Vướng mắc khi định tội danh “sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bộ luật Hình sự năm 2015
Bài viết tập trung phân tích những quy định pháp luật liên quan đến Điều 256a Bộ luật Hình sự; đồng thời làm rõ vướng mắc trong thực tiễn định tội đối với trường hợp người thực hiện hành vi vừa sử dụng trái phép chất ma túy, vừa tàng trữ trái phép chất ma túy với đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ đó, đánh giá các quan điểm xử lý khác nhau, phân tích dưới góc độ nguyên tắc của luật hình sự và đề xuất hướng áp dụng phù hợp nhằm bảo đảm tính thống nhất, công bằng và đúng đắn trong thực tiễn xét xử.
1. Tính cấp thiết của việc bổ sung Điều 256a về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp, với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, mức độ nguy hiểm ngày càng gia tăng. Đáng chú ý, số lượng người sử dụng trái phép chất ma túy có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt là tình trạng sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp trong giới trẻ, kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe cộng đồng. Hoạt động sử dụng ma túy không còn mang tính cá nhân, lén lút mà diễn ra công khai tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ như quán bar, karaoke, căn hộ cho thuê… tạo ra nguy cơ cao phát sinh các loại tội phạm khác. Thực tiễn xét xử cho thấy, không ít vụ án hình sự nghiêm trọng như cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, thậm chí giết người có nguyên nhân xuất phát từ việc người phạm tội đang trong tình trạng sử dụng ma túy.
Trong khi đó, trước đây hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị xử phạt hành chính theo khoản 1 và điểm a, d khoản 8 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, đó là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; người nước ngoài vi phạm sẽ bị trục xuất. Đây là các biện pháp hành chính cho nên hiệu quả răn đe và phòng ngừa chung chưa cao. Trước yêu cầu tăng cường hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm ma túy trong giai đoạn mới, Quốc hội đã ban hành Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015, trong đó bổ sung Điều 256a quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Quy định này đánh dấu sự điều chỉnh quan trọng trong chính sách hình sự, chuyển từ cơ chế xử lý thuần túy hành chính sang áp dụng chế tài hình sự có điều kiện đối với một số chủ thể đặc thù.
Việc bổ sung tội danh “sử dụng trái phép chất ma túy” không chỉ khắc phục khoảng trống pháp lý do việc phi hình sự hoá hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước đây được quy định tại Điều 199 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 xuất phát từ quan điểm nhân đạo, coi người nghiện là người bệnh cần được hỗ trợ cai nghiện mà còn bảo đảm tính thống nhất và hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật hình sự về ma túy. BLHS đã xử lý nghiêm khắc các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, việc bổ sung Điều 256a về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào BLHS năm 2015 sửa đổi , bổ sung năm 2015, năm 2025 (sau đây viết là BLHS 2015) là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan, cần thiết nhằm tăng cường công cụ pháp lý, góp phần kiềm chế sự gia tăng của tệ nạn ma túy.
Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng bước đầu đã phát sinh những vướng mắc nhất định, đặc biệt trong trường hợp người thực hiện hành vi vừa sử dụng trái phép chất ma túy, vừa tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 249 BLHS 2015. Việc xác định phạm một hay nhiều tội trong trường hợp này còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cần được nghiên cứu, phân tích làm rõ nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất và đúng đắn.
2. Quy định pháp luật và cấu thành tội phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
2.1. Quy định pháp luật
Ngày 19/6/2025, Quốc hội ban hành Luật số 86/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, trong đó có nội dung bổ sung Điều 256a quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào BLHS năm 2015.
Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 3 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc, điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;
c) Đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và đã từng bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
d) Trong thời hạn 2 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.
2. Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”.
Tuy không phải là tội danh mới lần đầu được quy định trong BLHS, nhưng trong lần pháp điển này, Điều 256a lại thể hiện sự chặt chẽ trong kỹ thuật lập pháp khi tiếp cận việc xác định cấu thành tội phạm dựa trên nhân thân của người sử dụng ma túy[1]. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tế xét xử, tác giả nhận thấy tội danh này cần phải được hiểu đủ và đúng để xử lý hành vi sử dụng ma túy.
