Thực tiễn và vướng mắc trong kháng nghị giám đốc thẩm các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh hiện nay
Quy định về kháng nghị theo trình tự, thủ tục tố tụng “Giám đốc thẩm” tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh hiện còn bộc lộ những bất cập, gây vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Bài viết này, tác giả xin phân tích quy định của pháp luật, chỉ rõ vấn đề còn hạn chế, bất cập và nêu đề xuất, kiến nghị cụ thể.
1. Quy định của pháp luật
BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung tại Luật số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự), có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2025, theo đó sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền xét xử của Tòa án (Điều 268 BLTTHS). Điều 382 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định về thẩm quyền kháng nghị “Giám đốc thẩm”, trong các hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, các hành vi vi phạm pháp luật có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Theo quy định tại Điều 370 BLTTHS năm 2015 thì: Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.
Theo đó, thì người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân đều có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị. Việc kiểm tra bản án, quyết định để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị được thực hiện theo quy định trên, gồm 04 trường hợp (Điều 371, Điều 372 BLTTHS), như sau: (1) Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; (2) Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (3) Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử và (4) Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.
Như vậy, khi phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm thì: Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi công dân có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị. Trong trường hợp phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo cho người có quyền kháng nghị (Điều 372 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đây cũng là điểm mới so với Điều 372 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, gồm: “1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.”; “3. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi tỉnh, thành phố” (khoản 1, 3 Điều 373 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Phiên tòa giám đốc thẩm phải được tiến hành giải quyết trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được Quyết định kháng nghị, kèm hồ sơ vụ án. Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị. Theo đó, có quyền: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật; hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án và hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm được quy định như sau: Hội đồng giám đốc thẩm Tòa hình sự TANDTC hoặc Tòa án quân sự Trung ương gồm ba Thẩm phán. Nếu Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc Hội đồng Thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán tham gia xét xử. Quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán tán thành. Tại phiên tòa giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu, Hội đồng Thẩm phán TANDTC khi biểu quyết về nội dung kháng nghị thì phải biểu quyết theo trình tự những ý kiến đồng ý với kháng nghị, những ý kiến không đồng ý với kháng nghị. Nếu không có loại ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành, thì phải hoãn phiên toà. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án với sự tham gia của toàn thể các thành viên (Điều 382 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025).
2. Một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn
Mặc dù, BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và các văn bản hướng dẫn đã quy định, hướng dẫn trình tự, thủ tục, nội dung kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhiều TAND cấp tỉnh vẫn còn lúng túng trong việc ban hành kháng nghị bản án, quyết định theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm và ai là người thực hiện việc kháng nghị bản án, quyết định theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm của TAND cấp khu vực? Để làm rõ hơn, tác giả xin nêu một ví dụ cụ thể như sau:
Khoảng tháng 11/2023, Phan Văn H2 muốn tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá nên hỏi Đoàn Bá H1 có quen biết ai có thể cung cấp tài khoản và mật khẩu cho H2. Nghe vậy, H1 liên lạc bằng điện thoại với đối tượng tên M là người H1 quen biết ở thành phố H để nhờ cung cấp tài khoản và mật khẩu nhằm tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá thì đối tượng M đồng ý và cung cấp tài khoản có tên Gold888 và mật khẩu có tên HHhh0606. Sau đó, H1 đưa tài khoản và mật khẩu này cho Phan Văn H2 đăng nhập vào trang www.viva88.net để tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá.
* Quá trình điều tra xác định:
Ngày 16/12/2023, Phan Văn H2 bị bắt quả tang khi đang dùng điện thoại di động của mình đăng nhập vào tài khoản Gold888 trên trang www.viva88.net để tổ chức đánh bạc dựa trên diễn biến và kết quả của 06 trận bóng đá, đã nhận 39 lượt cá cược với số tiền đặt cược là 28.500.000 đồng, số tiền thắng cược là 7.932.000 đồng nên tổng số tiền đánh bạc trong ngày là 36.432.000 đồng.
