụ lục I: Danh mục vũ khí quân dụng;

Phụ lục V: Danh mục dao có tính sát thương cao.

Đối chiếu với các danh mục này, dao bầu trong vụ án chỉ có thể được xác định là “dao có tính sát thương cao” theo Phụ lục V hoàn toàn không thuộc Danh mục vũ khí quân dụng tại Phụ lục I. Do đó, mặc dù dao bầu có khả năng gây chết người nhưng về mặt pháp lý, đây vẫn là công cụ lao động, sinh hoạt thông thường, không thuộc diện quản lý theo chế độ cấp phép sử dụng như vũ khí quân dụng. Vì vậy, không có căn cứ pháp lý để xác định dao bầu là vũ khí quân dụng.

2. Hành vi dùng dao bầu để giết người chỉ là phương tiện thực hiện tội phạm

Xét dưới góc độ cấu thành tội phạm, hành vi của Nguyễn Văn A đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. Cụ thể:

+ Mặt khách thể bị xâm phạm là quyền được sống của Nguyễn Văn B quyền cơ bản của con người được Hiến pháp ghi nhận và pháp luật hình sự bảo vệ.

+ Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi Nguyễn Văn A dùng dao bầu đâm vào các vùng trọng yếu trên cơ thể B.

+ Hậu quả là Nguyễn Văn B tử vong.

+ Quan hệ nhân quả được xác lập rõ ràng, khi cái chết của B là kết quả trực tiếp từ hành vi dùng dao đâm của A.

+ Mặt chủ quan là lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có khả năng tước đoạt tính mạng người khác và mong muốn hậu quả xảy ra.

+ Chủ thể là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Như vậy, toàn bộ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã được phản ánh đầy đủ trong cấu thành tội “Giết người”. Trong trường hợp này, dao bầu chỉ là phương tiện thực hiện tội phạm, không làm phát sinh một hành vi độc lập khác xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước. Việc sử dụng dao không phải là hành vi nguy hiểm riêng biệt mà chỉ là cách thức thực hiện hành vi giết người.

3. Không đủ dấu hiệu cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”

Tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo Điều 304 BLHS là tội phạm có đối tượng tác động đặc thù, đó là vũ khí quân dụng hoặc phương tiện kỹ thuật quân sự. Đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Theo khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 304, Điều 305, Điều 306, Điều 307 và Điều 308 của BLHS, “sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” được hiểu là việc sử dụng vũ khí quân dụng mà không có giấy phép hoặc không được phép của cơ quan, người có thẩm quyền nhằm phát huy tác dụng của vũ khí đó.

Có thể thấy, yếu tố “trái phép” chỉ phát sinh khi: pháp luật đặt ra chế độ quản lý đặc biệt bằng giấy phép và chủ thể sử dụng không có hoặc không được cấp phép. Trong vụ án nêu trên, công cụ phạm tội là dao bầu - một vật dụng sinh hoạt thông thường, pháp luật không quy định phải xin phép khi sở hữu hoặc sử dụng. Do đó, không thể xác định hành vi dùng dao bầu là hành vi “sử dụng trái phép” theo nghĩa pháp lý của Điều 304 BLHS.

4. Không có căn cứ giám định xác định là vũ khí quân dụng

Theo khoản 5 Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc trưng cầu giám định là bắt buộc khi cần xác định, trong đó có: “Chất ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;...”.

Trong vụ án này, nếu tiến hành trưng cầu giám định, cơ quan giám định chỉ có thể kết luận dao bầu là “dao có tính sát thương cao” theo Phụ lục V Thông tư số 75/2024/TT-BCA chứ không thể kết luận là vũ khí quân dụng. Việc thiếu kết luận giám định xác định đối tượng tác động là vũ khí quân dụng đồng nghĩa với việc không đủ căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS.

Từ các phân tích nêu trên có thể khẳng định rằng: trong trường hợp người phạm tội sử dụng dao có tính sát thương cao là vật dụng sinh hoạt thông thường để tước đoạt tính mạng người khác, hành vi đó chỉ cấu thành tội “Giết người” theo Điều 123 BLHS. Việc xử lý thêm về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” là không có căn cứ pháp lý.

Trên đây là quan điểm của tác giả, mong nhận được sự trao đổi, phản biện và đóng góp ý kiến của quý bạn đọc.

HOÀNG THÙY LINH (Tòa án quân sự Quân khu 7)

 Hội đồng xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu - Nguồn: CALC.