Xử lý các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh ngày càng đa dạng, đặt ra yêu cầu kết hợp giữa tạo thuận lợi cho giao lưu hợp pháp với bảo đảm an ninh, trật tự và phòng, chống tội phạm xuyên biên giới. Việc xử lý các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép còn đặt ra những vấn đề về định tội danh, chứng minh yếu tố vụ lợi, xác định vai trò đồng phạm, thu thập chứng cứ điện tử và phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền. Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật, nghiên cứu chuyên ngành và các vụ án được cơ quan chức năng công bố, bài viết nhận diện những khó khăn chủ yếu, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật, nâng cao chất lượng điều tra, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế, xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê chuyên biệt và bảo đảm quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án.

1. Đặt vấn đề

Xuất cảnh, nhập cảnh là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt động hợp pháp, hành vi tổ chức, môi giới, đưa dẫn người xuất cảnh, nhập cảnh trái phép có thể được thực hiện theo chuỗi, với sự tham gia của nhiều chủ thể, sử dụng mạng xã hội, phương tiện liên lạc điện tử và các hình thức thanh toán khác nhau. Việc phát hiện, xử lý những hành vi này vì vậy không chỉ liên quan đến quản lý xuất nhập cảnh mà còn đặt ra yêu cầu đấu tranh với các mạng lưới tội phạm có yếu tố xuyên biên giới.

Về phương diện pháp lý, các Điều 347, 348 và 349 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025  là những quy định quan trọng để xử lý các hành vi liên quan. Thực tiễn áp dụng đòi hỏi phân biệt chính xác hành vi tự mình vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh với hành vi tổ chức, môi giới cho người khác thực hiện hành vi trái phép; đồng thời làm rõ ranh giới giữa các tội danh có dấu hiệu pháp lý gần nhau. Công văn số 1557/VKSTC-V1 ngày 20/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã đề cập những vướng mắc trong việc phân biệt Điều 348 với Điều 349, xác định yếu tố vụ lợi và xử lý một số trường hợp phạm tội chưa đạt.

Từ những vấn đề trên, bài viết tập trung phân tích cơ sở pháp lý, những khó khăn nổi bật trong quá trình xử lý các vụ án và giải pháp nâng cao tính thống nhất, hiệu quả của việc áp dụng pháp luật.

2. Cơ sở pháp lý và yêu cầu trong xử lý các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép

2.1. Cơ sở pháp lý

Việc xử lý các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép được đặt trên cơ sở Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và các luật có liên quan: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019; Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung, trong đó có Luật số 23/2023/QH15.

Các Điều 347, 348 và 349 Bộ luật Hình sự điều chỉnh những hành vi khác nhau, do đó việc định tội danh phải căn cứ vào dấu hiệu cấu thành của từng tội phạm, bản chất hành vi, lỗi và những tình tiết có ý nghĩa pháp lý. Không thể mặc nhiên coi mọi hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép đều cấu thành tội phạm; trường hợp chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự phải được xem xét theo quy định về xử lý vi phạm hành chính hoặc biện pháp pháp lý phù hợp khác.

2.2. Yêu cầu

Trước hết, cần phân biệt hành vi tự mình xuất cảnh, nhập cảnh trái phép với hành vi tổ chức, môi giới cho người khác thực hiện. Đối với các vụ án có nhiều người tham gia, phải làm rõ hành vi khách quan, nhận thức, ý chí, mục đích và vai trò của từng chủ thể, không suy diễn trách nhiệm hình sự chỉ từ quan hệ quen biết, việc có mặt tại hiện trường hoặc việc thực hiện một công việc trung gian.

Đặc biệt, việc phân biệt Điều 348 với Điều 349 đòi hỏi đánh giá tổng thể mục đích, phương thức thực hiện, nội dung thỏa thuận và các tình tiết khác của vụ án. Theo hướng dẫn nghiệp vụ tại Công văn số 1557/VKSTC-V1, việc xác định tội danh không nên chỉ dựa vào dấu hiệu hình thức như người được tổ chức đã vượt biên hay chưa, mà cần làm rõ bản chất của hành vi và mục đích đưa người ra nước ngoài.

Bên cạnh đó, việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ phải bảo đảm tính hợp pháp, khách quan, toàn diện; các chứng cứ buộc tội phải được xem xét cùng chứng cứ gỡ tội. Đây là điều kiện quan trọng để xác định đúng tội danh, đúng người, đúng tính chất và mức độ trách nhiệm hình sự.

