Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự và kiến nghị hoàn thiện

Hiện nay, Bộ Công an đang lấy ý kiến đối với Dự thảo hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) . Dự án Bộ luật Hình sự dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3 và thông qua tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XVI. Khi được ban hành, Bộ luật Hình sự (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong giai đoạn mới.

1. Đặt vấn đề

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (sau đây gọi chung là BLHS năm 2015) trải qua 08 năm đi vào thực tiễn đã phát huy được hiệu quả trong thực tiễn. Tuy nhiên, với tình hình tội phạm ngày càng đa dạng, phức tạp như hiện nay thì yêu cầu về nghiên cứu, sửa đổi bổ sung BLHS năm 2015 là khách quan và cần thiết.

Thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ Công an là cơ quan chủ trì xây dựng Dự thảo hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) với đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung lớn, cụ thể:

Dự thảo đề xuất bổ sung cơ chế loại trừ trách nhiệm đối với rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; đồng thời cho phép tạm hoãn truy cứu TNHS đối với các hành vi gây thiệt hại kinh tế nhưng có thể khắc phục, không mang động cơ vụ lợi. Chính sách này nhằm khuyến khích đổi mới, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, đồng thời tạo điều kiện để người vi phạm khắc phục hậu quả.

Dự thảo cũng bổ sung các quy định mang tính nguyên tắc để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, như mở rộng phạm vi xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội nguy hiểm; bổ sung khái niệm tổ chức tội phạm; hoàn thiện quy định về tài sản số, tiền số; điều chỉnh các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mở rộng điều kiện tha tù trước thời hạn.

Về hình phạt, dự thảo định hướng giảm dần áp dụng hình phạt tử hình, chỉ giữ với các tội đặc biệt nghiêm trọng; đồng thời mở rộng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ và các biện pháp không tước tự do. Đáng chú ý, bổ sung hình phạt lao động công ích và cơ chế giám sát điện tử, tạo điều kiện cho người phạm tội cải tạo, tái hòa nhập xã hội.

Dự thảo đề xuất rà soát, điều chỉnh các tình tiết định tội, định khung hình phạt theo hướng rõ ràng, dễ áp dụng; loại bỏ các dấu hiệu mang tính nhân thân không còn phù hợp; điều chỉnh mức định lượng tài sản cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế.

Đáng chú ý, Bộ Công an kiến nghị bổ sung nhiều tội danh mới nhằm bao quát các hành vi phát sinh trong thực tiễn như tội phạm công nghệ cao, dữ liệu cá nhân, tiền ảo, môi trường, tài chính, cũng như các hành vi liên quan đến trí tuệ nhân tạo, deepfake, rửa tiền xuyên quốc gia.

Đặc biệt, trong nội dung dự thảo nêu đề xuất mở rộng TNHS của pháp nhân thương mại trong một số lĩnh vực. Bài viết này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá và nêu một số ý kiến góp ý đối với nội dung về hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

2. Khái quát chung về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015

 Trong BLHS năm 2015, lần đầu tiên pháp nhân thương mại được đưa vào các thiết chế hình sự với tư cách là chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù riêng của loại chủ thể này, nên việc xác định phạm vi các tội phạm mà chủ thể này thực hiện có những đặc trưng riêng.

Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 thì pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về 33 tội phạm. Như vậy, theo quy định của BLHS, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu trong hai lĩnh vực: tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về môi trường. Ngoài ra, pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiêm hình sự về tội tài trợ khủng bố và tội rửa tiền.

Ngoài ra, dự thảo chú trọng hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, bảo đảm tính thống nhất giữa BLHS với các luật liên quan; khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp; quy định rõ cấu thành tội phạm để tránh tùy nghi trong áp dụng.

Bộ Công an đề xuất lựa chọn phương án sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định, bởi đây là giải pháp giúp tháo gỡ vướng mắc thực tiễn, thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, đồng thời nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Điều 75 BLHS năm 2015 quy định về điều kiện chịu TNHS đối với pháp nhân thương mại phạm tội, cụ thể:

“1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân
thương mại;

c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

2. Việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân.”

Đây được xem là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xem xét, đánh giá để áp dụng chế tài hình sự đối với pháp nhân thương mại. Bởi lẽ, nếu không được xem xét 1 cách cụ thể và đầy đủ các điều kiện nói trên thì có thể dẫn đến trường hợp kết án oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của pháp nhân thương mại cũng như các cá nhân có liên quan.

