Tháo gỡ điểm nghẽn vốn là tạo động lực cho từng doanh nghiệp phát triển
Tại Diễn đàn Tài chính 2026, do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức tại TP.HCM chiều ngày 20/5. Các doanh nghiệp cho rằng điểm nghẽn về vốn đang “bó chân” doanh nghiệp phát triển.
Toàn cảnh Diễn đàn Tài chính 2026
Rủi ro và cơ hội của nền kinh tế vẫn đan xen nhau
Phát biểu tại Diễn đàn, ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, Ngân hàng Nhà nước cho rằng mặc dù chịu tác động bất lợi từ môi trường bên ngoài, kinh tế vĩ mô trong năm 2025 và 4 tháng đầu năm 2026 nhìn chung tiếp tục duy trì ổn định; tăng trưởng kinh tế đạt kết quả tích cực; lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm.
Cũng theo ông Lân, quý I/2026, GDP của Việt Nam tăng khoảng 7,83% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục thuộc nhóm tăng trưởng cao trong khu vực. Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì đà tăng mạnh với tổng kim ngạch đạt khoảng 249,5 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện đạt khoảng 5,41 tỷ USD, tăng 9,1%, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam tiếp tục được duy trì.
Tuy nhiên, theo ông Lân, bên cạnh các kết quả tích cực, nền kinh tế cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn và rủi ro đáng lưu ý. Áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng trở lại do giá năng lượng thế giới tăng mạnh; tỷ giá và thị trường ngoại hối chịu áp lực lớn hơn; mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao; chi phí vốn và chi phí logistics gia tăng; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở các ngành chịu tác động trực tiếp từ suy giảm nhu cầu toàn cầu và biến động thương mại quốc tế.
Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Đánh giá các rủi ro tiềm ẩn đối với những tháng còn lại của năm 2026, ông Nguyễn Phi Lân cho rằng, đối với các tháng còn lại của năm 2026, có thể nhận thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và cơ hội đan xen.
Một là, rủi ro lạm phát và áp lực chi phí đầu vào gia tăng. Trong đó, giá dầu và giá năng lượng toàn cầu biến động mạnh dưới tác động của xung đột địa chính trị có thể tạo ra vòng xoáy lạm phát chi phí đẩy với cường độ lớn hơn so với các giai đoạn trước. Áp lực này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, vận tải và logistics mà còn tác động đến kỳ vọng lạm phát của doanh nghiệp và người dân.
Hai là, rủi ro tỷ giá, dòng vốn và áp lực đối với hệ thống tài chính – ngân hàng. Dòng vốn quốc tế và thị trường tài chính toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng trong trường hợp đồng USD duy trì xu hướng mạnh lên hoặc xung đột địa chính trị kéo dài. Đồng thời, xu hướng bảo hộ thương mại, phân mảnh chuỗi cung ứng và suy giảm thương mại toàn cầu cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, đầu tư và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong các quý tới.
Một vấn đề đáng chú ý khác là sức khỏe tài chính và triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng. Theo kết quả Điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng quý I/2026, các tổ chức tín dụng nhìn chung đánh giá triển vọng kinh doanh năm 2026 vẫn tích cực nhưng thận trọng hơn đáng kể so với năm trước. Các tổ chức tín dụng kỳ vọng nhu cầu tín dụng tiếp tục phục hồi, song tốc độ phục hồi chưa đồng đều giữa các nhóm khách hàng và ngành nghề.
Kết quả điều tra cho thấy nhiều tổ chức tín dụng lo ngại rủi ro nợ xấu gia tăng trong bối cảnh chi phí vốn tăng, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn hạn chế và môi trường kinh doanh quốc tế tiềm ẩn nhiều bất định. Các tổ chức tín dụng cũng đánh giá mặt bằng lãi suất huy động có thể chịu áp lực tăng trong thời gian tới do cạnh tranh huy động vốn và áp lực tỷ giá, qua đó ảnh hưởng đến khả năng duy trì mặt bằng lãi suất cho vay thấp như giai đoạn trước.