Nâng cao hiệu quả xử lý các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép không thể chỉ dựa vào tăng cường kiểm soát biên giới hoặc nâng cao mức độ xử lý hình sự. Yêu cầu có tính quyết định là bảo đảm sự thống nhất từ phát hiện, xác minh, điều tra, truy tố, xét xử đến tổng kết thực tiễn và hoàn thiện chính sách.

Thống nhất trong định tội danh là điều kiện bảo đảm bình đẳng trước pháp luật, nhưng không đồng nghĩa với việc áp dụng một cách máy móc. Mỗi vụ án cần được đánh giá trên cơ sở chứng cứ và các dấu hiệu pháp lý cụ thể. Tiếp đó, chất lượng chứng minh phải được đặt ở vị trí trung tâm, nhất là đối với việc xác định vai trò đồng phạm, lợi ích kinh tế và mối liên hệ giữa các chủ thể.

Mặt khác, phối hợp liên ngành và thống kê chuyên biệt là những điều kiện hỗ trợ quan trọng. Dữ liệu được chuẩn hóa sẽ giúp nhận diện phương thức phạm tội, đánh giá chất lượng giải quyết án và xác định ưu tiên chính sách.

Ngoài ra, kinh nghiệm quốc tế cần được tiếp thu có chọn lọc, phù hợp với pháp luật Việt Nam, các cam kết quốc tế có liên quan và yêu cầu bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia.

3. Thực trạng xử lý các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép

3.1. Những chuyển biến tích cực

Khung pháp luật hình sự hiện hành tạo cơ sở để xử lý nhiều dạng hành vi khác nhau, từ vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh đến tổ chức, môi giới cho người khác thực hiện hành vi trái phép. Việc xem xét trách nhiệm của người tổ chức, môi giới có ý nghĩa quan trọng bởi những chủ thể này có thể giữ vai trò kết nối, tuyển mộ, điều phối và thu lợi từ hoạt động phạm tội.

Các hướng dẫn nghiệp vụ và nghiên cứu chuyên ngành cũng đã nhận diện một số vấn đề khó khăn trong thực tiễn. Bài viết của Trần Văn Hậu (2024) phân tích những trở ngại trong việc xác định tội danh theo Điều 348 và Điều 349 Bộ luật Hình sự; bài viết đăng trên Kiểm sát Online ngày 5/11/2025 tiếp tục đề cập những bất cập về định tội danh, tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” và việc xác định yếu tố vụ lợi (Hậu, 2024; Liên, 2025).

Thực tiễn được cơ quan chức năng công bố cũng cho thấy hoạt động tổ chức, môi giới có thể liên quan đến nhiều chủ thể và nhiều địa bàn. Chẳng hạn, thông tin của Bộ Công an ngày 30/7/2024 về vụ án tại Hà Giang cho biết cơ quan điều tra khởi tố các đối tượng liên quan đến việc tổ chức cho công dân Campuchia xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Quá trình mở rộng điều tra tiếp tục phát hiện những người có liên quan khác. Vụ việc minh họa cho yêu cầu mở rộng xác minh, làm rõ mối liên hệ giữa các chủ thể và vai trò của từng người trong chuỗi hành vi.

3.2. Những khó khăn, vướng mắc chủ yếu

Thứ nhất, khó khăn trong chứng minh yếu tố vụ lợi, thu lợi bất chính và vai trò đồng phạm. Trong vụ án có nhiều người tham gia, người tổ chức có thể không trực tiếp nhận tiền; người tuyển mộ, đưa đón hoặc cung cấp phương tiện có thể chỉ nhận một khoản thù lao. Việc không trực tiếp nhận tiền không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội danh và lỗi của từng người.

Khi xác định khoản thu lợi bất chính, cần phân biệt số tiền thực tế đã nhận, khoản tiền đã thỏa thuận nhưng chưa nhận, chi phí thực hiện hành vi và lợi ích của từng người. Không thể mặc nhiên coi toàn bộ số tiền luân chuyển trong một đường dây là khoản thu lợi bất chính của mỗi bị can nếu chưa có căn cứ chứng minh.

