Xác định bị đơn trong vụ án dân sự về “tranh chấp quyền sử dụng đất”

Việc xác định bị đơn trong vụ án dân sự về “tranh chấp quyền sử dụng đất” là một vấn đề khó, do vụ án thuộc lĩnh vực này chứa đựng nhiều quan hệ phức tạp. Thực tiễn cho thấy, việc xác định bị đơn trong trường hợp này còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.

Nội dung tình huống:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/8/2023 và trong quá trình giải quyết, xét xử vợ chồng ông Lý Thanh Th và bà Nguyễn Thị Kim Kh trình bày.

Vào ngày 30/12/2016, bố mẹ ông Lý Thanh Th là ông Lý Thanh Ph và bà Nguyễn Thị H được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSD) đất số SD 57293, đất tại thôn 2, xã K, thành phố K T, tỉnh K với diện tích 3.127m2. Đến ngày 08/12/2021, ông Lý Thanh Th được bố mẹ là ông Ph, bà H tặng cho quyền sử dụng đất và được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSD đất số DD 815120 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 08/12/2021 có diện tích là 2485,5 m2, vị trí tứ cận như sau: 

 + Phía Đông có chiều dài 90,36m, giáp thửa số 509 và 466.

+ Phía Tây có chiều dài 91m, giáp thửa 1794.

+ Phía Nam có chiều dài 28,35m, giáp đường đất rộng 03m.

+ Phía Bắc có chiều dài 26,6m giáp đường nhựa rộng 08m.

Quá trình sản xuất, vì không có rào chắn nên ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T đã lấn sang và đang sử dụng đất của vợ chồng ông Th, vợ chồng ông Th đã hòa giải ở cơ sở yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T trả lại diện tích đất đã lấn chiếm của vợ chồng ông Th. Tuy nhiên ông B, bà T không đồng ý nên ông Th, bà Kh khởi kiện yêu cầu ông B, bà T trả lại diện tích 160m2, có tứ cận theo như quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 815120 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 08/12/2021 cho ông Lý Thanh Th. Tại phiên tòa, ông Th, bà Kh trình bày yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn B trả lại diện tích đất lấn chiếm là 86.65m2.

Hiện tại, vợ chồng ông đang trồng bời lời và chôn trụ bê tông lên phần diện tích đất lấn chiếm của ông Th, bà Kh. Nay ông Th, bà Kh khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T tháo dỡ hàng rào trụ bê tông kẽm gai và chặt bỏ toàn bộ cây bời lời trên đất lấn chiếm để trả lại cho ông Lý Thanh Th và bà Nguyễn Thị Kim Kh tổng diện tích đất là 86.65m2 tại địa chỉ thôn 2, xã K, thành phố K.

+ Yêu cầu ông B, bà T bồi thường thiệt hại trong những năm gia đình ông bà sử dụng đất với số tiền là 10.000.000 đồng.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T trình bày.

Năm 2007, ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T có nhận sang nhượng 02 lô đất vườn tại thôn 2 (xóm cũ) 01 lô của bà Trần Thị Tha (chết), 01 lô của ông X vì 02 hộ này đã chuyển đi ở chỗ khác. Riêng lô đất của ông Nguyễn X  (ông bà đang canh tác) có diện tích 1490,4m2, chiều ngang 27m vị trí phía Bắc giáp tỉnh lộ 666 đường cũ, phía Nam giáp đường đất làng K, chiều ngang 28m, phía Tây giáp vườn ông Lý Thanh Ph (nay là ông Lý Thanh Th) chiều dài 54m theo Sổ đỏ, phía Đông giáp đất vườn bà Trần Thị Th (đã sang nhượng) chiều dài 55m. Lô đất này, ông bà đã sử dụng ổn định từ năm 2007 đến nay. Tất cả những lô vườn dọc theo tuyến nhà ông bà ở được chính quyền cấp từ trước năm 1983, bình quân mỗi lô có chiều ngang mặt đường tỉnh lộ 666 cũ là 25m chiều sâu vào khoảng 55m, đối với dãy vườn nhà ông B ở trước năm 1975. Sau khi được chính quyền cấp đất ở thì phía sau cuối vườn của hộ nào, hộ đó khai phá để sản xuất ổn định, không ai lấn chiếm của ai.