2.2. Cấu thành tội phạm
2.2.1. Về mặt khách thể
Tội phạm này xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Do đặc tính dược lý của ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước xác lập chế độ thống nhất quản lý, theo đó, Nhà nước nghiêm cấm hoạt động sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng… các chất ma túy cũng như các dạng tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy. Ngoài việc xâm phạm chế độ thống nhất quản lý chất ma túy, tội sử dụng trái phép chất ma túy còn trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người sử dụng; xâm phạm đến sự phát triển bình thường của giống nòi dân tộc; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, vì nghiện ma túy là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra các loại tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cướp tài sản… để có tiền sử dụng ma túy, hoặc trong trường hợp người nghiện bị “ngáo đá”, ảo giác có thể gây ra các tội đặc biệt nghiêm trọng như hiếp dâm, giết người…
Đối tượng tác động của tội phạm là các chất ma túy như thuốc phiện, Heroin, Cocain, Methaphetamine, Amphetamine, MDMA, XLR-11, lá khát (lá cây Catha edulis), cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định v.v…, các phương tiện, công cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
2.2.2. Về mặt chủ thể
- Điều kiện chủ thể chung:
Chủ thể của tội phạm này cần đảm bảo các điều kiện chung về độ tuổi là từ đủ 16 tuổi trở lên theo quy định tại Điều 12 và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 BLHS 2015.
- Điều kiện chủ thể pháp lý đặc thù
Đối với tội phạm này chủ thể tội phạm ngoài đáp ứng điều kiện chủ thể chung còn cần đáp ứng điều kiện pháp lý đặc thù là phải thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều 256a: Nếu một người sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện lần đầu, họ sẽ bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong vòng 01 năm. Trong 01 năm đó, nếu phát hiện người này tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xác định tình trạng nghiện và đưa họ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (tối đa 24 tháng) hoặc cho phép họ cai nghiện tự nguyện (tối đa 12 tháng) hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế. Nếu trong thời hạn cai nghiện hoặc trong thời gian điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy mà phát hiện người đó tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xử lý hình sự;
+ Trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều 256a: Sau thời hạn cai nghiện ma túy, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định để quản lý sau cai đối với những người này, thời hạn quản lý sau cai đối với người đã cai nghiện ma túy tự nguyện là 01 năm và thời hạn quản lý sau cai đối với người đã cai nghiện bắt buộc là 02 năm. Nếu trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy này, người đó bị phát hiện tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì bị xử lý hình sự;
+ Trường hợp tại điểm c khoản 1 Điều 256a: Sau khi hết thời hạn quản lý sau cai (01 năm đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện; 02 năm đối với người cai nghiện ma túy bắt buộc) và trong 02 năm tiếp theo, nếu phát hiện một người sử dụng trái phép chất ma túy thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (01 năm) đối với người đó, nếu trong thời hạn quản lý này, phát hiện người đó tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xử lý hình sự;
+ Trường hợp tại điểm d khoản 1 Điều 256a: Nếu một người được cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy mà tự ý chấm dứt việc cai nghiện hoặc điều trị, thì đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc chấm dứt việc điều trị, nếu họ bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý hình sự.
2.2.3. Về mặt khách quan
Theo khoản 10 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được sự cho phép của người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và xét nghiệm trong cơ thể có kết quả dương tính. Người này có thể bị phát hiện khi đang sử dụng hoặc thông qua kết quả xét nghiệm sau khi đã sử dụng. Trường hợp sử dụng chất ma túy theo chỉ định của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền (như bác sĩ kê đơn điều trị) hoặc bị đe dọa, cưỡng bức sử dụng thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo khoản 5 Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chất ma túy thuộc trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định; do test nhanh có thể có sai số nên kết luận giám định là căn cứ xác định có chất ma túy trong cơ thể.