Thứ hai, khó khăn trong thu thập và đánh giá chứng cứ. Chứng cứ trong các vụ án có thể bao gồm lời khai, dữ liệu liên lạc, tin nhắn trên mạng xã hội, dữ liệu thanh toán, hình ảnh camera, thông tin hành trình và giấy tờ xuất nhập cảnh. Một phần dữ liệu có thể bị xóa, thay đổi hoặc lưu trữ ở nước ngoài, gây khó khăn cho việc thu thập và kiểm chứng. Vì vậy, việc sử dụng chứng cứ điện tử phải bảo đảm đúng trình tự, xác định rõ nguồn dữ liệu, phương pháp thu thập, quá trình bảo quản và tính toàn vẹn. Dữ liệu cần được đối chiếu với lời khai, tài liệu và chứng cứ khác; không nên dựa vào một thông tin đơn lẻ để kết luận về toàn bộ hành vi hoặc vai trò của người liên quan.

Thứ ba, khó khăn trong xác định ranh giới giữa các giai đoạn thực hiện tội phạm và trách nhiệm của từng người. Một vụ án có thể được thực hiện qua nhiều địa bàn, từ tuyển mộ, đưa đón đến tổ chức vượt biên hoặc bố trí nơi lưu trú. Những người tham gia có thể không biết đầy đủ kế hoạch của các chủ thể khác. Vì vậy, cần xác định rõ sự thống nhất ý chí, mức độ nhận thức và hành vi thực tế của từng người để phân biệt đồng phạm với hành vi độc lập, đồng thời xem xét đúng quy định về phạm tội chưa đạt khi có căn cứ.

Thứ tư, hạn chế trong phối hợp liên ngành, hợp tác quốc tế và thống kê. Đối với vụ án có yếu tố nước ngoài, việc xác minh nhân thân, giấy tờ đi lại, hành trình, giao dịch tài chính và hoạt động của đối tượng ở nước ngoài có thể cần đến cơ chế trao đổi thông tin hoặc tương trợ tư pháp. Khác biệt về pháp luật, ngôn ngữ và quy trình cung cấp tài liệu có thể ảnh hưởng đến thời gian, chất lượng xác minh.

Bên cạnh đó, nếu dữ liệu giữa các cơ quan chưa được chuẩn hóa, việc tổng hợp số vụ phát hiện, số vụ khởi tố, số người bị xử lý và kết quả xét xử sẽ khó bảo đảm khả năng so sánh. Đây là hạn chế cần được khắc phục để phục vụ đánh giá chính sách và xác định những vấn đề nổi lên trong thực tiễn.

Những khó khăn nêu trên xuất phát từ cả phương diện pháp luật và tổ chức thực thi. Một số dấu hiệu pháp lý có thể phát sinh cách hiểu khác nhau, trong khi hướng dẫn nghiệp vụ hiện hành chưa giải quyết hết mọi tình huống thực tế. Hoạt động phạm tội có thể được tổ chức theo mạng lưới, sử dụng trung gian và phương tiện liên lạc hiện đại, đòi hỏi năng lực phân tích dữ liệu điện tử và truy vết dòng tiền.

Ngoài ra, cơ chế chia sẻ thông tin giữa cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, lực lượng thực thi nhiệm vụ tại biên giới và cơ quan tiến hành tố tụng cần được hoàn thiện. Việc thiếu hệ thống thống kê chuyên biệt, thống nhất về phương pháp tính cũng làm hạn chế khả năng nhận diện xu hướng, đánh giá chất lượng giải quyết án và xác định trọng tâm phòng ngừa.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép

Một là, bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất

Các cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn liên ngành đối với những vấn đề còn vướng mắc. Hướng dẫn cần xác định rõ các tiêu chí pháp lý và phương pháp đánh giá chứng cứ, tránh đưa ra một công thức máy móc áp dụng cho mọi vụ án. Đồng thời, cần xây dựng các tiêu chí nghiệp vụ dùng chung để kiểm tra tính đúng đắn của việc định tội danh, bao gồm hành vi khách quan, mục đích, lỗi, vai trò từng chủ thể, giai đoạn thực hiện tội phạm và các chứng cứ buộc tội, gỡ tội…

Hai là, nâng cao chất lượng điều tra và chứng minh tội phạm

Hoạt động điều tra cần hướng tới làm rõ toàn bộ chuỗi hành vi, quan hệ giữa các chủ thể và lợi ích kinh tế có liên quan, thay vì chỉ tập trung vào người trực tiếp đưa dẫn hoặc vượt biên. Tuy nhiên, việc mở rộng điều tra phải dựa trên căn cứ cụ thể, bảo đảm cá thể hóa trách nhiệm hình sự.

