Sự kiện Vịnh Cam Ranh năm 1946: Bài học về bản lĩnh kiên định độc lập và khát vọng hòa bình
Ngày 17/10, tại phường Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, Tỉnh ủy Khánh Hòa phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học cấp bộ “Sự kiện Vịnh Cam Ranh tháng 10 năm 1946 trong hành trình Chủ tịch Hồ Chí Minh đấu tranh thực hiện khát vọng hòa bình và độc lập dân tộc”. Các tham luận làm rõ sự nhất quán giữa mục tiêu độc lập, thống nhất với nỗ lực duy trì đối thoại, lựa chọn sách lược và xây dựng thực lực trong một thời điểm đặc biệt của lịch sử dân tộc.
Chủ trì Hội thảo có các đồng chí: PGS, TS Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Trần Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa; Hồ Xuân Trường, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Khánh Hòa; PGS, TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Cùng dự có đại diện các cơ quan Trung ương, địa phương, các nhà khoa học và đại biểu lực lượng vũ trang như Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, Ủy ban nhân dân Đặc khu Trường Sa. Ban Tổ chức nhận được gần 40 báo cáo tham luận về bối cảnh, diễn biến, ý nghĩa cuộc hội kiến và giá trị đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tìm kiếm hòa bình trên cơ sở giữ vững độc lập, thống nhất
Ngày 18/10/1946, trên hành trình từ Pháp trở về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh hội kiến Cao ủy Pháp tại Đông Dương Đác-giăng-li-ơ trên tuần dương hạm Suffren ở vịnh Cam Ranh. Cuộc gặp diễn ra sau khi Hội nghị Fontainebleau không đạt kết quả và Tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9/1946 được ký kết, trong khi những bất đồng căn bản về độc lập, thống nhất của Việt Nam vẫn chưa được giải quyết. Theo Ban Tổ chức, dù phía Pháp phô trương sức mạnh quân sự nhằm tạo sức ép, cuộc hội kiến vẫn tập trung bàn việc thực thi Tạm ước, duy trì ngừng bắn và tháo gỡ những bất đồng trong quan hệ hai nước.

Ông Đào Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phát biểu. (Ảnh: Thanh Huy)
Phát biểu khai mạc và đề dẫn Hội thảo, PGS, TS Đoàn Minh Huấn nhấn mạnh: “Đối thoại khi ấy là một phương thức đấu tranh nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc trong tương quan lực lượng bất lợi; mỗi cơ hội hòa hoãn đều đáng trân trọng đối với một đất nước vừa giành được độc lập”.
Đặt sự kiện trong toàn bộ hoạt động ngoại giao năm 1946, đồng chí Đoàn Minh Huấn phân tích sự kết hợp giữa kiên định nguyên tắc, linh hoạt sách lược và tăng cường thực lực: Thời gian hòa hoãn được tận dụng để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng, sẵn sàng ứng phó với nguy cơ chiến tranh, đồng thời xuất phát từ mong muốn tránh cho Nhân dân những đau thương, mất mát.
Trong tham luận “Hai con tàu, hai đô đốc và một khí phách Việt Nam”, PGS, TS Đoàn Triệu Long, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III, đặt cạnh nhau hai chuyến đi: Năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời cảng Sài Gòn trên tàu Amiral Latouche-Tréville với tư cách người lao động; năm 1946, Hồ Chí Minh trở về trên tàu Dumont d’Urville với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo tác giả, giữa hai chuyến đi là quá trình từ tìm đường cứu nước đến giành chính quyền, thành lập Nhà nước và bảo vệ thành quả cách mạng, với mục tiêu xuyên suốt là độc lập, tự do và quyền tự quyết của dân tộc.

