Áp dụng thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm đối với phần tổng hợp hình phạt trong bản án đã có hiệu lực pháp luật

Bài viết phân tích, đánh giá những quy định về căn cứ, đối tượng, bản chất và thẩm quyền trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với phần tổng hợp hình phạt tại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan điểm cá nhân, kiến nghị bước đầu để hoàn thiện quy định pháp luật tương thích với thực tiễn áp dụng pháp luật, góp phần thực thi hiệu quả, thống nhất trong thời gian tới.

Đặt vấn đề

Một trong những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự tại Việt Nam là “chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo”. Theo đó, nguyên tắc xét xử hai cấp là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, trong đó, xét xử phúc thẩm là cấp xét xử cuối cùng. Bản án1 sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định thì có hiệu lực pháp luật. Với những bản án có kháng cáo, kháng nghị thì phải được xem xét theo thủ tục phúc thẩm và bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án. Tuy nhiên, nhằm khắc phục những thiếu xót, sai lầm khi giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm mà bản án đã có hiệu lực pháp luật, pháp luật đã đề ra cơ chế xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Thủ tục này có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý bởi đây là thủ tục duy nhất tạo cơ sở cho việc xem xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật.Thủ tục này cũng là một trong những cơ sở pháp lý để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng được đúng quy định pháp luật, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công lý và sự nghiêm minh của pháp luật.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, đặc biệt trong bối cảnh thực thi thẩm quyền này có sự thay đổi từ ngày 01/7/2025 đến nay, cho thấy một số bất cập giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng dẫn đến có những quan điểm chưa thống nhất.

1. Quy định Bộ luật Tố tụng hình sự về căn cứ phát sinh, hậu quả của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm2

Thứ nhất, về tính chất, căn cứ phát sinh thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Giám đốc thẩm là thủ tục xét lại bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Tái thẩm là thủ tục xét lại bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án mà Tòa án không thể biết được khi ra bản án đó.

Thứ hai, về căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm3. Bản án có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ sau: (i) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (ii) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; (iii) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Để thực hiện thủ tục tái thẩm, bản án có hiệu lực pháp luật phải thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật; (ii) Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án; (iii) Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật; iv. Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, chỉ khi nào có một trong các căn cứ trên đây, thì người có thẩm quyền kháng nghị4 theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ thực hiện kháng nghị. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được xác định là dành cho các bản án đã có hiệu lực. Và các căn cứ để kháng nghị cho thấy nội hàm của điều luật xác định đối với các sai lầm xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng hình sự. Bởi theo phạm vi điều chỉnh của BLTTHS thì chỉ áp dụng trong thủ tục từ tiếp nhận nguồn tin báo tội phạm cho đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, thì các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự đã không còn mà sẽ thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành án dân sự.

2. Quy định của Bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt

Tổng hợp hình phạt là hoạt động riêng biệt của Tòa án5, thực hiện với trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội trong một bản án6 hoặc người chưa chấp hành xong một bản án mà lại bị xét xử một tội phạm khác xảy ra trước hoặc sau khi có bản án đó7. Việc tổng hợp được thực hiện đối với hình phạt chính cùng loại hoặc khác loại, hình phạt bổ sung theo nguyên tắc do pháp luật hình sự quy định. Việc tổng hợp hình phạt có thể thực hiện thông qua tổng hợp trong bản án của vụ án đang xét xử hoặc bằng một quyết định tổng hợp hình phạt sau khi các bản án đều đã có hiệu lực pháp luật. Khác với việc tổng hợp hình phạt khi phạm nhiều tội khi xét xử cùng một lần, tổng hợp hình phạt khi phạm nhiều tội được thực hiện khi người bị kết án đã thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau, các hành vi đó đã được xét xử ở những thời điểm khác nhau và hình phạt đã được tuyên ở các bản án khác nhau.