Cần xây dựng kế hoạch điều tra gắn với từng vấn đề phải chứng minh. Khi xác định yếu tố vụ lợi, phải làm rõ thỏa thuận, giao dịch và lợi ích thực tế; khi xác định đồng phạm, phải chứng minh nhận thức, ý chí và mức độ tham gia của từng người; khi xem xét phạm tội chưa đạt, phải đánh giá hành vi đã thực hiện và nguyên nhân khiến tội phạm chưa hoàn thành. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực thu thập, bảo quản và phân tích chứng cứ điện tử; tăng cường xác minh giao dịch tài chính khi có căn cứ liên quan đến hành vi phạm tội. Mọi hoạt động phải tuân thủ quy định tố tụng và bảo đảm khả năng kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách khách quan.

Ba là, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế

Cần hoàn thiện quy trình phối hợp giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng thực thi nhiệm vụ tại biên giới. Quy trình cần xác định rõ đầu mối, trách nhiệm cung cấp thông tin, thời hạn phản hồi và phương thức kiểm tra tính chính xác của dữ liệu. Đối với vụ án có nhiều địa bàn hoặc yếu tố nước ngoài, cần tăng cường trao đổi thông tin từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm. Các cơ chế hợp tác quốc tế, tương trợ tư pháp hình sự cần được sử dụng phù hợp để xác minh nhân thân, giấy tờ đi lại, hành trình, giao dịch tài chính và chứng cứ điện tử. Nghị định thư chống đưa người di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không, bổ sung Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, là nguồn tham khảo quan trọng về hợp tác quốc tế và bảo vệ quyền của người bị đưa đi. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm hình sự trong từng vụ án vẫn phải căn cứ pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế có liên quan.

Bốn là, xây dựng hệ thống thống kê chuyên biệt

Cần hoàn thiện hệ thống thống kê đối với các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, bảo đảm phân biệt rõ số vụ việc phát hiện, số nguồn tin về tội phạm, số vụ án khởi tố, số bị can, số bị cáo và số người bị xử lý hành chính. Các chỉ tiêu nên được phân loại theo tội danh, địa bàn, phương thức thực hiện, vai trò của người tham gia và kết quả giải quyết ở từng giai đoạn tố tụng. Đồng thời, cần xây dựng chỉ số đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật, tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung, kết quả xét xử và mức độ bảo đảm quyền tố tụng. Số liệu thống kê cần được kết hợp với nghiên cứu hồ sơ, vụ án điển hình. Số vụ án hoặc số người bị xử lý tăng lên chưa đủ để kết luận hiệu quả phòng, chống tội phạm được nâng cao, bởi kết quả đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.

Năm là, nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm giải trình

Cần tổ chức bồi dưỡng chuyên sâu về định tội danh, chứng minh yếu tố vụ lợi, xác định thu lợi bất chính, xử lý đồng phạm và đánh giá chứng cứ điện tử. Nội dung tập huấn nên tập trung vào tình huống thực tiễn và những vấn đề có cách hiểu khác nhau, đồng thời phát huy cơ chế trao đổi nghiệp vụ giữa các cơ quan trong phạm vi thẩm quyền.

Kết luận điều tra, cáo trạng và bản án cần thể hiện rõ căn cứ pháp lý, lập luận về các dấu hiệu cấu thành tội phạm, vai trò của từng người và việc đánh giá những chứng cứ có ý nghĩa quyết định. Nâng cao chất lượng lập luận không chỉ giúp hạn chế sai sót mà còn góp phần bảo đảm tính minh bạch và củng cố niềm tin vào hoạt động tư pháp.

Sáu là, bảo đảm quyền con người và phân biệt đúng bản chất hành vi

Trong quá trình xử lý, cần phân biệt người tổ chức, môi giới nhằm thu lợi với người trực tiếp di chuyển trái phép, người bị lừa gạt, ép buộc hoặc có hoàn cảnh dễ bị tổn thương. Không thể mặc nhiên đồng nhất vai trò và mức độ lỗi của tất cả những người có mặt trong cùng một vụ việc.

Đối với người bị buộc tội, phải bảo đảm quyền bào chữa và các quyền tố tụng khác theo pháp luật. Đối với người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt, cần bảo đảm việc phiên dịch và giải thích quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Đồng thời, phải phân biệt hành vi đưa người di cư trái phép với tội mua bán người. Nếu có dấu hiệu bóc lột, cưỡng bức, lừa gạt hoặc những yếu tố cấu thành tội phạm khác, cơ quan có thẩm quyền cần xác minh và xử lý theo quy định tương ứng. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm xử lý nghiêm hành vi phạm tội nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người liên quan.