Trường hợp phạm tội chưa đạt: Người đã chuẩn bị ma túy, công cụ, phương tiện, địa điểm để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp đưa ma túy vào cơ thể do bị phát hiện, bắt giữ và trong cơ thể chưa có chất ma túy thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” trong trường hợp phạm tội chưa đạt.
Mặt khách quan của tội phạm này là các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như hút, hít, chích, uống, ăn… Người sử dụng trái phép chất ma túy thường thực hiện hành vi một cách lén lút để che dấu hành vi, địa điểm sử dụng thường là những nơi kín đáo hoặc những nơi mà “con nghiện” thường tập trung để sử dụng chất ma túy như vũ trường, quán bar…
2.2.4. Về mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội này bao gồm yếu tố lỗi, động cơ, mục đích phạm tội. Về yếu tố lỗi, lỗi của tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là lỗi cố ý trực tiếp, người thực hiện hành vi biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi. Về động cơ, mục đích, người sử dụng trái phép chất ma túy có động cơ, mục đích trực tiếp là thỏa mãn nhu cầu “không lành mạnh” của bản thân, khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu ấy.
3. Vướng mắc pháp luật khi xử lý tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
Trong thực tiễn áp dụng tội phạm này ngoài những trường hợp cụ thể được quy định tại Điều 256a BLHS 2015, xảy ra trường hợp khi Cơ quan điều tra bắt quả tang đối tượng A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng thu giữ trên người A còn một lượng ma túy có trọng lượng đủ để khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. A khai số lượng ma túy trên người A là A đang sử dụng chứ không có mục đích tàng trữ làm gì khác. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu, kết quả A dương tính với chất ma túy. A có đủ các điều kiện theo quy định tại điểm a,b,c,d khoản 1 Điều 256a BLHS năm 2015. Trường hợp này có xử lý A về 2 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” hay chỉ xử lý A về 1 tội là tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” hay thu hút về tội nặng hơn là tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Trường hợp này có ba quan điểm được đưa ra:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của A là hai hành vi độc lập, mỗi hành vi đều đủ yếu tố cấu thành 1 tội phạm, không phải là 1 hành vi cấu thành nhiều tội. Do đó, đủ căn cứ để khởi tố A về 2 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Cách hiểu này bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, phản ánh trung thực mức độ nguy hiểm thực tế của hành vi, tính chất coi thường pháp luật và ý thức tái phạm của người phạm tội.
Quan điểm thứ hai cho rằng, về hành vi của A chỉ cấu thành 1 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vì nếu thời điểm Cơ quan điều tra bắt quả tang đối tượng A đang sử dụng trái phép chất ma túy và còn thừa 1 gói ma túy có trọng lượng đủ để khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thì theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, A chỉ bị khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS 2015.
Quan điểm thứ ba cho rằng, hành vi của A chỉ cấu thành một tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” bởi lẽ, A thuộc chủ thể có điều kiện pháp lý đặc thù theo quy định tại Điều 256a BLHS 2015. Mục đích của A là sử dụng mà túy chứ không tàng trữ làm gì khác. Nên theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội cần khởi tố hành vi của A về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a BLHS 2015.
Trong ba quan điểm nêu ra, quan điểm thứ hai là phù hợp hơn với quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng hiện nay. Có thể lập luận như sau:
Thứ nhất, về bản chất hành vi. Hành vi của A là mua, cất giữ ma túy trong người để sử dụng. Trong quá trình bị bắt quả tang, A đang sử dụng và còn 01 gói ma túy chưa sử dụng có khối lượng đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ ma túy đã được thực hiện một cách độc lập và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 BLHS[2].
Thứ hai, mối quan hệ giữa hành vi sử dụng và tàng trữ chất ma túy. Trong trường hợp người phạm tội tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi sử dụng thường được xem là hệ quả của hành vi tàng trữ, không phải là một tội độc lập cần xử lý riêng, nếu việc xử lý đồng thời hai tội sẽ dẫn đến bất lợi hơn cho người phạm tội.
