
Bà L là người giám hộ đương nhiên của bị hại V
Qua nghiên cứu bài viết “Xác định người đại diện của người bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Thị Kim Phượng đăng ngày 13/3/2024, tôi đồng ý với quan điểm thứ hai.
Hiện nay, trong BLTTHS có quy định về người đại diện nói chung và người đại diện của người dưới 18 tuổi nói riêng được quy định tại khoản 20 Điều 55 với tư cách là người tham gia tố tụng. Trong đó luật cũng có quy định về quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, tuy nhiên lại chưa quy định cụ về người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi gồm những ai.
Do đó, hiện nay để xác định người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi trong vụ án hình sự cần căn cứ vào Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.
Tại khoản 1, 2 Điều 3 của Thông tư này có quy định: “1. Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các Điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự.
Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được xác định theo thứ tự sau đây: a) Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; b) Người giám hộ; c) Người do Tòa án chỉ định.
2. Người giám hộ của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là người giám hộ đương nhiên hoặc người được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi cư trú cử hoặc Tòa án chỉ định theo quy định tại các điều 46, 47, 48, 52 và 54 Mục 4 Chương III Bộ luật Dân sự”.
Như vậy, có thể hiểu rằng khi xác định người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thì thứ tự ưu tiên đầu tiên là cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi. Nếu không xác định được cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi hoặc vì lý do khách quan mà cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi không thể tham gia phiên tòa thì người giám hộ sẽ được xác định là người đại diện của người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi. Đối với người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thì người giám hộ là người giám hộ đương nhiên.
Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được quy định tại Điều 52 BLDS như sau: “Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật này được xác định theo thứ tự sau đây:…2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ...”.
Đồng thời, dẫn chiếu điểm b khoản 1 Điều 47 BLDS có quy định về người được giám hộ bao gồm trường hợp người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ thì có người giám hộ đương nhiên.
Quay trở lại tình huống, ông C và bà N là cha, mẹ ruột của bị hại V, nhưng ông C đang là học viên cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh BL, bà N đi làm ăn xa. Trên thực tế bị hại V đang chung sống với bà L (là bà ngoại của bị hại V) và do bà L chăm sóc và nuôi dưỡng. Có thể thấy việc ông C và bà N là cha mẹ ruột của bị V nhưng không điều kiện chăm sóc, giáo dục con, vì vậy, bà L là người giám hộ đương nhiên theo quy định tại điều 52 BLHS.
Từ những phân tích trên, có thể thấy người đại diện của bị hại V xét theo thứ tự ưu tiên thứ nhất được xác định là ông C và bà N. Tuy nhiên, vì lý do khách quan cả ông C và bà N không thể tham gia phiên tòa, nên bà L sẽ tham gia phiên tòa với tư cách là người giám hộ đương nhiên của bị hại V là đúng quy định của pháp luật.
Trên đây là ý kiến trao đổi của tác giả, mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp cùng quý bạn đọc.
Tòa án TP. Kon Tum xác định tư cách tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Ảnh: TL
Bài liên quan
-
Ban hành Thông tư liên tịch quy định về quan hệ phối hợp trong tố tụng hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện
-
Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt - Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vướng mắc và kiến nghị
-
Hoàn thiện tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ và thời hạn định giá tài sản
-
Đình chỉ vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Trao đổi ý kiến về bài viết “bên đặt cọc hay bên nhận đặt cọc có lỗi?”
-
Không áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ đối với Tạ Tấn P
-
Đề xuất mô hình Tòa án 3 cấp khi bỏ đơn vị hành chính cấp huyện
-
Một số vấn đề về dấu hiệu định tội của tội "Tổ chức đánh bạc" quy định tại điểm d, đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Quy định 189-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương trong ngành Tòa án
Bình luận