Đặc biệt, áp lực đối với hệ thống tài chính – ngân hàng đang gia tăng khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn có xu hướng mở rộng, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức rất cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Điều này phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào vốn tín dụng ngân hàng, đồng thời tiềm ẩn rủi ro đối với thanh khoản và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng nếu xuất hiện các cú sốc từ bên ngoài hoặc chất lượng tài sản suy giảm.
Các đại biểu tham dự diễn đàn
Trong bối cảnh đó, dư địa điều hành chính sách tiền tệ không còn nhiều như các giai đoạn trước, đặc biệt khi chính sách tiền tệ đồng thời phải xử lý nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống. Điều này đặt ra yêu cầu cần phát triển cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng phản ánh niềm tin của hệ thống ngân hàng và các chuyên gia kinh tế đối với triển vọng phục hồi kinh tế trong trung hạn. Các tổ chức tín dụng tiếp tục kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Đặc biệt, trước tình hình khó khăn trên, ông Lân cho rằng các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực quản trị tài chính, minh bạch thông tin, cơ cấu lại dòng tiền và tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Doanh nghiệp cần sử dụng vốn tín dụng đúng mục đích, tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng thực chất, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, hợp tác công – tư và các hình thức huy động vốn trung dài hạn khác. Việc phát triển cân bằng giữa tín dụng ngân hàng và các kênh dẫn vốn khác không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng chống chịu tài chính mà còn góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tăng tính bền vững của nền kinh tế.
Đồng thời doanh nghiệp không nên quá bi quan hoặc phản ứng nóng vội trước các biến động ngắn hạn của kinh tế thế giới.
Doanh nghiệp cần dòng vốn để khơi thông điểm nghẽn
Nhìn thẳng vào vấn đề doanh nghiệp hiện nay, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI cho rằng hiện nay các cơ quan quản lý đang nỗ lực tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, với mục tiêu cao nhất là bảo vệ quyền lợi hợp pháp và tạo không gian phát triển rộng mở nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân.
Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Bởi, theo số liệu ông Phòng đưa ra, theo báo cáo kinh tế tư nhân 2025 mới được công bố tại sự kiện PCI 2.0 cho thấy, đến hết năm 2025, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 6,6% so với năm 2024. Cùng với khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, khu vực tư nhân hiện tạo việc làm cho khoảng 26 triệu lao động, tương đương 50,2% tổng số việc làm của cả nước.
Ông cũng cho biết, năm 2025, số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt mức kỷ lục 297.500 doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm trước. Có tới 85,7% doanh nghiệp cho biết đang duy trì hoặc mở rộng quy mô hoạt động, phản ánh tâm thế thận trọng nhưng tích cực của cộng đồng doanh nghiệp sau giai đoạn khó khăn 2023, 2024.
Nhưng, với số lượng doanh nghiệp tăng trưởng như trên thì hiện các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ tại Việt Nam cũng đang đối diện khoảng trống tín dụng lớn, với khoảng thiếu hụt tài chính hàng năm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ lên tới hàng tỷ USD và một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp có nhu cầu chưa được đáp ứng.
“Chính vì vậy, cần có lời giải cho bài toán đầy thách thức, tháo gỡ điểm nghẽn vốn, đây không chỉ là tiếp động lực cho từng doanh nghiệp, mà là đòn bẩy cho cả nền kinh tế trong giai đoạn 2026-2030”, Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Quang Phòng cho biết.
Đứng trên góc độ chuyên gia kinh tế, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright cho rằng tín dụng ngân hàng cần duy trì ở mức hợp lý, đáp ứng khoảng 12% GDP cho đầu tư xã hội, ưu tiên sản xuất, hạn chế đầu cơ. Đồng thời, cải cách mạnh mẽ thị trường vốn, nâng quy mô huy động qua cổ phiếu và trái phiếu lên ít nhất 4% GDP. Bên cạnh đó là thúc đẩy kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ khởi nghiệp và nâng tỷ phần vốn tự có cho đầu tư lên khoảng 6% GDP.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Văn Hiếu, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần OBC Thuận An cho rằng đối với doanh nghiệp bất động sản, đang chịu áp lực kép. Vừa thiếu vốn trung – dài hạn để triển khai dự án, vừa đối mặt với chi phí đầu vào tăng mạnh như vật liệu xây dựng, giải phóng mặt bằng, chi phí tài chính và nhân công. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung và mặt bằng giá nhà ở trên thị trường.