Các đồng chí lãnh đạo Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Tỉnh ủy Khánh Hòa chủ trì Hội thảo. (Ảnh: Thanh Huy)
Từ góc nhìn này, cuộc hội kiến Cam Ranh thể hiện tư thế của người đứng đầu một quốc gia đã tuyên bố độc lập, chủ động đối thoại khi tương quan lực lượng chênh lệch, nguy cơ chiến tranh lan rộng và cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ đã nổ ra. Tuy nhiên, nghi thức ngoại giao và việc phía Pháp tiếp xúc với Chính phủ Việt Nam chưa đồng nghĩa với sự công nhận đầy đủ yêu cầu về độc lập, thống nhất lãnh thổ. Phân biệt hai vấn đề này giúp đánh giá đúng kết quả và giới hạn của phương pháp đàm phán, đồng thời thấy rõ khó khăn của nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Giới hạn nhân nhượng và năng lực chủ động trong ngoại giao
Một nội dung nổi bật của Hội thảo là xem xét cuộc hội kiến từ yêu cầu thực thi những cam kết đã ký. Trong tham luận về việc thi hành Tạm ước 14/9/1946, TS Đinh Ngọc Quý và ThS Nguyễn Thị Kim Tâm phân tích nỗ lực cụ thể hóa thỏa thuận qua việc đình chỉ xung đột và bố trí đại diện phối hợp thực hiện. Đồng thời, yêu cầu của phía Pháp về việc rút quân đội Việt Nam ở miền Nam ra miền Bắc tiếp tục bộc lộ bất đồng liên quan trực tiếp đến thống nhất và chủ quyền quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết không chấp nhận yêu cầu này.
Trong bài tham luận, PGS, TS Đoàn Triệu Long bổ sung chiều sâu khi đối chiếu sử liệu Việt Nam với báo chí Pháp và tài liệu ngoại giao Hoa Kỳ. Theo tác giả, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết hợp thương lượng trực tiếp với tranh thủ báo chí, dư luận và duy trì liên hệ với những người có trách nhiệm trong Chính phủ Pháp; việc đề nghị các nhà báo góp phần tuyên truyền thực hiện Tạm ước cho thấy Người quan tâm tạo dựng điều kiện chính trị, xã hội để các cam kết được thực thi. Đối chiếu tuyên bố công khai với trao đổi ngoại giao sau hội kiến, tham luận làm rõ lập trường nhất quán của Người: tiếp tục tìm giải pháp hòa bình, yêu cầu thực hiện thực chất các cam kết và giữ vững nguyên tắc thống nhất đất nước.
Những phân tích này góp phầm sáng rõ phương pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh: Độc lập, thống nhất định hướng cho lựa chọn sách lược; đánh giá đúng tương quan lực lượng giúp xác định giới hạn nhân nhượng và thời điểm điều chỉnh hành động; sự chủ động thể hiện ở việc tổ chức lực lượng, tranh thủ thời gian, vận động dư luận và mở rộng các kênh tiếp xúc.
Đặt Cam Ranh trong tiến trình dẫn tới Toàn quốc kháng chiến giúp hiểu sâu hơn cơ sở của quyết định chiến lược ngày 19/12/1946. Đến tháng 10/1946, khả năng đối thoại vẫn được duy trì; khi hành động quân sự và yêu sách của phía Pháp trực tiếp đe dọa sự tồn tại của chính quyền cách mạng, việc chuyển phương thức đấu tranh trở nên cấp thiết. Cần phân biệt nỗ lực tìm kiếm hòa bình, chuẩn bị đối phó chiến tranh và quyết định thời điểm phát động kháng chiến để đánh giá đúng tính chủ động của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Như PGS, TS Đoàn Minh Huấn khẳng định: Nỗ lực đàm phán và quyết tâm kháng chiến “không phải hai lựa chọn đối lập, mà là hai phương thức thống nhất cùng hướng tới mục tiêu tối thượng là bảo vệ nền độc lập dân tộc”.
Từ bài học Cam Ranh đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Khánh Hòa
Hội thảo đúc rút ba nhóm bài học: Giữ vững cái “bất biến” là độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong khi linh hoạt về phương pháp, sách lược; giải quyết bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, với nền hòa bình gắn liền độc lập dân tộc; và bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự nghiệp của toàn quân, toàn dân.
Bài học thứ ba đặc biệt có ý nghĩa với Khánh Hòa. Theo thông cáo của Ban Tổ chức, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh hội kiến trên vùng biển Cam Ranh phản ánh tầm nhìn chiến lược của Người về vị trí đặc biệt của vịnh Cam Ranh và không gian biển, đảo đối với quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững của đất nước. Tám mươi năm sau, Khánh Hòa vừa có hệ thống cảng biển, sân bay, các trung tâm kinh tế biển đang hình thành, vừa là địa phương quản lý đặc khu Trường Sa.

Toàn cảnh Hội thảo. (Ảnh: Thanh Huy)
Từ đó, có thể nhận diện hai yêu cầu. Thứ nhất, kiên định “bất biến” về chủ quyền bằng đấu tranh hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế. Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kiên trì giải quyết bất đồng phù hợp Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Với Khánh Hòa, đặc khu Trường Sa là nơi trực tiếp thể hiện sự quản lý và hiện diện của Nhà nước ta trên thực địa.
