Bàn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm
Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là chế định quan trọng trong pháp luật dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn còn phát sinh nhiều vướng mắc trong việc xác định lỗi, tỷ lệ lỗi của người bị thiệt hại, chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, chi phí chăm sóc và nghĩa vụ cấp dưỡng. Bài viết phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
1. Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất khi sức khỏe bị xâm phạm
Quyền được bảo vệ về sức khỏe và tính mạng là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người. Hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe không chỉ gây tổn thất cho nạn nhân mà còn ảnh hưởng tiêu cực về tinh thần và vật chất đến gia đình họ, đồng thời gây hệ lụy xấu cho xã hội. Do đó, bên cạnh chế tài của pháp luật hình sự thì người có hành vi xâm phạm còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS).
Theo quy định tại Điều 584 BLDS năm 2015 thì: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 của BLDS có thể được chia ra trong hai giai đoạn là: thiệt hại về vật chất trong giai đoạn điều trị và thiệt hại về vật chất sau giai đoạn điều trị, phục hồi. Tại Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP[1] quy định như sau:
“1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:
a) Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh cho người bị thiệt hại; thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở;
b) Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án;
c) Chi phí phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút là các chi phí cho việc phục hồi, hỗ trợ, thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.
2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác định như sau:
a) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công thì được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;
b) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra. Trường hợp không xác định được 03 tháng lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại. Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày.
3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 được xác định như sau:
a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi người bị thiệt hại điều trị (nếu có);
b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP;
c) Trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và phải có người thường xuyên chăm sóc thì chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại”.
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng theo khoản 1 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tuy nhiên, BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP[2] đều không hướng dẫn giải thích thế nào là thiệt hại thực tế và cơ sở để xác định thiệt hại thực tế dựa trên nguồn nào. Điều này dẫn đến việc đánh giá chứng cứ, giải quyết vụ án không được thống nhất. Do đó, tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP đã giải thích cụ thể: “Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục được; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác bị xâm phạm. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất tinh thần do bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích nhân thân khác mà chủ thể bị xâm phạm hoặc người thân thích của họ phải chịu và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất đó”. Trong đó có quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự, so với Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP thì Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP đã đưa nội dung này vào nguyên tắc BTTH quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3 là người yêu cầu bồi thường phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh và bổ sung thêm nội dung: “Trường hợp người yêu cầu bồi thường thiệt hại không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”.
Về việc xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP thì việc xác định thiệt hại như sau: “Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có)”.
Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP đã quy định và làm rõ hơn từng nội dung so với quy định tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP và bổ sung thêm quy định về cách xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 BLDS năm 2015 thành những chi phí cụ thể như sau: Bổ sung thêm chi phí cho việc thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại trở về nơi ở, ngoài chi phí thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh. Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được quy định cụ thể hơn và được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án. Đây là một quy định mới, theo đó người bị thiệt hại về sức khỏe khám, chữa bệnh tại cơ sở nào, thuộc vùng nào sẽ được tính là chi phí bồi dưỡng sức khỏe tương ứng 01 ngày lương tối thiểu vùng của vùng đó nhân với ngày khám chữa bệnh theo bệnh án. Chi phí phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút là các chi phí cho việc phục hồi, hỗ trợ, thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Quy định này đã khái quát hơn so với quy định cũ.
Như vậy, về cơ bản, việc xác định thiệt hại về sức khỏe và tính mạng của BLDS năm 2015 tương tự như việc xác định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe quy định tại Điều 609 và Điều 610 của BLDS năm 2005. Nhưng trong BLDS năm 2015 đã có quy định mới mang tính tiến bộ hơn và khắc phục được tồn tại, hạn chế của BLDS năm 2005, đó là: BLDS năm 2015 đã nâng mức bồi thường tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định; mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Việc nâng mức bồi thường lên là phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội hiện nay. BLDS năm 2015 xác định thiệt hại do xâm phạm tính mạng bao gồm cả “thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”, do đó, sẽ khắc phục, hạn chế được tình trạng thương tâm hiện nay trong một số vụ án tai nạn giao thông, tài xế cố tình đâm chết nạn nhân để mức bồi thường ít so với việc xâm phạm sức khỏe của nạn nhân. Bởi vì theo quy định của BLDS năm 2005, trên thực tế xảy ra nhiều trường gây thiệt hại về sức khỏe khi xác định thiệt hại lớn hơn xác định thiệt hại về tính mạng. Bởi vì, khi gây thiệt hại về sức khỏe người chịu trách nhiệm bồi thường sẽ phải chịu cả trách nhiệm cứu chữa, hồi phục sức khỏe, chăm sóc, chi phí bồi thường nuôi sống cho nạn nhân mất khả năng lao động[3].
