Tiêu chuẩn, điều kiện của Thẩm phán, Thư ký Tòa án là người nước ngoài theo Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế. Luật này chính thức có hiệu lực thi hành từ 01/01/2026.

1. Đặt vấn đề

Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế ra đời có ý nghĩa chính trị vô cùng quan trọng. Có thể thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp là một trong các yếu tố quan trọng, góp phần củng cố niềm tin, bảo vệ quyền, lợi ích của nhà đầu tư tại Trung tâm tài chính quốc tế. Bên cạnh cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, việc xây dựng Tòa án chuyên biệt với những quy định đặc thù, bảo đảm phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế để giải quyết tranh chấp tại Trung tâm tài chính quốc tế sẽ góp phần hoàn thiện và tăng cường hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tòa án; tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài.

Tranh chấp phát sinh từ hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế mang tính quốc tế, nghiệp vụ tài chính chuyên biệt, đòi hỏi tính đặc thù của Tòa án chuyên biệt so với các Tòa án khác về trình độ chuyên môn sâu của Thẩm phán và cán bộ Tòa án, vấn đề áp dụng pháp luật, ngôn ngữ sử dụng trong xét xử và trình tự, thủ tục tố tụng.

Như vậy, có thể khẳng định, việc xây dựng và ban hành Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế đã kịp thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, triển khai thi hành hiệu quả Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Tổ chức Tòa án nhân dân là rất cần thiết.

2. Về bố cục của Luật

Luật gồm 44 điều, 05 chương, cụ thể như sau:

Chương I: Những quy định chung (gồm 06 điều, từ Điều 1 đến Điều 6);

Chương II: Tổ chức Tòa án (gồm 06 điều, từ Điều 7 đến Điều 12);

Chương III: Thủ tục tố tụng tại Tòa án chuyên biệt (gồm 27 điều, từ Điều 13 đến Điều 39), gồm 03 mục (mục 1 về Quy định chung, mục 2 về Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án chuyên biệt, mục 3 về Thi hành bản án, quyết định của Tòa án chuyên biệt);

Chương IV: Bảo đảm hoạt động của Tòa án chuyên biệt (gồm 03 điều, từ Điều 40 đến Điều 42);

 Chương V: Điều khoản thi hành biệt (gồm 02 điều, từ Điều 43 đến Điều 44).

3. Quy định mới về Thẩm phán và Thư ký Tòa án là người nước ngoài

Theo quy định của Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế, lần đầu tiên ghi nhận Thẩm phán và Thư ký Tòa án là người nước ngoài. Đây là điểm mới nổi bật khác với các quy định trước đây, điều này bảo đảm sự phù hợp với yêu cầu xây dựng Tòa án chuyên biệt là để giải quyết các tranh chấp tài chính, thương mại, đầu tư tại Trung tâm tài chính quốc tế.

Đối với Thẩm phán và Thư ký Tòa án chuyên biệt là người nước ngoài, Luật cũng đặt ra những điều kiện, tiêu chuẩn của từng chủ thể. Cụ thể:

3.1. Điều kiện, tiêu chuẩn của Thẩm phán là người nước ngoài

Khoản 2 Điều 10 Luật này quy định như sau:

“Thẩm phán là người nước ngoài phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện như sau:

a) Đã hoặc đang là Thẩm phán nước ngoài; luật sư, chuyên gia có uy tín, phẩm chất đạo đức tốt, kiến thức chuyên môn phù hợp, am hiểu pháp luật về đầu tư, kinh doanh;

b) Có ít nhất 10 năm kinh nghiệm tham gia xét xử, giải quyết vụ việc liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh;

c) Có năng lực tiếng Anh để xét xử, giải quyết vụ việc tại Tòa án chuyên biệt;

d) Không quá 75 tuổi, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.”.

