Vướng mắc khi thực hiện quy định về tạm ứng chi phí định giá tài sản theo Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện

Pháp lệnh Chi phí tố tụng số 05/2024/UBTVQH15 ngày 11/12/2024 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành có ý nghĩa to lớn trong việc hoàn thiện chế định chi phí tố tụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu so sánh với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng quy định về trình tự thành lập Hội đồng định giá và thu tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản cho thấy những quy định khác nhau dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn thi hành.

Đặt vấn đề

Chi phí tố tụng là các khoản tiền có tính chất “chi trả thực tế” nhằm bù đắp cho các hoạt động chuyên môn mang tính đặc thù phát sinh trong quá trình Tòa án thu thập, đánh giá chứng cứ. Khoản chi này bao gồm: Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí giám định; chi phí định giá tài sản và chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch.

Ngày 11/12/2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV đã thông qua Pháp lệnh Chi phí tố tụng số 05/2024/UBTVQH15 (thay thế cho các quy định trước đây, bao gồm Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 ngày 28/3/2012 và các quy định rải rác khác). Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 được kỳ vọng là hành lang pháp lý minh bạch, tháo gỡ vướng mắc về tài chính trong hoạt động tư pháp, qua đó bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân.

Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại những điểm mâu thuẫn, xung đột, tạo ra “lỗ hổng” về trình tự, thủ tục. Nổi cộm nhất là sự mâu thuẫn về quy trình nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.

1. Phân tích những quy định khác nhau trong trình tự thành lập Hội đồng định giá và thu tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản

Hoạt động định giá tài sản là một thủ tục bắt buộc và đóng vai trò trung tâm trong phần lớn các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình (chia tài sản chung, chia di sản thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất...). Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 đã có những quy định mới về chi phí định giá, song khi áp dụng vào thực tiễn, việc thực hiện theo trình tự, thủ tục của Pháp lệnh lại chưa thống nhất với Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.

1.1. Việc không thống nhất về trình tự theo Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 và căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 quy định thủ tục yêu cầu nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản như sau: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được thành lập, Hội đồng định giá phải thông báo cho Tòa án về số tiền, thời hạn và phương thức nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản”.

Theo logic cấu trúc của quy phạm này, trình tự bắt buộc sẽ là: (1) Tòa án ban hành Quyết định thành lập Hội đồng định giá; (2) Hội đồng định giá nhóm họp để lập dự toán, tính toán chi phí; (3) Hội đồng định giá ban hành văn bản thông báo cho Tòa án; (4) Tòa án thông báo yêu cầu đương sự nộp tiền tạm ứng.

Tuy nhiên, cách tiếp cận này đối nghịch hoàn toàn với điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, vốn quy định Tòa án ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp: “Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định...”.

Theo Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15, Tòa án bắt buộc phải thành lập Hội đồng định giá mới có căn cứ yêu cầu nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. Nếu làm đúng quy trình này, giả định sau khi có Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản từ Tòa án, nguyên đơn (người có nghĩa vụ nộp) không nộp tiền. Lúc này, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, Tòa án sẽ đình chỉ vụ án do lỗi nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng. Hệ lụy đặt ra là: Quyết định thành lập Hội đồng định giá đã được ban hành sẽ được xử lý, thu hồi hay hủy bỏ bằng hình thức pháp lý nào? Chức năng, nhiệm vụ của các thành viên Hội đồng định giá lúc này bị “treo”, hoạt động tố tụng bị đẩy vào tình trạng phát sinh lãng phí về nhân lực, công sức hành chính, chi phí tổ chức văn bản của hàng loạt cơ quan chuyên môn và Ủy ban nhân dân tham gia thành viên Hội đồng định giá mà không đem lại kết quả. 

1.2. Sự chưa thống nhất về cách thức lập biểu mẫu tố tụng dân sự hiện hành

Quy định tại khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 cũng không có sự tương thích với hệ thống biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/2017). Tòa án áp dụng Mẫu số 08-DS để ban hành Quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá, biểu mẫu này không tách rời việc Quyết định thành lập lập Hội đồng định giá và Quyết định định giá tài sản thành hai biểu mẫu riêng biệt. Tại mục 4 của biểu mẫu có nội dung “Việc định giá được bắt đầu tiến hành vào hồi … giờ… phút, ngày … tháng … năm … tại…”.