Về xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP quy định khác so với Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP và đã quy định cụ thể, chi tiết hơn các trường hợp xảy ra liên quan đến thu nhập của người bị thiệt hại để tính chi phí xác định thu nhập thực tế bị mất. Cụ thể: Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra (theo quy định cũ tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP là 06 tháng). Trường hợp không xác định được 03 tháng lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại. Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày. Đối với trường hợp: “Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 Bộ luật Dân sự”, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP đã loại bỏ quy định này và thay thế bằng việc xác định thu nhập bị mất theo mức lương tối thiểu vùng cho những ngày bị thiệt hại.
2. Một số hạn chế, vướng mắc khi áp dụng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất khi sức khỏe bị xâm phạm
2.1. Vướng mắc trong việc xác định lỗi của người gây thiệt hại
Trong các nguyên tắc BTTH được quy định tại Điều 585 BLDS năm 2015, yếu tố lỗi vẫn được đề cập như một căn cứ để xem xét mức bồi thường. Cụ thể, khoản 2 Điều 585 quy định: “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”.
Tuy nhiên, BLDS năm 2015 không đưa ra khái niệm pháp lý cụ thể về lỗi mà chỉ đề cập đến hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Sự thiếu vắng quy định mang tính định nghĩa này đã dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn xét xử. Trong một số trường hợp, có quan điểm xem lỗi là căn cứ bắt buộc để làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng; trong khi trường hợp khác, có quan điểm lại xác định trách nhiệm bồi thường trên cơ sở hành vi gây thiệt hại và mối quan hệ nhân quả mà không đặt nặng yếu tố lỗi.
Việc chưa có quy định rõ ràng về khái niệm lỗi cũng là nguyên nhân dẫn đến những quan điểm trái ngược trong hoạt động xét xử, ảnh hưởng đến tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Điều này đặt ra yêu cầu cần có hướng dẫn cụ thể hơn từ cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức và thực tiễn giải quyết tranh chấp về BTTH ngoài hợp đồng.
2.2. Bất cập trong việc áp dụng nguyên tắc cấn trừ lợi ích được hưởng từ người thứ ba
Nguyên tắc cấn trừ lợi ích được hưởng từ người thứ ba nhằm bảo đảm tính công bằng trong việc xác định mức BTTH về vật chất khi sức khỏe bị xâm phạm. Theo nguyên tắc này, trong trường hợp người bị thiệt hại đã nhận được một khoản lợi ích nhất định từ bên thứ ba, chẳng hạn như khoản chi trả từ doanh nghiệp bảo hiểm, trợ cấp xã hội hoặc hỗ trợ từ cơ quan, tổ chức khác, thì khoản lợi ích đó có thể được xem xét khi xác định nghĩa vụ bồi thường của người gây thiệt hại.
Ví dụ, khi một người bị xâm phạm sức khỏe phải điều trị y tế và được doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán một phần chi phí điều trị, thì khi giải quyết yêu cầu BTTH, Tòa án có thể xem xét khoản tiền bảo hiểm đã chi trả để xác định phần thiệt hại thực tế còn lại mà người gây thiệt hại phải bồi thường. Việc áp dụng nguyên tắc này nhằm tránh tình trạng người bị thiệt hại được bồi thường vượt quá thiệt hại thực tế đã phát sinh.
Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc vận dụng nguyên tắc cấn trừ lợi ích được hưởng từ người thứ ba. Có những trường hợp xác định khoản tiền bảo hiểm được nhận là một khoản lợi ích độc lập, không thuộc phạm vi cấn trừ khi xác định trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại. Ngược lại, một số trường hợp khác lại coi đây là khoản cần được khấu trừ nhằm bảo đảm nguyên tắc bồi thường đúng và đủ thiệt hại thực tế.
Pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định hoặc hướng dẫn đầy đủ về phạm vi, điều kiện và phương thức áp dụng nguyên tắc cấn trừ lợi ích được hưởng từ người thứ ba. Vì vậy, cần có sự hướng dẫn cụ thể từ cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động xét xử và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ BTTH.
3. Đề xuất, kiến nghị
Thứ nhất, tác giả kiến nghị cần sớm bổ sung quy định cụ thể về lỗi trong quy định của BLDS. Mặc dù không còn là căn cứ bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng trong mọi trường hợp nhưng lỗi vẫn có vai trò quan trọng trong xác định trách nhiệm BTTH và mức BTTH. Khi giải quyết những tranh chấp về BTTH ngoài hợp đồng, cần phải hiểu rõ cơ sở lý luận về lỗi để áp dụng chuẩn xác các quy phạm pháp luật về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, qua đó đưa ra những quyết định chuẩn xác, đúng pháp luật. Do đó, khi sửa đổi, bổ sung BLDS 2015, nhà làm luật cần đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm BTTH nói riêng.