Thứ hai, xây dựng thực lực bằng kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đặt nền móng cho tư duy này; Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh tiếp tục xác định biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Triển khai nghị quyết này, Khánh Hòa phát triển hài hòa Khu kinh tế Vân Phong, Nha Trang - Cam Lâm, khu vực ven biển phía Nam và đặc khu Trường Sa, ưu tiên hạ tầng thiết yếu cho Trường Sa và các đảo trọng yếu, gồm cả hậu cần nghề cá, tìm kiếm cứu nạn và các công trình lưỡng dụng.
Tuy nhiên, các tham luận lưu ý cuộc hội kiến năm 1946 không phải cuộc thương lượng chuyên biệt về chủ quyền biển, đảo; việc liên hệ cần dựa trên giá trị nguyên tắc và đặt trong điều kiện mới, để việc phát huy ý nghĩa sự kiện có căn cứ khoa học.
Phát huy giá trị lịch sử gắn với trách nhiệm của Khánh Hòa
Phát biểu chào mừng Hội thảo, đồng chí Trần Phong, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa khẳng định: “Đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Khánh Hòa, sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vịnh Cam Ranh là niềm vinh dự, tự hào sâu sắc”. Niềm tự hào ấy đặt ra trách nhiệm gìn giữ di sản, học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.
Trong giai đoạn phát triển mới, Khánh Hòa tập trung phát huy tiềm năng kinh tế biển, du lịch, dịch vụ, công nghiệp, năng lượng; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống Nhân dân. Trong 9 tháng đầu năm 2026, GRDP của tỉnh ước tăng 11,21%; doanh thu du lịch ước đạt hơn 67.950 tỷ đồng, tăng 21%.

Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa, Trần Phong phát biểu chào mừng Hội thảo. (Ảnh: Thanh Huy)
Đồng chí Trần Phong nhấn mạnh: “Chúng tôi nhận thức rằng, để hiện thực hóa những mục tiêu ấy, bên cạnh việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, điều quan trọng là khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, ý chí đổi mới, sáng tạo và khát vọng vươn lên trong mỗi cán bộ, đảng viên, người dân và cộng đồng doanh nghiệp”. Bí thư Tỉnh ủy kỳ vọng kết quả Hội thảo được vận dụng trong nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ và bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của sự kiện.
Về định hướng nghiên cứu, PGS, TS Đoàn Minh Huấn đề nghị tiếp tục làm rõ bối cảnh, tương quan lực lượng, diễn biến, kết quả cuộc hội kiến; cách kết hợp kiên định nguyên tắc với linh hoạt sách lược; giá trị đối với nhận thức về độc lập, tự chủ, bảo vệ hòa bình. Đồng chí nhấn mạnh: “Trung thực với lịch sử là nền tảng để bài học quá khứ giữ được giá trị lâu dài”.
Các tham luận và phiên tọa đàm bổ sung tư liệu, luận cứ khoa học để nhận thức đầy đủ hơn sự kiện Cam Ranh; những định hướng sưu tầm, thẩm định, số hóa tư liệu và hoàn thiện nội dung thuyết minh sẽ đưa kết quả nghiên cứu vào nhà trường, bảo tàng và cộng đồng, gắn việc gìn giữ ký ức lịch sử với trách nhiệm xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước.
Bài liên quan
-
Hướng về nguồn cội – Nghĩa cử cao đẹp của tập thể lớp K76, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
-
Bộ Chính trị quyết định phân công, bổ nhiệm Trưởng ban Nội chính Trung ương và Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
-
Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa có vi phạm rất nghiêm trọng nhưng do mắc bệnh hiểm nghèo nên chưa xử lý kỷ luật
-
Chúc mừng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc
-
Diễn đàn Tư pháp ASEAN - Trung Quốc lần thứ tư: Tăng cường hợp tác, hướng tới nền tư pháp hiện đại
-
Tòa án nhân dân tối cao công bố quyết định bổ nhiệm Phó Vụ trưởng Vụ Giám đốc, kiểm tra về hình sự
-
Doanh nhân Việt Nam: Vững bản lĩnh, trọng chữ tín, thượng tôn pháp luật và phát triển bền vững
-
Thông cáo chung Diễn đàn Tư pháp ASEAN - Trung Quốc lần thứ tư thống nhất nhiều định hướng hợp tác tư pháp trong kỷ nguyên số
Bình luận