Vướng mắc về xác định tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Trong thời gian gần đây tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, đặc biệt là tội phạm buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (pháo nổ), gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị của địa phương.
Thực tiễn giải quyết các vụ án về tội buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (pháo nổ) trong thời gian qua cho thấy, nhận thức về định tội danh tàng trữ, hay vận chuyển hàng cấm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhận thức và áp dụng không thống nhất trong việc định tội danh đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, tác giả đưa ra các căn cứ pháp lý và vụ án cụ thể hiện nay còn nhận thức khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng để bạn đọc cùng trao đổi; từ đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật.
Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung là BLHS năm 2015) quy định tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”.
Như vậy, có thể hiểu tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được hiểu là hành vi cất giữ hoặc đưa từ nơi này đến nơi khác các loại hàng hóa mà nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng tại Việt Nam.
Về mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội có thể thực hiện các loại hành vi sau đây:
Tàng trữ hàng cấm: Là hành vi cất giữ hàng cấm ở bất kỳ nơi nào, có thể ở nhà, ở cơ quan, ở tàu thuyền,… với bất kỳ mục đích gì trừ mục đích nhằm để bán thì coi là phạm tội buôn bán hàng cấm;
Vận chuyển hàng cấm: Là hành vi đưa hàng cấm từ nơi này đến nơi khác trong nội địa Việt Nam; hành vi này được quy định là hành vi khách quan trong tội vận chuyển hàng cấm và tình tiết qua biên giới được coi là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2 Điều 191 BLHS năm 2015.
Hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm để bán thì coi là hành vi buôn bán hàng cấm.
Việc tàng trữ, vận chuyển loại hàng cấm mà có dấu hiệu cấu thành tội phạm độc lập khác thì không coi là tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Ví dụ: tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội phạm độc lập là tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 BLHS năm 2015, vận chuyển trái phép chất ma túy Điều 250 BLHS năm 2015,… Còn các hành vi nêu trên thì bị coi là tội phạm thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm e khoản 1 Điều 191 BLHS năm 2015;
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các vụ án này trong thời gian qua cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng còn có nhận thức không thống nhất trong việc định tội danh đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, tác giả xin đưa ra vụ án cụ thể như sau:
Nội dung vụ án: Do muốn có pháo để sử dụng trong dịp tết nên Nguyễn Văn B đã đi mua pháo nổ với khối lượng 55kg. Trên đường vận chuyển về nhà thì bị Công an bắt quả tang. Qúa trình điều tra Nguyễn Văn B khai nhận mục đích mua số pháo này về để sử dụng vào dịp tết. Tuy nhiên, qua vụ án này vẫn còn có những quan điểm nhận thức khác nhau, không thống nhất về việc định tội danh đối với Nguyễn Văn B đó là:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, Nguyễn Văn B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Với lý do, vận chuyển là hành vi dịch chuyển bất hợp pháp hàng cấm từ nơi này đến nơi khác trong lãnh thổ Việt Nam dưới bất kỳ hình thức nào có thể bằng các phương tiện giao thông, qua đường Bưu điện, giấu trong người, trong hành lý v.v.. để qua mắt cơ quan chức năng mà không nhằm mục đích sản xuất, buôn bán, tàng trữ... Như vậy, trong trường hợp này khi Nguyễn Văn B đang vận chuyển số pháo (55kg) trên đường đi thì bị phát hiện và bắt giữ nên Nguyễn Văn B đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Quan điểm thứ hai cho rằng, Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Với lý do, Nguyễn Văn B có hành vi cất giấu, cất giữ bất hợp pháp hàng hóa Nhà nước cấm sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, sử dụng... trên phương tiện của mình; Nguyễn Văn B vận chuyển 55 kg pháo nổ không nhằm mục đích sản xuất, buôn bán, vận chuyển... mà mục đích vận chuyển 55 kg pháo nổ của Nguyễn Văn B là mua số pháo này về nhà để sử dụng nên hành vi của Nguyễn Văn B đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”;
Quan điểm của tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai với những lý do sau: Tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” quy định tại Điều 191 BLHS năm 2015 là tội ghép trong cùng một điều luật, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong hai hành vi tàng trữ hoặc vận chuyển hàng cấm.
Như vậy, trong trường hợp này Nguyễn Văn B khi bị phát hiện, bắt quả tang thì Nguyễn Văn B đang thực hiện hành vi vận chuyển pháo; trong quá trình điều tra Nguyễn Văn B khai nhận mục đích mua pháo về nhà cất giấu để sử dụng, theo đó mục đích cuối cùng của Nguyễn Văn B là mua pháo mang về nhà cất giấu để sử dụng không có mục đích buôn bán, vận chuyển thuê.