Thứ hai, tác giả kiến nghị cần bổ sung các quy định hướng dẫn xác định tỷ lệ lỗi của bị hại trong trường hợp bị hại cũng có lỗi cần thiết được thể hiện trong bản án, giải thích rõ mức độ lỗi, tỷ lệ lỗi của bị hại, lấy đó làm căn cứ để quyết định mức độ bồi thường. Theo đó, cần có sự hướng dẫn thống nhất trong việc xác định tỷ lệ lỗi thông qua việc xây dựng các tiêu chí cụ thể, mức độ ảnh hưởng, tác động của lỗi đối với thiệt hại.
Thứ ba, về khoản tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại hiện chỉ được quy định một cách chung chung tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, tuy nhiên thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ vướng mắc như phân tích ở trên. Do đó, cần tiếp tục hướng dẫn nội dung này theo hướng quy định mức tối đa, tối thiểu và cách tính, mức bồi thường cho phù hợp với tình trạng sức khỏe của người bị thiệt hại; từng loại thương tích và thời gian bồi dưỡng phục hồi sức khỏe. Bên cạnh đó, đối với trường hợp sức khỏe bị xâm phạm, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn trong trường hợp nào thì bị hại phải có người chăm sóc khi điều trị, trường hợp nào không cần người chăm sóc; thời gian chăm sóc tối thiểu là bao lâu; chi phí cho người chăm sóc và số lần chi phí tàu xe đi lại cho người chăm sóc bị hại,...
Đồng thời, cần có quy định cấp dưỡng đối với người bị xâm hại sức khỏe nặng mà họ mất khả năng lao động, không có thu nhập và thực tế trước khi bị xâm phạm họ đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Giải quyết BTTH về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm là vấn đề quan trọng nhằm kịp thời bù đắp những thiệt hại cho bị hại do hành vi vi phạm pháp luật của người khác gây ra. Đây là chế định vừa có ý nghĩa về vấn đề lập pháp và ý nghĩa về xã hội, do đó cần có quy định chặt chẽ để đảm bảo cho việc áp dụng vào thực tiễn để giải quyết vấn đề BTTH do xâm phạm sức khỏe mới được chính xác, khách quan và công bằng.
Kết luận
BTTH về vật chất khi sức khỏe bị xâm phạm là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi bị tổn hại về sức khỏe do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra. Thông qua việc nghiên cứu các quy định của BLDS năm 2015, đặc biệt là Điều 590, cùng các hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có thể thấy pháp luật Việt Nam đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm bồi thường và bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại.
Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn xét xử, có thể nhận thấy vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Cụ thể, pháp luật hiện hành chưa đưa ra khái niệm đầy đủ và thống nhất về lỗi trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng; việc xác định mức độ lỗi của các bên trong một số trường hợp còn gặp nhiều khó khăn và chưa có sự thống nhất trong thực tiễn áp dụng. Bên cạnh đó, việc vận dụng nguyên tắc cấn trừ lợi ích mà người bị thiệt hại được hưởng từ bên thứ ba, cũng như việc xác định một số khoản chi phí hợp lý liên quan đến điều trị, phục hồi sức khỏe và chăm sóc người bị thiệt hại, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Những bất cập nêu trên không chỉ ảnh hưởng đến tính thống nhất trong áp dụng pháp luật mà còn có thể làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật theo hướng bổ sung khái niệm và tiêu chí xác định lỗi, ban hành hướng dẫn cụ thể về việc xác định tỷ lệ lỗi của các bên, làm rõ nguyên tắc cấn trừ lợi ích được hưởng từ người thứ ba, đồng thời quy định chi tiết hơn về các khoản chi phí được bồi thường trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm.
Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về BTTH vật chất khi sức khỏe bị xâm phạm không chỉ góp phần bảo đảm quyền con người và quyền công dân trong lĩnh vực dân sự mà còn nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết các tranh chấp một cách công bằng, thống nhất, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Dân sự năm 2005.
2. Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017.
4. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
5. Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
6. Đỗ Văn Đại, Pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017.
7. Đỗ Văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, năm 2016.
[1] Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
[2] Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
[3] Cổng TTĐT Phổ biến, giáo dục pháp luật quốc gia, Bàn về chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng con người theo BLDS năm 2015, https://pbgdpl.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=2384&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 21/7/2026.
TAND TP. Cần Thơ: Xét xử phúc thẩm vụ án Cố ý gây thương tích - Nguồn: Thanh Thảo VKSND TP. Cần Thơ.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Bàn về việc kiểm soát thiết bị điện tử tại phiên tòa - Một số giải pháp nhằm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn
-
Bàn về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật
-
Cầu truyền hình "Đi tìm đồng đội - Sao sáng dẫn đường": Tôn vinh, tri ân sự hy sinh cao cả của các Anh hùng liệt sĩ
-
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có vô hiệu không?
-
“Sao sáng dẫn đường” hành trình tri ân kết nối quá khứ với tương lai
Bình luận