Nguyên tắc bắt buộc khi Thẩm phán ấn định mốc thời gian cụ thể trong tố tụng là để ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nghĩa vụ phối hợp. Thẩm phán chỉ có thể chắc chắn ấn định lịch, triệu tập chính xác ngày, giờ, địa điểm bắt đầu việc định giá nếu đã bảo đảm đủ nguồn kinh phí cho hoạt động của Hội đồng định giá. Đặt trong bối cảnh Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 (Tòa án thành lập Hội đồng -> đợi 05 ngày chờ Hội đồng định giá thông báo cho Tòa án về số tiền, thời hạn và phương thức nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản -> yêu cầu đương sự nộp tiền tạm ứng) thì Tòa án hoàn toàn rơi vào trạng thái thụ động. Thẩm phán không thể biết trước được thời điểm đương sự sẽ hoàn thành nộp tiền tạm ứng, do đó không có cơ sở nào để điền mốc thời gian ngày, giờ thực hiện nhiệm vụ theo Mẫu số 08-DS.

1.3. Khó khăn trong việc xác định chi phí tạm ứng chi phí định giá tài sản

Thành phần Hội đồng định giá trong giai đoạn sơ thẩm hiện nay thường là các cán bộ thuộc Phòng Kinh tế (đối với xã, đặc khu) hoặc Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (đối với phường và đặc khu Phú Quốc), những cán bộ này tham gia hoạt động định giá tài sản theo hình thức kiêm nhiệm. Trong thực tiễn, Hội đồng định giá thường không chủ động lập dự toán chi phí, xác định chi phí tạm ứng chi phí định giá tài sản và thông báo cho Tòa án, trong rất nhiều trường hợp, Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu Hội đồng định giá xác định chi phí tạm ứng định giá tài sản nhưng Hội đồng định giá vẫn chậm trễ hoặc không thực hiện. Khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 có quy định “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được thành lập, Hội đồng định giá phải thông báo cho Tòa án về số tiền, thời hạn và phương thức nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản” nhưng không có quy định về chế tài trong trường hợp Hội đồng định giá không thực hiện, vì vậy không đảm bảo cho việc thực hiện trong thực tiễn. Vấn đề này ảnh hưởng rất lớn đến thời gian, tiến độ giải quyết vụ án của Tòa án.

2. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích trên, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tháo gỡ điểm nghẽn cho các Tòa án địa phương khi áp dụng Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15, chúng tôi đề xuất như sau:

Một là, sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 về quy trình thu tiền tạm ứng chi phí định giá.

Tác giả đề xuất nội dung sửa đổi theo hướng: Giao quyền cho Tòa án (Thẩm phán) chủ động xác định mức tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản dựa trên biểu giá quy định của Nhà nước hoặc báo giá sơ bộ của cơ quan chuyên môn/thực tế thị trường địa phương.

Quy trình nên được điều chỉnh thành: Tòa án ra thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí định giá -> Đương sự nộp tiền -> Tòa án ban hành Quyết định thành lập Hội đồng định giá và định giá tài sản (theo đúng Mẫu 08-DS). Việc này vừa giúp rút ngắn thủ tục tố tụng, giảm tải việc trao đổi văn bản giữa Tòa án và Hội đồng định giá, vừa tránh được tình trạng ban hành Quyết định thành lập Hội đồng nhưng sau đó lại phải đình chỉ vụ án do đương sự không nộp tiền.

Hai là, trong trường hợp không sửa đổi theo đề xuất nêu trên thì đề nghị bổ sung chế tài để đảm bảo thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 trong trường hợp Hội đồng định giá không thông báo cho Tòa án về số tiền, thời hạn và phương thức nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.

Ba là, tiếp theo đề xuất hai, để có sự thống nhất giữa khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 với Mẫu số 08-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần phải sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 theo hướng “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, đại diện cán bộ tài chính được cử làm chủ tịch Hội đồng định giá phải thông báo cho Tòa án về số tiền, thời hạn và phương thức nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản

Kết luận

Pháp lệnh Chi phí tố tụng số 05/2024/UBTVQH15 là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các vấn đề về tài chính trong hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, để Pháp lệnh thực sự đi vào đời sống và phát huy hiệu quả trong thực tiễn áp dụng, việc tổng kết thực tiễn, phát hiện và điều chỉnh những quy định còn chồng chéo, chưa đồng bộ với BLTTDS là vô cùng cấp thiết. Việc hoàn thiện các quy định này không chỉ giúp giảm bớt áp lực, lúng túng cho các Thẩm phán mà còn đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng giải quyết các tranh chấp dân sự trong giai đoạn hiện nay.

VƯƠNG TẤN LẬP - LÊ THỊ THUẬN (Tòa án nhân dân khu vực 9 - Gia Lai)

Tài liệu tham khảo

1. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13.

2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2024), Pháp lệnh Chi phí tố tụng số 05/2024/UBTVQH15 ngày 11/12/2024.

3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2017), Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.