Tuy nhiên, đối với hai tội danh này thì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết; nhưng theo tinh thần của Thông tư liên tịch số 17/2007TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2027 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 (gọi tắt là Thông tư 17); tuy Thông tư 17 đã hết hiệu lực thi hành nhưng vận dụng tinh thần của Thông tư 17 cho thấy,
Tại phần II của Thông tư 17 quy định về các tội phạm cụ thể quy định:
“3.1. “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này.
3.2. “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào (có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, tàu bay, tàu thủy…; trên các tuyến đường khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, đường bưu điện…; có thể để trong người như cho vào túi áo, túi quần, nuốt vào trong bụng, để trong hành lý như vali, túi xách v.v…) mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác. Người giữ hộ, hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy cho người khác, mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của người đó, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm”.
Như vậy, trở lại nội dung vụ án nêu trên; vận dụng tinh thần của Thông tư 17 thì Nguyễn Văn B đã thỏa mãn các điều kiện đó là, Nguyễn Văn B đi mua 55kg pháo nổ rồi vận chuyển mang về nhà nhằm mục đích cất dấu để sử dụng; không có mục đích nào khác như mua bán hoặc vận chuyển thuê cho người khác nên đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép hàng cấm”;
Còn quan điểm thứ nhất cho rằng, Nguyễn Văn B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” là không thỏa mãn các dấu hiệu đó là, hành vi chuyển dịch bất hợp pháp pháo nổ từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào. Bởi vì, Nguyễn Văn B không có mục đích buôn bán, cũng không có mục đích vận chuyển thuê cho người khác mà mục đích của Nguyễn Văn B là vận chuyển pháo nổ mang về nhà để cất dấu; nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, Nguyễn Văn B không thỏa mãn dấu hiệu tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu Điều 191 BLHS năm 2015 về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”, thấy rằng, Điều luật lại không có quy định về tội sử dụng hàng cấm; dẫn đến trong quá trình điều tra để chứng minh được hành vi vận chuyển thuê hay buôn bán là rất khó; còn chứng minh hành vi tàng trữ số pháo trên của Nguyễn Văn B thì chưa xảy ra; vì trên thực tế khi Nguyễn Văn B đang vận chuyển pháo thì bị bắt.
Như vậy, trong trường hợp này nếu xét xử Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ hàng cấm” là dựa vào yếu tố mục đích của tội phạm để định tội và xét xử về một hành vi sẽ xảy ra trong tương lai; nếu xét xử Nguyễn Văn B về tội “Vận chuyển hàng cấm” là dựa vào yếu tố hành vi khách quan của tội phạm và xét xử về một hành vi đã và đang xảy ra trên thực tế, (tức là hành vi đến đâu thì xử lý đến đó, Nguyễn Văn B đang vận chuyển hàng cấm); dẫn đến hiện nay trong thực tiễn áp dụng về các hành vi này của các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhận thức khác nhau, không thống nhất.
Theo đó, việc định tội đối với Nguyễn Văn B là rất khó. Bởi vì, Nguyễn Văn B đã thực hiện một loạt hành vi từ việc mua, vận chuyển, tàng trữ cho đến sử dụng hàng cấm (pháo nổ) mà pháp luật lại quy định rất chung chung, chưa có hướng dẫn thực hiện cụ thể dẫn đến cách hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Từ những vướng mắc nêu trên, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn về những hành vi này theo hướng: Nếu trong quá trình điều tra mà chứng minh được hành vi vận chuyển, tàng trữ hàng cấm nhằm mục đích mua bán thì xử lý về tội “Buôn bán hàng cấm”; nếu chứng minh được mục đích vận chuyển hàng cấm là vận chuyển thuê để hưởng tiền công thì xử lý về hành vi “Vận chuyển hàng cấm”; còn việc mua hàng cấm mà vận chuyển mang về nhà cất dấu mục đích để sử dụng thì xử lý về hành vi “Tàng trữ hàng cấm”; nhằm nhận thức thống nhất trong quá trình giải quyết các tội phạm về buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm hiện nay.
Lực lượng chức năng Vĩnh Long tăng cường bắt các vụ buôn bán thuốc lá nhập lậu - Nguồn: Báo Nhân dân.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Tòa án nhân dân tối cao công bố 10 án lệ
-
VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG
-
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng gặp mặt, chúc Tết các đồng chí nguyên lãnh đạo, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
-
Vụ án nữ sinh giao gà bị sát hại – 6 bị cáo bị tử hình
Bình luận