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự gồm những trường hợp sau: (i) Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung; (ii) Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Việc tổng hợp hình phạt có thể được Hội đồng xét xử thực hiện tại bản án hoặc được Chánh án Tòa án có thẩm quyền thực hiện bằng quyết định tổng hợp hình phạt.

Vấn đề xảy ra trong thực tiễn là khi bản án tuyên xử là có căn cứ, đúng pháp luật nhưng bản án được tổng hợp bị hủy để xét xử lại thì xác định việc bản án bị hủy này là căn cứ để thực hiện thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm.

3. Một số bất cập trong thực tiễn thi hành

Thực tiễn áp dụng hiện nay còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Tác giả xin nêu ra một tình huống cụ thể, đồng thời phân tích, luận bàn về tình huống cụ thể đó để chỉ ra bất cập hiện nay.

Tình huống thực tiễn: Bản án số: 03/2023/HSST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – B), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A: 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp với hình phạt 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 02/2022/HSPT ngày 20/12/2022 của Tòa án quân sự Quân khu 7, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2021. Ngoài ra, Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.  Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật. Ngày 20/6/2023, Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Q (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – B) ban hành Quyết định thi hành án hình phạt tù số 22/2023/QĐ-CA đối với Nguyễn Văn A.

Ngày 18/4/2024, Hội đồng giám đốc thẩm của Tòa án quân sự Trung ương ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 10/HS-GĐT tuyên huỷ Bản án số 02/2022/HSPT ngày 20/12/2022 của Tòa án quân sự Quân khu 7 để xét xử phúc thẩm lại. Ngày 08/8/2024, Tòa án quân sự Quân khu 7 xét xử phúc thẩm lại vụ án, tuyên phạt Nguyễn Văn A 12 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 04/2024/HSPT.

Sau đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B đã ban hành Quyết định kháng nghị tái thẩm, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử theo thủ tục tái thẩm theo hướng huỷ Bản án số: 03/2023/HSST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B để xét xử lại theo đúng quy định pháp luật.

Quan điểm của quyết định tái thẩm cho rằng: Bản án số: 03/2023/HSST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B xét xử, tuyên phạt hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, việc áp dụng mức hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đã xem xét toàn diện đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Nhưng việc Bản án số 02/2022/HSPT ngày 20/12/2022 của Tòa án quân sự Quân khu 7 bị Tòa án quân sự Trung ương tuyên huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm và được Tòa án quân sự Quân khu 7 xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm bằng Bản án số 04/2024/HSPT ngày 08/8/2024, là tình tiết mới đã làm thay đổi phần tổng hợp hình phạt tại Bản án số: 03/2023/HSST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B mà Tòa án cấp sơ thẩm không thể biết được khi thực hiện tổng hợp hình phạt tại Bản án này.

