Bàn về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật

Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” là một công cụ pháp lý hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; đồng thời, là cơ sở pháp lý để đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về xuất cảnh trong trường hợp tái phạm mà vẫn còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng vẫn còn vướng mắc trong việc xác định hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Đặt vấn đề

Trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) về lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, các cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt VPHC phải bảo đảm hành vi vi phạm được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh. Việc ra quyết định xử phạt VPHC được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thời hiệu xử phạt VPHC theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017, 2020, 2022, 2024, 2025) (Luật XLVPHC), Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 282/2025/NĐ-CP).

Tuy nhiên, đối với hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật”, hiện nay chưa có quy định cụ thể để xác định khi nào hành vi vi phạm hành chính được coi là đã kết thúc và khi nào được coi là đang được thực hiện. Điều này gây khó khăn cho việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Trên thực tế, việc áp dụng chủ yếu phụ thuộc vào nhận định của người có thẩm quyền, dễ dẫn đến cách hiểu và xử lý khác nhau, thiếu thống nhất, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và tính nghiêm minh của pháp luật[1].

1. Khái quát chung về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật

Thời hiệu xử phạt VPHC là khoảng thời gian do luật định mà khi hết thời hạn đó, cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ không bị xử phạt. Điểm a khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC quy định thời hiệu xử phạt VPHC được xác định theo lĩnh vực vi phạm (01 năm, 02 năm hoặc theo pháp luật chuyên ngành). Thời hiệu xử phạt VPHC là một trong những yếu tố mang tính chất quyết định đến việc ra quyết định xử phạt của người có thẩm quyền xử phạt VPHC vì trong trường hợp hết thời hiệu xử phạt VPHC thì không được ra quyết định xử phạt VPHC[2]. Để tính được thời hiệu xử phạt VPHC thì phải căn cứ thời điểm và các trường hợp cụ thể như do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến hoặc cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt[3]. Điểm b khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC quy định thời điểm để tính thời hiệu xử phạt VPHC đối với VPHC đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.Đối với VPHC đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm. Hướng dẫn điều khoản này, khoản 1 Điều 8 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP) (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP) quy định việc xác định hành vi VPHC đã kết thúc, hành vi VPHC đang được thực hiện để tính thời hiệu xử phạt VPHC thực hiện theo nguyên tắc: (1) Hành vi VPHC đã kết thúc là hành vi được thực hiện một lần hoặc nhiều lần và có căn cứ xác định hành vi đã thực hiện xong trước thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện VPHC; (2) Hành vi VPHC đang thực hiện là hành vi đang diễn ra tại thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện VPHC và hành vi đó vẫn đang xâm hại trật tự quản lý nhà nước.

Để duy trì trật tự quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập cảnh, pháp luật Việt Nam quy định công dân Việt Nam (CDVN), người nước ngoài (NNN) xuất cảnh không đúng theo quy định của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2023, 2025, 2026) (Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN), Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2023, 2025) (Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam), trừ các trường hợp là tội phạm thì bị xử phạt VPHC về hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 21 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Bên cạnh đó, NNN vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung trục xuất. Đồng thời, các hành vi VPHC liên quan đến cư dân biên giới qua lại khu vực biên giới được xử phạt theo Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có liên quan[4].

Tương tự các VPHC khác, việc xử phạt hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” cũng phải tuân theo quy định về thời hiệu xử phạt. Theo đó, Điều 6 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là 01 năm, thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Việc xác định chính xác thời hiệu xử phạt sẽ giúp người có thẩm quyền xác định hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” có thể bị xử phạt hay không, từ đó bảo đảm tính hợp pháp của việc xử phạt theo quy định pháp luật.

2. Vướng mắc trong việc tính thời hiệu xử phạt VPHC đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật

Hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật lần đầu tiên được quy định tại Nghị định số 73/2010/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Sau đó, tiếp tục được Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP kế thừa nhưng vẫn không thay đổi tính chất hành vi. Mặc dù, đã trải qua 04 lần thay thế Nghị định nhưng vẫn chưa có quy định cụ thể về thời điểm xác định hành vi VPHC đã kết thúc; hành vi VPHC đang thực hiện để tính thời hiệu xử phạt VPHC dẫn đến có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn. Xin dẫn ra một ví dụ như sau:

Ngày 15/12/2025, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế (BPCKQT) HL, tỉnh ĐN tiếp nhận công dân Nguyễn Văn L (sinh ngày 01/01/1996; trú tại: xã AL, tỉnh ĐT; sức khỏe: bình thường) do lực lượng chức năng (LLCN) Campuchia trao trả. Qua làm việc, L khai nhận đã chủ động xuất cảnh trái phép (XCTP) qua Campuchia để làm “việc nhẹ lương cao” và tự xác định thời gian XCTP vào tháng 8/2021, không có căn cứ chứng minh. Qua xác minh, Đồn BPCKQT HL đã ra quyết định xử phạt VPHC L về hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” theo điểm a khoản 4 Điều 21 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP với mức phạt 7.500.000 đồng. Như vậy, Quyết định xử phạt VPHC trong vụ việc trên đã xác định hành vi VPHC của L là đang được thực hiện và cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt nên thời hiệu được tính từ thời điểm L bị LLCN Campuchia trao trả và Đồn BPCKQT HL tiếp nhận, phát hiện hành vi VPHC kể từ ngày 15/12/2025. Qua kết quả xử lý vụ việc, trên thực tế đang có hai quan điểm khác nhau như sau:

Quan điểm thứ nhất, cho rằng hành vi của L đã kết thúc và hết thời hiệu xử phạt VPHC theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC. Bởi vì, L tự khai nhận đã XCTP tháng 8/2021 và đã ra khỏi lãnh thổ Việt Nam nên có thời điểm hoàn thành, đủ căn cứ xác định thời điểm hành vi vi phạm được thực hiện xong, thỏa mãn hai yếu tố cấu thành hành vi là “qua lại biên giới quốc gia” và “không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật”, do đó, không có cơ sở để xử phạt.

Quan điểm thứ hai, cho rằng hành vi của L đang được thực hiện và cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt theo điểm b, điểm d khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC. Bởi vì, hành vi của L đang diễn ra tại thời điểm Đồn BPCKQT HL phát hiện và đang xâm hại trật tự quản lý nhà nước về xuất cảnh, nhập cảnh. Đồng thời, không có căn cứ xác định L đã thực hiện xong trước thời điểm bị phát hiện VPHC. Bên cạnh đó, L đã sử dụng thủ đoạn lén lút, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát, cản trở việc xử phạt nên thời hiệu xử phạt tính từ ngày phát hiện VPHC và thời điểm L chấm dứt hành vi cố ý trốn tránh, cản trở việc xử phạt là ngày 15/12/2025, do đó, có đủ cơ sở xử phạt.

Nghiên cứu các quan điểm trên cho thấy, quan điểm thứ hai đã bao quát và giải quyết vụ việc VPHC trên cơ sở xem xét, đánh giá, xác định hành vi một cách toàn diện, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; cũng như đảm bảo trật tự quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh là khách thể mà Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN bảo vệ theo nguyên tắc “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh của cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật”[5], bởi các lý do sau:

Thứ nhất, việc xử phạt VPHC đối với hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” cần phải căn cứ cấu thành hành vi VPHC thay vì chỉ đánh giá hành vi theo một khía cạnh duy nhất là mặt khách quan như “qua lại biên giới quốc gia”, “không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật”. Do đó, để ra quyết định xử phạt VPHC đúng đắn cần đánh giá đầy đủ các yếu tố cấu thành hành vi gồm: (1) Mặt khách quan của VPHC là hành vi VPHC, hậu quả của hành vi VPHC, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi vi phạm, công cụ, phương tiện, địa điểm, thời gian thực hiện VPHC; (2) Mặt chủ quan của VPHC là lỗi, động cơ, mục đích thực hiện hành vi vi phạm; (3) Khách thể của VPHC là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại tới; (4) Chủ thể của VPHC là tổ chức, cá nhân[6] thuộc đối tượng bị xử phạt VPHC theo quy định của Luật XLVPHC.

Thứ hai, dưới góc nhìn tổng quan của khoa học pháp lý, có thể thấy hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” là một quy định nằm trong VBQPPL về hình thức chế tài có chứa quy phạm pháp luật dẫn chiếu. Vì vậy, để xác định chính xác hành vi này thì không thể chỉ căn cứ mặt khách quan của hành vi mà đòi hỏi phải căn cứ VBQPPL về nội dung (hay còn gọi là luật nội dung), cụ thể:

Một là, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN được ban hành trên cơ sở xuất phát từ yêu cầu thực tế là tình trạng người Việt Nam ra nước ngoài học tập, lao động trốn ở lại, có các hoạt động VPPL của nước sở tại diễn ra rất phức tạp, ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong khi các nước ngày càng siết chặt chính sách nhập cư, dẫn đến tình trạng CDVN bị các nước trục xuất ngày càng nhiều[7]. Đồng thời, khách thể mà Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN bảo vệ là trật tự quản lý nhà nước về xuất cảnh, nhập cảnh nhằm mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với hành vi VPPL trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN; kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý mọi hành vi VPPL xâm hại đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh, trật tự của Nhà nước ta, đồng thời bảo vệ hoạt động hợp pháp của công dân trong quá trình xuất cảnh, nhập cảnh[8]. Bên cạnh đó, một trong những nội dung mục đích của việc ban hành Luật Biên giới quốc gia năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) (Luật Biên giới quốc gia) là nhằm tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, phương thức hoạt động, ý đồ chống phá cách mạng Việt Nam, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, góp phần giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh trật tự ở khu vực biên giới[9].