* Những đối tượng đã tham gia đặt cược trong đêm ngày 16/12/2023 gồm có Nguyễn S, Cao Văn P, Lê Văn H3 (số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Riêng bị cáo Nguyễn Tấn T đã tham gia đặt 03 cược, với số tiền đặt cược là 6.000.000 đồng, số tiền thắng cược là 2.540.000 đồng nên tổng số tiền đánh bạc là 8.540.000 đồng.
* Ngoài việc tổ chức cá độ các trận bóng đá vào ngày 16/12/2023, qua kiểm tra, trích sao nội dung trong tài khoản của Phan Văn H2, xác định H2 còn tổ chức cá độ bóng đá trong các ngày: 09/12/2023, 10/12/2023, 12/12/2023, 14/12/2023 và ngày 15/12/2023, cụ thể:
1. Ngày 09/12/2023, Phan Văn H2 đã tổ chức đánh bạc tổng số tiền đánh bạc là 92.200.000 đồng.
2. Ngày 10/12/2023, Phan Văn H2 đã tổ chức đánh bạc tổng số tiền đánh bạc là 80.191.000 đồng.
3. Ngày 12/12/2023, Phan Văn H2 đã tổ chức đánh bạc tổng số tiền đánh bạc là 37.159.000 đồng.
4. Ngày 14/12/2023, Phan Văn H2 đã tổ chức đánh bạc tổng số tiền đánh bạc là 300.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền các con bạc đặt cược là 178.400.000 đồng, số tiền thắng cược là 67.882.000 đồng nên tổng số tiền đánh bạc là 246.282.000 đồng, trong đó: Phan Văn H2 thu lợi bất chính 33.155.400 đồng (30% tổng tiền thắng thua). Đoàn Bá H1 thu lợi 77.362.600 đồng (70% tổng tiền thắng thua) và nhận thêm 600.000 đồng tiền hoa hồng từ đối tượng M.
Từ ngày 09, 10, 12, 14, 15 và ngày 16/12/2023, tại quán cà phê 3Gold do bị cáo Phan Văn H2 quản lý, bị cáo Phan Văn H2 và Đoàn Bá H1 đã tổ chức đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 246.282.000 đồng, (trong đó tiền đặt cược: 178.400.000 đồng, tiền thắng cược: 67.882.000 đồng) nên tổng số tiền thu lợi bất chính là 110.518.000 đồng, trong đó: Phan Văn H2 thu lợi bất chính 33.155.400 đồng (30% tổng tiền thắng thua). Đoàn Bá H1 thu lợi 77.362.600 đồng (70% tổng tiền thắng thua) và nhận thêm 600.000 đồng tiền hoa hồng từ đối tượng M.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2025/HS-ST ngày 10/6/2025 của Tòa án khu vực 1- Q, quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Bá H1, Phan Văn H2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; theo điểm b, c khoản 2 Điều 322 BLHS; Xử phạt bị cáo Đoàn Bá H1 là 02 (Hai) năm tù; Phan Văn H2 là 01 năm 06 tháng tù. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 BLHS xử phạt 20.000.000 đồng.
Trong thời hạn kháng cáo, bị cáo Đoàn Bá H1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; xin được chuyển từ hình phạt tù thành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt tiền. Các bị cáo Phan Văn H2, Nguyễn Tấn T không kháng cáo.
* Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 112/2025/HS-PT ngày 22/9/2025 của TAND tỉnh Q, nhận định và quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đoàn Bá H1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.
Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị Chánh án TAND tỉnh Q xem xét kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hình sự sơ thẩm theo hướng tăng mức hình phạt đối với các bị cáo trong vụ án trên mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
* Sau khi xét xử phúc thẩm, hiện nay có các quan điểm:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Bản án hình sự sơ thẩm của TAND khu vực 1- Q chưa có hiệu lực pháp luật, do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Bá H1 và đã được xét xử, quyết định bằng bản án hình sự phúc thẩm số 112/2025/HS-PT ngày 22/9/2025 của TAND tỉnh Q. Do đó, Chánh án TAND tối cao mới có thẩm quyền kháng nghị và Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm đối với cả hai bản án nêu trên mới giải quyết triệt để vụ án (khoản 1 Điều 382 BLTTHS).