Tuy nhiên, cũng có quan điểm thứ hai cho rằng, việc Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật. Nếu cho rằng có tình tiết mới là việc bản án đang bị tổng hợp đã bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm để thực hiện thủ tục tái thẩm thì cần cân nhắc đến hậu quả của việc tái thẩm. Theo quy định tại Điều 402 BLTTHS thì thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm gồm: (i) Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. (ii) Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại. (iii) Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án. (iv) Đình chỉ việc xét xử tái thẩm. Trong trường hợp cụ thể này, Viện trưởng Viện kiểm sát đã kháng nghị tái thẩm theo hướng hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Tuy nhiên, chính quyết định kháng nghị đã xác định bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tình tiết mới làm thay đổi nội dung phần “Quyết định” của bản án sơ thẩm là do việc tổng hợp hình phạt bản án bị hủy sau khi bản án sơ thẩm này có hiệu lực pháp luật. Do đó, việc hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm là không cần thiết, không đúng tính chất, căn cứ của tái thẩm.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, bởi lẽ: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát căn cứ vào việc Bản án số 02/2022/HSPT ngày 20/12/2022 của Tòa án quân sự Quân khu 7 bị Tòa án quân sự Trung ương tuyên huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm và được Tòa án quân sự Quân khu 7 xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm bằng Bản án số 04/2024/HSPT ngày 08/8/2024, là tình tiết mới đã làm thay đổi phần tổng hợp hình phạt tại Bản án số: 03/2023/HSST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B đối với bị cáo Nguyễn Văn A. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là phải có tình tiết mới được phát hiện sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và tình tiết này làm thay đổi nội dung cơ bản của bản án này. Theo quy định tại khoản 2 Điều 398 BLTTHS thì “Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án” và quy định tại khoản 1 Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự thì “Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án”. Tình tiết khách quan của vụ án là những gì có thật, diễn ra không phụ thuộc vào ý muốn của con người, tồn tại ngoài ý thức chủ quan của con người. Rõ ràng trong trường hợp này, tại thời điểm xét xử và tổng hợp hình phạt, Bản án số 02/2022/HSPT ngày 20/12/2022 của Tòa án quân sự Quân khu 7 đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, việc Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B xét xử tội danh, áp dụng hình phạt là đúng, áp dụng Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt cũng đúng pháp luật. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, Bản án số 02/2022/HSPT ngày 20/12/2022 của Tòa án quân sự Quân khu 7 bị hủy thì cần xác định là việc kết luận không phù hợp với tình tiết khách quan. Từ đó thực hiện thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm, áp dụng khoản 5 Điều 388 BLTTHS để sửa bản án hình sự sơ thẩm, tuyên hủy phần tổng hợp hình phạt. Việc xử lý theo hướng này trước hết sẽ đảm bảo giữ tính ổn định của bản án sơ thẩm số Bản án số: 03/2023/HSST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B. Theo quy định tại Điều 343, khoản 5 Điều 354, Điều 364 BLTTHS thì khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong thời hạn 07 ngày, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ban hành quyết định thi hành án. Sau đó, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền thực thi quyết định này theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, đưa người bị kết án đi chấp hành án. Thêm vào đó, đã có đủ căn cứ pháp lý để xác định Bản án số: 03/2023/HSST ngày 15/5/2023 xét xử là đúng pháp luật thì việc hủy bản án này để xét xử lại, chỉ làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết. Hơn nữa, khi hủy Bản án số: 03/2023/HSST ngày 15/5/2023 nêu trên để xét xử sơ thẩm lại, sẽ kéo theo việc phải thực hiện thay đổi biện pháp ngăn chặn. Vì người bị kết án đã được cơ quan thi hành án hình sự đưa đi chấp hành án tại trại giam. Khi Hội đồng tái thẩm tuyên hủy bản án để xét xử lại, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án hình sự thực hiện đưa người chấp hành án tại trại giam (là đối tượng điều chỉnh của Luật Thi hành án hình sự) về để áp dụng biện pháp ngăn chặn tại các cơ sở giam giữ (là đối tượng điều chỉnh của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam).

Một vấn đề nữa cần đặt ra, hậu quả của thủ tục tái thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là có thể là hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra hoặc xét xử lại; hoặc là hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án. Vấn đề đặt ra là, khi hủy theo thủ tục tái thẩm trong trường hợp này thì sẽ hủy toàn bộ bản án để xét xử sơ thẩm lại hay chỉ hủy phần tổng hợp hình phạt để xét xử sơ thẩm và thực hiện tổng hợp hình phạt. Nội hàm của Điều 402 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định về thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm mà chưa có quy định rõ ràng như nội hàm của Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, ở thủ tục giám đốc thẩm, khi quyết định hủy bản án có hiệu lực pháp luật để điều tra hoặc xét xử lại, Hội đồng giám đốc thẩm có thể hủy toàn bộ hoặc một phần bản án đã có hiệu lực pháp luật. Trường hợp này, Hội đồng tái thẩm có thể vận dụng Điều 403 Bộ luật Tố tụng hình sự để áp dụng thêm Điều 391, thực hiện hủy một phần bản án đối với phần tổng hợp hình phạt để xét xử sơ thẩm lại và thực hiện tổng hợp hình phạt của nhiều bản án. Việc hủy một phần bản án này vừa đảm bảo tính ổn định, chính xác, có căn cứ của bản án sơ thẩm bởi tại thời điểm xét xử, việc áp dụng pháp luật và tuyên hình phạt là đúng; vừa giải quyết được hậu quả của việc xuất hiện tình tiết mới sau khi bản án có hiệu lực pháp luật làm thay đổi tổng mức hình phạt mà người bị kết án phải chấp hành.