Khoản 2 Điều 75 BLHS năm 2015 cũng quy định rõ, việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân. Do vậy, trong quá trình áp dụng, giải quyết vụ án hình sự về tội có quy định TNHS của pháp nhân, trước hết, cần làm rõ các tình tiết, hành vi phạm tội và trách nhiệm của cá nhân hoặc pháp nhân (nếu có), trường hợp pháp nhân ra quyết định hoặc chỉ đạo cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thì phải xử lý hình sự đồng thời cả cá nhân và pháp nhân về tội phạm mà họ đã thực hiện. Trường hợp phát hiện tội phạm xảy ra, mà ban đầu mới xác định được trách nhiệm của pháp nhân, thì khởi tố vụ án, khởi tố pháp nhân phạm tội, sau đó tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý hình sự cá nhân liên quan – người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bảo đảm việc xử lý TNHS đối với cá nhân, pháp nhân được toàn diện, triệt để, tránh bỏ lọt tội phạm và cá nhân, pháp nhân phạm tội.

3. Thực trạng áp dụng và một số ý kiến góp ý hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Hiện nay, BLHS năm 2015 mới chỉ quy định phạm vi phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là 33 tội, chủ yếu tập trung vào các nhóm tội về môi trường, kinh tế là chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo Báo cáo tổng kết việc thi hành BLHS năm 2015 của Bộ Công an[1] thì: Về cơ cấu theo chủ thể thực hiện tội phạm, trong các tội danh đã được khởi tố thì tỉ lệ các tội phạm do pháp nhân thương mại rất thấp, trong 08 năm qua, chỉ khởi tố 16 vụ đối với pháp nhân thương mại phạm tội (chiếm 0,0023%), nguyên nhân do đây là quy định mới, chưa có tiền lệ nên còn lúng túng trong áp dụng, bên cạnh đó, nhiều quy định về pháp nhân thương mại còn chưa thực sự rõ ràng nên việc áp dụng còn khó khăn, vướng mắc, dẫn đến đa số các trường hợp chỉ xử lý vi phạm hành chính đối với pháp nhân thương mại.

Cũng trong nội dung Báo cáo nêu về thực tiễn công tác xét xử pháp nhân thương mại phạm tội như sau:

* Về các tội phạm bị xét xử, trong kỳ báo cáo đã xét xử sơ thẩm 13 vụ/41 pháp nhân thương mại, xét xử phúc thẩm 01 vụ/01 bị cáo, tập trung vào một số tội như Tội trốn thuế (chiếm 47%), Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (chiếm 23,1%), Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (chiếm 23,1%), Tội buôn lậu (chiếm 7,3%).

* Về hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội, hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội chủ yếu là hình phạt tiền (chiếm 94,1%), ngoài ra còn có 01 vụ án bị áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (chiếm 5.9%).

Qua tổng kết thấy rằng, các nhóm tội về thuế, lao động, tài chính, bảo hiểm, các tội về tài sản như cho vay lãi nặng, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản; các tội về sử dụng đất đai… cũng là các tội danh mà pháp nhân thương mại thường xuyên có các hành vi vi phạm, tuy nhiên BLHS hiện hành chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại đối với các tội này.

Từ thực trạng nêu trên, trong dự thảo, Bộ Công an nêu đề xuất hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Cụ thể:

Mở rộng hơn phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với một số tội thuộc nhóm tội về thuế, lao động, tài chính, bảo hiểm, các tội về tài sản như cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các tội về sử dụng đất đai…Tác giả cho rằng, đề xuất này là hoàn toàn phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi các hành vi phạm tội được thực hiện ngày càng tinh vi, với nhiều thủ đoạn phức tạp và sự tham gia có sự phối hơp, liên kết của nhiều chủ thể khác nhau. Thực tiễn chỉ ra rằng, chúng ta đang thiếu cơ sở pháp lý mà cụ thể là các quy định trong BLHS để xử lý các hành vi phạm tội đối với pháp nhân thương mại. Hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại của BLHS để phù hợp với tình hình thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và thông lệ quốc tế. Do đó, việc đề xuất bổ sung mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại không chỉ gồm 33 tội danh như hiện tại là phù hợp và cần thiết. Đảm bảo có có cơ sở pháp lý để xử lý đối với pháp nhân thương mại thực hiện hành vi một số tội thuộc nhóm tội về thuế, lao động, tài chính, bảo hiểm, các tội về tài sản như cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các tội về sử dụng đất đai…

Bên cạnh đó, tác giả kiến nghị, đây là lần sửa đổi, bổ sung BLHS có ý nghĩa quan trọng, việc tiến hành được thực hiện khá đầy đủ, hoàn thiện, bài bản với sự phối hợp chặt chẽ của nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố… Do đó, cần có rà soát tổng thể, đánh giá toàn diện các khía cạnh pháp lý trong BLHS liên quan đến pháp nhân thương mại để tiến hành sửa đổi, bổ sung. Cụ thể, tác giả nêu một số đề xuất, kiến nghị sau:

Thứ nhất, cần hoàn thiện quy định về hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại

Về hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội, Điều 33 BLHS 2015 quy định như sau:

Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

1. Hình phạt chính bao gồm:

a) Phạt tiền;

b) Đình chỉ hoạt động có thời hạn;

c) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

2. Hình phạt bổ sung bao gồm:

a) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

b) Cấm huy động vốn;

c) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

3. Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.”