Như vậy, Luật đặt ra 04 điều kiện, tiêu chuẩn đối với Thẩm phán là người nước ngoài. Đồng thời, Luật ghi nhận rất cụ thể, một người nước ngoài để có thể được bổ nhiệm là Thẩm phán của Tòa án chuyên biệt thì phải đáp ứng đủ 04 tiêu chuẩn, điều kiện nêu trên. Có thể thấy, yêu cầu đối với Thẩm phán là người nước ngoài khá cụ thể, chi tiết và đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn cũng như tiêu chuẩn đạo đức, uy tín…

Thẩm phán là người nước ngoài sẽ do Chủ tịch nước bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nhiệm kỳ của Thẩm phán là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định cụ thể, Thẩm phán là người nước ngoài không được làm người đại diện, luật sư tại Tòa án chuyên biệt. Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này và Quy tắc tố tụng, tuân thủ Bộ quy tắc đạo đức Thẩm phán Tòa án chuyên biệt do Tòa án nhân dân tối cao ban hành. Quy định này là quy định chung cho cả Thẩm phán là người Việt Nam.

Quy định Thẩm phán Tòa án chuyên biệt là người nước ngoài phải được Chủ tịch nước bổ nhiệm để bảo đảm phù hợp với quy đinh tại khoản 3 Điều 88 Hiến pháp, cụ thể như sau:

 Điều 88. Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

…3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá; ”.

Do đó, việc ghi nhận Tòa án chuyên biệt có Thẩm phán là người nước ngoài là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp.

3.2. Điều kiện, tiêu chuẩn của Thư ký Tòa án là người nước ngoài

Cũng giống như quy định về Thẩm phán là người nước ngoài, Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế cũng quy định Thư ký Tòa án tại Tòa án chuyên biệt bao gồm:

- Người nước ngoài;

- Công dân Việt Nam.

Đối với Thư ký Tòa án là người nước ngoài cũng phải có các tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể như sau:

- Có phẩm chất đạo đức tốt, kiến thức chuyên môn phù hợp;

- Có ít nhất 03 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật về đầu tư, kinh doanh;

- Có năng lực tiếng Anh để thực hiện nhiệm vụ tại Tòa án chuyên biệt;

- Không quá 60 tuổi, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Như vậy, Luật ghi nhận hết sức cụ thể các tiêu chuẩn, điều kiện đối với Thư ký Tòa án là người nước ngoài. Đồng thời, cần nhấn mạnh rằng, Luật quy định cụ thể một người nước ngoài có thể được bổ nhiệm là Thư ký Tòa án chuyên biệt thì phải đáp ứng đủ 04 tiêu chuẩn, điều kiện nêu trên, thiếu 01 tiêu chuẩn, điều kiện này cũng không được bổ nhiệm làm Thư ký Tòa án chuyên biệt.

Cũng giống như Thẩm phán Tòa án chuyên biệt là người nước ngoài, tiêu chuẩn, điều kiện đối với Thư ký Tòa án ngoài các yêu cầu về năng lực, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tiêu chuẩn về uy tín, đạo đức thì một yêu cầu nữa là về năng lực tiếng anh, theo đó, một người nước ngoài phải có năng lực tiếng anh tốt để thực hiện nhiệm vụ tại Tòa án chuyên biệt thì mới được xem xét, bổ nhiệm theo quy định.

Thư ký Tòa án là người nước ngoài do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tuyển dụng, bổ nhiệm và làm việc theo chế độ hợp đồng. Chế độ làm việc, việc quản lý, trách nhiệm của Thư ký Tòa án là người nước ngoài do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định.

Kết luận

Việc xây dựng và ban hành Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế tạo cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù, vượt trội, tiệm cận với thông lệ quốc tế nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ việc tại Tòa án chuyên biệt hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, lợi ích của quốc gia. Do đó, yêu cầu về các chủ thể gồm Thẩm phán và Thư ký Tòa án là người nước ngoài cũng đã được Luật ghi nhận rất chi tiết, cụ thể. Điều này bảo đảm tính minh thị, rõ ràng, giúp việc áp dụng Luật này trong thực tiễn được hiệu quả, thống nhất ngay sau khi Luật có hiệu lực thi hành.

 

 

PHẠM THỊ QUỲNH NGA (TANDTC)

Ảnh: nguồn Internet