Việc tổng hợp hình phạt thực hiện khi một người phạm tội bị xét xử về nhiều tội hoặc bị kết án ở nhiều bản án mà các bản án đều đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được tổng hợp. Thủ tục để thực hiện tổng hợp hình phạt của các bản án, có thể thực hiện trong khi xét xử bởi Hội đồng xét xử, cũng có thể do Chánh án Tòa án có thẩm quyền8 thực hiện mà không cần mở phiên tòa. Bản chất của việc tổng hợp hình phạt là việc Tòa án cộng các hình phạt mà người phạm tội bị kết án thành một hình phạt chung buộc người phạm tội phải chấp hành9. Như vậy, thực hiện thủ tục tái thẩm, để thực hiện xét xử lại toàn bộ vụ án để thực hiện lại việc tổng hợp hình phạt, theo tác giả là không cần thiết và chưa đúng với tính chất của tái thẩm.

4. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLTTHS về chế định giám đốc thẩm, tái thẩm đối với việc tổng hợp hình phạt

Thứ nhất, để giải quyết vướng mắc trong thực tiễn, tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật, đề nghị các cơ quan liên ngành tư pháp sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể đối với từng căn cứ để thực hiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong đó, có căn cứ về việc xử lý theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm khi bản án được tổng hợp hình phạt trong bản án có hiệu lực pháp luật bị hủy, sửa.

Thứ hai, trong thời gian tới, khi thực hiện sửa đổi, bổ sung BLTTHS thì cần sửa đổi căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm. Cụ thể là sửa đổi, bổ sung Điều 371 về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng bổ sung thêm 01 khoản là khoản 4 với nội dung cụ thể như sau: “4. Khi bản án có hiệu lực pháp luật thực hiện tổng hợp hình phạt với bản án có hiệu lực pháp luật khác đúng quy định pháp luật nhưng bản án được tổng hợp hình phạt này bị hủy, sửa để điều tra, truy tố hoặc xét xử lại”.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung trên đây là nhằm bổ sung các hướng dẫn chi tiết của BLTTHS về việc xử lý hậu quả của việc bản án có hiệu lực pháp luật đã xét xử và thực hiện tổng hợp hình phạt với bản án có hiệu lực pháp luật khác có căn cứ, đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi nhưng bản án được tổng hợp hình phạt bị hủy, sửa để điều tra, truy tố, xét xử lại. Dù thủ tục, tính chất, căn cứ để thực hiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là khác nhau nhưng đều có chung mục đích là đảm bảo tính đúng đắn của công tác xét xử, thi hành án bản án đã có hiệu lực pháp luật.

 

PHẠM NGỌC TUẤN (Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai)

1 Trong bài viết, tác giả sử dụng thuật ngữ “bản án” thay cho cụm từ “bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.

2 Điều 370, Điều 397 BLTTHS

3 Điều 371, Điều 398 BLTTHS.

4 Điều 373, Điều 400 BLTTHS.

6 Điều 55, Điều 103 Bộ luật Hình sự

7 Điều 56, Điều 104 Bộ luật Hình sự.

8 Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự; tiểu mục 3, mục III Công văn số 02/TANDTC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao.

9 Luật sư Đinh Văn Quế, Nguyên Chánh Tòa Hình sự - Tòa án nhân dân tối cao, Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015, NXB. Thông tin và truyền thông, 2020.

Hội đồng xét xử TAND khu vực 2 - Cần Thơ - Nguồn: Báo Công lý.