Như vậy, khác với các hình phạt được áp dụng đối với thể nhân, các hình phạt áp dụng đối với các pháp nhân thương mại được quy định đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tiễn và đảm bảo phát huy được hiệu quả trong thực tiễn áp dụng. Một pháp nhân thương mại phạm một tội nào đó được quy định trong BLHS 2015 thì chỉ bị áp dụng một hình phạt chính, nhưng có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung. Các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định chi tiết tại các điều từ Điều 77 đến Điều 81 BLHS 2015.

Một trong những đặc điểm nổi bật trong quy định hình phạt đối với pháp nhân thương mại là các nhà làm luật “đánh mạnh” vào mặt kinh tế của pháp nhân, xuất phát từ mục đích chính của pháp nhân thương mại là hoạt động vì lợi nhuận, đây là mặt trực tiếp và có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự tồn tại và phát triển của pháp nhân thương mại.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hình phạt tiền áp dụng đối với pháp nhân thương mại hiện nay được đánh giá là khá thấp, chưa đủ sức răn đe. Vì vậy, tác giả kiến nghị lần sửa đổi, bổ sung BLHS này cần điều chỉnh tăng mức hình phạt tiền áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Đặc biệt, mức phạt tiền ở một số nhóm tội có tính chất thu lợi nhuận bất chính như: Các tội trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại; các tội trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các tội khác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông còn thấp chưa phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước. Thực tiễn cho thấy, các đối tượng phạm tội nêu trên đều thu lợi bất chính rất lớn, có những vụ án lên đến hàng nghìn tỷ đồng, do đó, cần thiết phải nâng mức phạt tiền để bảo đảm tính răn đe và nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị tội phạm xâm hại.

Thứ hai, về điều kiện chịu TNHS đối với pháp nhân thương mại phạm tội, Điều 75 BLHS 2015 quy định:

“1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân
thương mại;

c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

2. Việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân.”

Đây được xem là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xem xét, đánh giá để áp dụng chế tài hình sự đối với pháp nhân thương mại. Bởi lẽ, nếu không được xem xét 1 cách cụ thể và đầy đủ các điều kiện nói trên thì có thể dẫn đến trường hợp kết án oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của pháp nhân thương mại cũng như các cá nhân có liên quan.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vào thực tiễn thời gian qua cho thấy, quy định về các điều kiện nêu trên là chưa độc lập với nhau, có sự trùng lặp trong nội hàm của hai điều kiện này, vì nếu đã có sự chỉ đạo, điều hành hay chấp thuận của pháp nhân thương mại thì chính là đã nhân danh pháp nhân thương mại, và ngược lại, một hoạt động nhân danh pháp nhân thương mại phải luôn có sự chỉ đạo, điều hành và chấp thuận của pháp nhân thương mại.

Do đó, trong lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 lần này cần có sự rà soát, sửa đổi các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, bảo đảm rõ ràng, cụ thể, đầy đủ và không trùng lặp.

Kết luận

Đề xuất hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là hoàn toàn cần thiết và phù hợp nhằm xây dựng cơ sở pháp lý để xử lý đối với pháp nhân thương mại thực hiện hành vi một số tội thuộc nhóm tội về thuế, lao động, tài chính, bảo hiểm, các tội về tài sản như cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các tội về sử dụng đất đai… và hành vi không chấp hành bản án, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên, để việc triển khai áp dụng vào thực tiễn được hiệu quả, hiệu lực thì cần có sự sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện các quy định có liên quan đến pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS chứ không chỉ dừng lại ở việc mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của chủ thể này.

Việc hoàn thiện theo hướng này cũng bảo đảm việc phân định rõ trách nhiệm hình sự giữa cá nhân và pháp nhân thương mại, giải quyết những vướng mắc, bất cập trong xác định ranh giới giữa trách nhiệm hình sự của 02 chủ thể này.

 

 

[1] [1] Xem: https://bocongan.gov.vn/, truy cập ngày 02/5/2026.

 

PHẠM THỊ QUỲNH NGA (TANDTC)

Ảnh minh hoạ: nguồn Internet