 Lô đất của ông bà đã được UBND thành phố K cấp Giấy chứng nhận QSD đất số CH 00063, ngày 14/02/2012, thửa đất số 446, tờ bản đồ số 32, nên vợ chồng ông B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi được cấp giấy chứng nhận QSD, ông B, bà T đã chuyển nhượng diện tích đất cho bà Lê Thị Bích K  với diện tích 539,2m2, chiều ngang 10m, chiều dài 54m vào năm 2020. Phần diện tích tranh chấp nằm trong bìa đỏ của bà K nên yêu cầu nguyên đơn kiện bà K.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị Bích K trình bày.

Năm 2020, bà Lê Thị Bích K có ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T đối với thửa đất tại thôn 2, xã K, thành phố K, tỉnh K có diện tích khoảng 500m2, trong đó có hơn 100m2 đất ở còn lại là đất trồng cây lâu năm. Thời điểm mua đất giữa vợ chồng ông Th, bà Kh và vợ chồng ông B, bà T không có tranh chấp gì. Sau khi làm hợp đồng chuyển nhượng và khai thuế thì bà K được cấp GCN QSD đất theo thủ tục của Nhà nước. Đến năm 2024 thì ông B gọi cho bà K và thông báo cho bà biết ông Th nộp đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng do bà mua đất và được cấp Sổ đúng thủ tục nên giữa ông Th và ông B có tranh chấp như thế nào thì bà không biết, đất của bà K đề nghị lấy đúng diện tích theo bìa đỏ.

Việc cấp sổ cho bà K đã qua thủ tục đo đạc, được Nhà nước cấp sổ nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Th, bà Kh, yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đất đang sử dụng và diện tích theo Sổ đã cấp cho bà.

Trong tình huống trên, quá trình giải quyết còn tồn tại 02 quan điểm khác nhau như sau:

 Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong trường hợp nêu trên, xác định bị đơn trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất là người đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T, tức là bà Lê Thị Bích K là người đã nhận chuyển nhượng QSDĐ của ông B, bà T. Quan điểm này  nhận định, căn cứ vào Điều 93, 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định về chứng cứ và nguồn chứng cứ; trong tình huống trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị Bích K là nguồn chứng cứ trong vụ án, do đó, bà Lê Thị Bích k là bị đơn trong vụ án, còn ông Nguyễn Văn B, bà nguyễn Thị T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Quan điểm thứ hai xác định bị đơn là ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T vì bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện và có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; mặt khác, trong tình hướng trên diện tích QSD đất hiện nay do ông B, bà T sử dụng, bà K đang cư trú một nơi khác rất xa đối với địa điểm diện tích tranh chấp, do đó không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn ông Th, bà Kh; còn đối với bà K trong tình huống trên xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 68, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 thể hiện bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Như vậy, trong tình huống trên đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn để xác định ông B, bà T là bị đơn trong vụ án.

Quan điểm của tác giả: Đồng tình với quan điểm thứ hai vì theo quy định pháp luật bị đơn phải là người bị nguyên đơn khởi kiện và là người có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện; cụ thể trong tình huống này ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T đã bị ông Lý Thanh Th, bà Nguyễn Thị Kim Kh khởi kiện, đồng thời ông B, bà T là người sử dụng đất và có hành vi lấn lấn chiếm đối với diện tích ông Th, bà Kh đang khởi kiện. Mặt khác, trên thực tế có rất nhiều trường hợp chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất các bên chỉ làm thủ tục pháp lý nhưng lại không sử dụng đất thực tế nên không thể căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ai để xác định họ là bị đơn, mà cơ sở để xác định phải đáp ứng hai điều kiện. Đó là phải là người bị nguyên đơn khởi kiện, thứ hai người bị kiện phải có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy, trong tình huống trao đổi ý kiến này, tác giả xác định ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T là bị đơn trong vụ án.

Đây là tình huống mà việc xác định bị đơn còn nhiều quan điểm khác nhau, rất mong nhận được ý kiến trao đổi của đồng nghiệp để việc hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất, hiệu quả.

NGUYỄN THỊ NHƯ MAI (Phó Chánh án TAND khu vực 7 - Quảng Ngãi) - ĐỒNG THỊ BÌNH (Chánh văn phòng, Thẩm phán TAND khu vực 7 - Quảng Ngãi)

Phiên tòa sơ thẩm rút kinh nghiệm vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” tại TAND TP. Đà Nẵng - Ảnh: Thanh Tùng.