5. Kết luận

Xử lý các vụ án liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh trái phép là nhiệm vụ liên ngành, đòi hỏi kết hợp giữa quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh, đấu tranh phòng, chống tội phạm, áp dụng pháp luật hình sự và bảo đảm quyền con người. Những vấn đề nổi bật hiện nay là yêu cầu thống nhất trong định tội danh, nâng cao chất lượng chứng minh, xác định đúng vai trò đồng phạm, xử lý chứng cứ điện tử và tăng cường phối hợp trong các vụ án có yếu tố xuyên biên giới.

Để nâng cao hiệu quả, cần đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật, nâng cao chất lượng điều tra, tăng cường hợp tác quốc tế đến xây dựng hệ thống thống kê chuyên biệt, bồi dưỡng năng lực chuyên môn và bảo đảm quyền tố tụng. Hiệu quả xử lý cần được đánh giá không chỉ qua số vụ án hoặc số người bị xử lý mà còn qua tính đúng đắn của quyết định tố tụng, chất lượng chứng minh, khả năng xử lý các mắt xích tổ chức phạm tội và kết quả phòng ngừa vi phạm.

NGUYỄN CHÍ ĐÔNG (Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I, Bộ Công an)

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Công an. (2024a, ngày 24 tháng 4). Tìm người bị hại trong vụ án “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép” tại Hòa Bình. https://mps.gov.vn/bai-viet/tim-nguoi-bi-hai-trong-vu-an-to-chuc-moi-gioi-cho-nguoi-khac-xuat-canh-trai-phep-tai-hoa-binh-d22-t38736
  2. Bộ Công an. (2024b, ngày 30 tháng 7). Hà Giang: Khởi tố, bắt tạm giam các đối tượng về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. https://www.mps.gov.vn/bai-viet/ha-giang-khoi-to-bat-tam-giam-cac-doi-tuong-ve-toi-to-chuc-cho-nguoi-khac-xuat-canh-trai-phep-d22-t40456
  3. Cục Thống kê. (2026, ngày 5 tháng 1). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/
  4. Hậu, T. V. (2024). Obstacles in determining crime of organizing, brokering illegal entry, exit or stay in Vietnam and crime of organizing, brokering illegal emigration. Tạp chí Khoa học Kiểm sát, 4(76). https://vjol.info.vn/tks/en/article/view/100586/
  5. Liên, N. T. T. (2025, ngày 5 tháng 11). Vướng mắc trong xử lý tội phạm liên quan đến hoạt động xuất nhập cảnh. Kiểm sát Online. https://kiemsat.vn/vuong-mac-trong-xu-ly-toi-pham-lien-quan-den-hoat-dong-xuat-nhap-canh-73354.html
  6. Quốc hội. (2014). Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Luật số 47/2014/QH13).
  7. Quốc hội. (2015). Bộ luật Hình sự (Luật số 100/2015/QH13).
  8. Quốc hội. (2015). Bộ luật Tố tụng hình sự (Luật số 101/2015/QH13).
  9. Quốc hội. (2017). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13(Luật số 12/2017/QH14).
  10. Quốc hội. (2019). Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam (Luật số 49/2019/QH14).
  11. Quốc hội. (2023). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam(Luật số 23/2023/QH15).
  12. Quốc hội. (2025). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (Luật số 86/2025/QH15).
  13. United Nations. (2000). Protocol against the smuggling of migrants by land, sea and air, supplementing the United Nations Convention against Transnational Organized Crime. https://www.unodc.org/documents/treaties/UNTOC/Publications/Convention/English/ENG_Protocol_against_the_Smuggling_of_Migrants_by_Land_Sea_and_Air_UNTOC.pdf
  14. United Nations Office on Drugs and Crime. (2024). Migrant smuggling in Southeast Asia. https://www.unodc.org/documents/data-and-analysis/glosom/Observatory/2024/SOMObservatorySEA_FullStudy_March2024.pdf
  15. Viện kiểm sát nhân dân tối cao. (2021, ngày 20 tháng 4). Công văn số 1557/VKSTC-V1 về việc hướng dẫn nghiệp vụ áp dụng các Điều 347, 348 và 349 Bộ luật Hình sự năm 2015. 

Lực lượng biên phòng tỉnh ngăn chặn các đối tượng có hành vi xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới. Nguồn ảnh: Internet.