Thứ ba, áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội. Theo nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội, tại Mục 2 Công văn số 233/2019/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Toà án nhân dân tối cao về việc trao đổi nghiệp vụ đã hướng dẫn như sau: “… Trường hợp người thực hiện 01 hành vi nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn”. Trong trường hợp này, việc truy cứu A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 BLHS là tội nặng hơn tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256a BLHS phù hợp hơnso với việc xử lý đồng thời hai tội.
Thứ tư, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy có thể là hai hành vi độc lập. Tuy nhiên, việc áp dụng phải xem xét mục đích và tính chất cụ thể của hành vi. Nếu ma túy được tàng trữ chỉ để sử dụng cho bản thân, thì thực tiễn xét xử thường chỉ xử lý về tội tàng trữ khi khối lượng đạt mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo quan điểm của tác giả, hiện nay pháp luật và các văn bản hướng dẫn áp dụng chưa có quy định cụ thể về việc xử lý trường hợp người vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vừa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Do đó, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai như phân tích nêu trên. Theo đó, mặc dù A vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vừa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng căn cứ nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự theo hướng có lợi cho người phạm tội, việc xử lý nên được thu hút về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thay vì xử lý đồng thời A về hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy” như quan điểm thứ nhất, bởi việc xử lý đồng thời hai tội danh trong trường hợp này sẽ làm bất lợi hơn cho bị cáo.
Mặt khác, nếu chỉ xử lý A về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quan điểm thứ ba thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất hành vi phạm tội, bởi A vẫn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, cách xử lý này có thể dẫn đến việc các đối tượng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khai báo theo hướng sử dụng trái phép chất ma túy nhằm được xử lý về tội danh nhẹ hơn, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn.
Từ những phân tích trên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp hơn, vừa bảo đảm phản ánh đúng bản chất hành vi phạm tội, vừa bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật hình sự.
Ngày 28/01/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng liên tịch ban hành Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại điểm c khoản 6 Điều 9 của Thông tư chính thức ghi nhận nguyên tắc: nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, ghi rõ từng tội danh. Thông tư này chính thức có hiệu lực, làm rõ hơn căn cứ, thẩm quyền và trình tự thực hiện, chấm dứt tình trạng mỗi nơi một phách kéo dài nhiều năm. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát giờ có căn cứ pháp lý rõ ràng để khởi tố nhiều tội danh khi hành vi phương tiện phục vụ hành vi mục đích. Nhưng Thông tư này có nhiều điểm mâu thuẫn với nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm đặt ra giới hạn rõ ràng là một yếu tố sự kiện không được sử dụng hai lần làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự như đã phân tích nêu trên.
Như vậy, tác giả đề xuất liên ngành các cơ quan Trung ương (gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao) cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc xử lý hành vi này để có quan điểm áp dụng pháp luật thống nhất xử lý các trường hợp nêu trên, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
2. Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2015.
3. Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
4. Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
5. Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
6. Công văn số 233/2019/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Toà án nhân dân tối cao về việc trao đổi nghiệp vụ.
7. Đinh Văn Quế (2001), Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự (phần các tội phạm), Nxb. TP Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
[1] Nguyễn Thị Diệu Ngọc, Trao đổi nghiệp vụ về áp dụng Điều 256a Bộ luật Hình sự 2025: Kinh nghiệm từ VKSND Khu vực 4 - Hải Phòng, https://vienkiemsathaiphong.gov.vn/kiem-sat-vien-viet/trao-doi-nghiep-vu-ve-ap-dung-dieu-256a-bo-luat-hinh-su-2025-kinh-nghiem-tu-vksnd-khu-vuc-4-hai-phong-22551.
[2] Đinh Văn Quế (2001), Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự (phần các tội phạm),
Nxb. TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
TAND khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử vụ án hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - Ảnh: Hồng Thấm.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng khi giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân
-
Xác định nơi công cộng trong tội gây rối trật tự công cộng - Một số vướng mắc và đề xuất, kiến nghị
-
Quốc hội xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng trong đợt 2 Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI
Bình luận