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Chánh án Toà án nhân dân tỉnh Q có thẩm quyền kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên của TAND khu vực 1- Q và Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh Q có quyền xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 1 - Q xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Bản án hình sự sơ thẩm của TAND khu vực 1- Q chưa có hiệu lực pháp luật, do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Bá H1 kháng cáo nên HĐXX phúc thẩm không thể hủy bản án nêu trên. Nếu hủy bản án sơ thẩm sẽ gây bất lợi cho các bị cáo khác như Phan Văn H2, Nguyễn Tấn T trong vụ án. Do, HĐXX phúc thẩm đã kiến nghị bằng bản án phúc thẩm nên Chánh án TAND tỉnh Q có quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án trên và Ủy ban thẩm phán TAND tỉnh Q sẽ hủy cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại là đúng (khoản 4 Điều 382 BLTTHS).
3. Cần có hướng dẫn thống nhất
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc có cách hiểu khác nhau về thẩm quyền của Chánh án TAND cấp tỉnh theo trình tự, thủ tục giám đốc được quy định tại Điều 373 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Tuy nhiên, quan điểm của tác giả trong nội dung bài viết này là đồng ý với quan điểm thứ hai. Vì để đảm bảo quyền và lợi ích của các bị cáo theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, nên trường hợp mặc dù bị cáo Đoàn Bá H1 đã được xét xử tại bản án phúc thẩm nhưng do các bị cáo khác còn lại như Phan Văn H2, Phan Tấn T trong vụ án không có kháng cáo, kháng nghị. Đặc biệt trong trường hợp HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại theo quy định Điều 358 BLTTHS, với lý do: “có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật”, hiện nay quy định của pháp luật cũng chưa có văn bản nào quy định về nội dung này vì bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chứ vụ án không bị kháng nghị để hủy án hoặc đề nghị sửa án theo hướng tăng nặng hình phạt; nếu hủy bản án sơ thẩm sẽ gây bất lợi cho chính bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và các bị cáo khác trong vụ án không có kháng cáo. Nên dành quyền cho Ủy ban thẩm phán TAND cấp tỉnh khi Chánh án TAND cấp tỉnh kháng nghị “Giám đốc thẩm”, trên cơ sở đó sẽ xem xét toàn diện vụ án đảm bảo tính khách quan, công bằng và nghiêm minh của pháp luật.
Trước đây theo quy định tại khoản 3 Điều 373 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì thẩm quyền “Giám đốc thẩm” thuộc Chánh án TAND cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao. Nhưng kể từ thời điểm ngày 01/7/2025 thì thẩm quyền này thuộc Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.
Để thực tiễn xét xử phúc thẩm, kháng nghị theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm đảm bảo, bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự trong tất cả các vụ án hình sự, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần ban hành văn bản để hướng dẫn nội dung trên, bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật, tránh trường hợp có những bản án, quyết định phúc thẩm không nghiêm tạo dư luận không tốt, đáng lẽ ra bị cáo cần xét xử nặng thì Tòa án cấp sơ thẩm lại xét xử nhẹ, bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử mức án phù hợp có đơn kháng cáo; nếu vụ án có nhiều bị cáo nếu hủy án xét xử lại cho đúng thì sẽ gây bất lợi cho bị cáo khác trong cùng một vụ án, những người tham gia tố tụng trong vụ án và những người khác... hay việc kháng nghị theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm sau đó bản án, quyết định bị hủy, sửa bản án phúc thẩm không đúng quy định pháp luật có thể để lại hậu quả lớn, gây khó khăn trách nhiệm trong công tác thi hành án hình sự sau này.
Trên đây là quan điểm của tác giả, mong được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và bạn đọc.
TAND tỉnh Đăk Lăk xét xử vụ án hình sự - Ảnh: Thanh Tùng.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Xác định nơi công cộng trong tội gây rối trật tự công cộng - Một số vướng mắc và đề xuất, kiến nghị
-
Thời gian công bố kết quả trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Các mốc thời gian sau ngày bầu cử ĐBQH khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 -
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân
Bình luận