Ông Trần Văn Hiếu, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần OBC Thuận An
Trước những khó khăn trên, ông Hiếu cho rằng cần có giải pháp khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp và thị trường bất động sản.
Thứ nhất, điều quan trọng nhất hiện nay là cần có cơ chế quản lý và cung ứng nguồn vốn theo hướng tách bạch, minh bạch và đúng mục tiêu sử dụng.
Hiện nay, tín dụng bất động sản vẫn đang được nhìn như một nhóm chung, trong khi thực tế có rất nhiều loại hình và nhu cầu hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, cần phân loại rõ để điều hành hiệu quả hơn, thay vì đánh đồng toàn bộ bất động sản là lĩnh vực rủi ro cao.
Thứ hai, vấn đề phân loại dòng sản phẩm. Cần phân loại các loại hình bất động sản để ưu tiên dòng vốn đúng phân khúc tạo ra giá trị thật cho nền kinh tế. Ông Hiếu cho rằng không nên nhìn toàn bộ bất động sản dưới cùng một mặt bằng rủi ro. Những dự án phục vụ nhu cầu ở thực, nằm tại các khu vực có hạ tầng phát triển, nhu cầu dân cư cao và pháp lý rõ ràng cần được ưu tiên tiếp cận nguồn vốn với cơ chế phù hợp hơn.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp phát triển bất động sản nhà ở đang phải chịu mặt bằng lãi suất vay cao hơn đáng kể so với các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh thông thường. Trong khi trên thực tế, việc phát triển các dự án nhà ở phục vụ nhu cầu an cư cũng là một hoạt động tạo ra giá trị cho nền kinh tế, thúc đẩy hạ tầng đô thị, tạo việc làm và lan tỏa tới nhiều ngành nghề liên quan.
Tiếp đó, cần có cơ chế nguồn vốn riêng dành cho nhóm doanh nghiệp phát triển bất động sản phục vụ nhu cầu ở thực.
Nguồn vốn này cần ưu tiên cho các doanh nghiệp có pháp lý minh bạch, năng lực triển khai thực tế và tạo ra nguồn cung thật cho thị trường. Những doanh nghiệp làm dự án bài bản hiện nay rất cần dòng vốn trung – dài hạn ổn định để triển khai xây dựng, hoàn thiện sản phẩm và đưa nguồn cung ra thị trường.
Nếu doanh nghiệp không tiếp cận được vốn, dự án sẽ bị chậm tiến độ, nguồn cung bị thu hẹp, cuối cùng người chịu tác động lớn nhất vẫn là người mua nhà.
Thứ ba, cần tách riêng nguồn vốn dành cho nhóm khách hàng cá nhân có nhu cầu mua nhà để ở thật. Đây là lực cầu bền vững của thị trường và cần được tiếp cận các gói tín dụng dài hạn với lãi suất hợp lý, ổn định và minh bạch hơn, đặc biệt đối với người trẻ và nhóm khách hàng mua nhà lần đầu.
Nếu dòng vốn được ưu tiên đúng phân khúc, đúng nhu cầu và đúng doanh nghiệp, thị trường sẽ phát triển lành mạnh hơn, đồng thời góp phần giải quyết bài toán nguồn cung và khả năng tiếp cận nhà ở của người dân.
“Trong giai đoạn tới, chúng tôi cho rằng định hướng chính sách cần có ưu tiên nguồn vốn cho các dự án có pháp lý rõ ràng, phục vụ nhu cầu ở thực và phát triển theo định hướng đô thị bền vững”, ông Hiếu nói.
Nguồn ảnh: diendandoanhnghiep.vn
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Cần xem xét để xác định thẩm quyền theo cấp Tòa án khi hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
-
Tòa án nhân dân – Một chặng đường lịch sử vẻ vang
-
Xét xử bị cáo Bùi Đình Khánh- kẻ đã nổ súng khiến Thiếu tá Nguyễn Đăng Khải hy sinh trong khi làm nhiệm vụ
-
Miễn nộp tạm ứng án phí, miễn án phí đối với người cao tuổi - Một số tồn tại, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện
-
Về bài viết: Hành vi “góp tiền để cùng được sử dụng ma túy” có phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 không?
Bình luận