Quy định chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động

Quyết định số 786/QĐ-BNV kèm theo Quy chế thực hiện chế độ tiền thưởng của Bộ Nội vụ đã quy định cụ thể về phạm vi, đối tượng áp dụng, quỹ tiền thưởng, tiêu chí xét thưởng, mức thưởng, quy trình, thủ tục và thẩm quyền quyết định thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ.

Quy chế được xây dựng trên cơ sở Nghị định 73/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Nghị định 63/2022/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ; cùng Thông tư 62/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng.

Theo Quy chế, thưởng đột xuất áp dụng đối với cá nhân có thành tích công tác đột xuất, thể hiện bằng sản phẩm, kết quả công việc cụ thể, có phạm vi ảnh hưởng trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ và được Bộ trưởng hoặc người đứng đầu đơn vị đánh giá, ghi nhận, biểu dương. Cá nhân được xét thưởng phải chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của đơn vị; không có nhiệm vụ được giao mà không hoàn thành do trách nhiệm cá nhân.

Đối với thành tích có sự tham gia của nhiều người, số lượng cá nhân được đề nghị xét thưởng tối đa 05 người. Tỷ lệ cá nhân được thưởng đột xuất trong một năm không vượt quá 20% tổng số người trong danh sách trả lương của đơn vị. Việc xét thưởng bảo đảm nguyên tắc chính xác, công khai, minh bạch, công bằng và kịp thời; mỗi thành tích đột xuất chỉ được đề nghị thưởng một lần.

Đồng thời, chưa xét thưởng đột xuất đối với cá nhân trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật hoặc điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo, có vấn đề tham nhũng, tiêu cực được báo chí nêu đang được xác minh làm rõ. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền xác định không có vi phạm và cá nhân lập được thành tích công tác đột xuất, việc xét thưởng, chi thưởng bổ sung được thực hiện ngay sau thời điểm có kết luận của cơ quan có thẩm quyền.

Mức thưởng đột xuất được xác định trên cơ sở chấm điểm thành tích theo các tiêu chí: mức độ khó khăn, phức tạp của nhiệm vụ; chất lượng và tiến độ hoàn thành công việc; hiệu quả, mức độ lan tỏa của sản phẩm; mức độ tham gia của cá nhân. Trường hợp đạt từ 05 đến 08 điểm được thưởng bằng 03 lần mức lương cơ sở; trên 08 đến 10 điểm được thưởng bằng 05 lần mức lương cơ sở.

Căn cứ Nghị định 73/2024/NĐ-CP, mức lương cơ sở hiện hành là 2,34 triệu đồng/tháng. Theo đó, cá nhân đạt mức điểm trên 08 đến 10 điểm có thể được thưởng tối đa 11,7 triệu đồng cho một lần thưởng đột xuất.

Bên cạnh thưởng đột xuất, Quy chế còn quy định về thưởng định kỳ hằng năm đối với cá nhân có kết quả đánh giá, xếp loại từ mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên. Mức thưởng định kỳ được xác định trên cơ sở tổng kinh phí còn lại của quỹ tiền thưởng sau khi trừ phần chi thưởng đột xuất, theo công thức quy định tại Quy chế.

Quỹ tiền thưởng hằng năm được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương không bao gồm phụ cấp theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc của các đối tượng trong danh sách trả lương của đơn vị và nằm ngoài quỹ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng. Các đơn vị được dành tối đa 20% quỹ này để chi thưởng đột xuất, phần còn lại chi thưởng định kỳ vào cuối năm.

Việc chi thưởng được thực hiện bằng hình thức thanh toán trực tiếp vào tài khoản lương của cá nhân được thưởng. Thời gian chi thưởng đột xuất trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thưởng; chi thưởng định kỳ hằng năm trước ngày 31/01 của năm kế tiếp theo quy định.

HOÀNG HIỆP

Nguồn ảnh: Internet