 Hai là, tại Điều 15 Luật Biên giới quốc gia quy định “việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới quốc gia được thực hiện tại cửa khẩu”, “việc qua lại biên giới của nhân dân trong khu vực biên giới được thực hiện tại cửa khẩu hoặc nơi mở ra cho qua lại biên giới”, “người, phương tiện, hàng hóa qua lại biên giới quốc gia phải có đầy đủ giấy tờ hợp pháp và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Đồng thời, CDVN có nghĩa vụ phải chấp hành pháp luật Việt Nam về xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN và pháp luật của nước đến khi ra nước ngoài và pháp luật về quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN, Điều 3 Luật Biên giới quốc gia. Như vậy, có thể thấy rõ, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN, Luật Biên giới quốc gia là một công cụ pháp lý chuyên biệt giúp nhà nước bảo vệ khách thể là trật tự quản lý nhà nước về xuất cảnh, nhập cảnh, trật tự quản lý nhà nước về biên giới quốc gia nhằm mục đích quản lý được công dân đang ở trong nước và nước ngoài để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý mọi hành vi VPPL trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh. Còn đối với CDVN khi xuất cảnh, ngoài nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam còn phải chấp hành pháp luật nước sở tại khi nhập cảnh; và nghĩa vụ này đòi hỏi phải thực hiện liên tục cho đến khi nhập cảnh trở về nước để không làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ ba, về mặt kỹ thuật lập quy, mặc dù đã trải qua 04 lần thay thế Nghị định nhưng hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật chỉ thay đổi về mức tiền xử phạt, còn về nội dung và hình thức cơ bản vẫn được giữ nguyên. Có thể thấy, không phải ngẫu nhiên mà hành vi này được nhà làm luật sử dụng từ “qua lại” mà không sử dụng từ “qua” để chỉ hoạt động ra khỏi biên giới, lãnh thổ Việt Nam, trong khi đó, Luật Biên giới quốc gia sử dụng 06 lần cụm từ “qua lại biên giới”, 07 lần cụm từ “qua biên giới”; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN sử dụng 02 lần cụm từ “qua lại biên giới”; Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 18/11/2009 sử dụng 12 lần cụm từ “qua lại biên giới”, 34 lần cụm từ “qua biên giới”; Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ngày 16/3/2016 sử dụng 19 lần cụm từ “qua lại biên giới”; 37 lần cụm từ “qua biên giới”; Hiệp định về quy chế biên giới giữa Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nước Cộng hòa nhân dân Campuchia ngày 20/7/1983 sử dụng 10 lần cụm từ “qua lại biên giới”, 08 lần cụm từ “qua biên giới”. Qua các văn bản trên, cho thấy cụm từ “qua biên giới” hầu hết chỉ hoạt động chung của các đối tượng là vật thể như phương tiện, hàng hóa, đồ vật, động vật,…; còn đối với cụm từ “qua lại biên giới” thường chỉ hoạt động của chủ thể là con người hoặc trình tự, thủ tục giải quyết việc qua lại biên giới giữa Việt Nam với các nước đối diện. Đối chiếu với Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN, việc xuất cảnh bằng giấy tờ hợp pháp tại cửa khẩu với tư cách cá nhân của công dân thì pháp luật không yêu cầu đòi hỏi sự bắt buộc quay trở lại của công dân vì pháp luật không giới hạn tổng thời gian được phép ở nước ngoài mà phụ thuộc vào quy định của pháp luật nhập cảnh của quốc gia cho nhập cảnh thể hiện trên thị thực. Còn việc xuất cảnh vì lý do công vụ hoặc qua biên giới của cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang và cư dân biên giới thì pháp luật yêu cầu đòi hỏi sự quay trở lại bằng thời hạn ở lại nước đối diện được quy định trong Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào, Campuchia. Mặt khác, theo từ điển Tiếng Việt, từ “qua” có nghĩa là hành động di chuyển từ điểm này đến điểm khác, từ bên này sang bên kia, vượt ra khỏi một ranh giới, có tính chất một chiều; còn đối với từ “qua lại” có nghĩa là hành động di chuyển tới lui liên tục, lặp lại, có tính chất hai chiều (đi và về). Về mặt ngữ nghĩa, từ “qua” và “qua lại” có nội hàm khác nhau nên không thể quy chụp, đánh đồng hành vi “qua lại biên giới quốc gia” và “qua biên giới quốc gia” là giống nhau. Chính vì vậy, để xác định được thời điểm hoàn thành, kết thúc hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” cần phải căn cứ hai yếu tố là: (1) Người vi phạm XCTP ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; (2) Người vi phạm trở lại nhập cảnh vào lãnh thổ Việt Nam”. Điều này hoàn toàn phù hợp với khách thể là trật tự quản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh của CDVN, trật tự quản lý nhà nước về biên giới quốc gia mà Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN, Luật Biên giới quốc gia bảo vệ nhằm mục đích quản lý được công dân đang ở trong nước và nước ngoài để đảm bảo an ninh quốc gia. Cũng vì lẽ đó, mà trong chính Nghị định số 282/2025/NĐ-CP và 03 nghị định trước đều quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam) đối với hành vi “qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật”; còn đối với NNN vi phạm thì Nghị định quy định thêm hình thức xử phạt bổ sung trục xuất. Cũng theo nguyên tắc này, khi CDVN nhập cảnh trái phép vào lãnh thổ nước ngoài thì bị trục xuất, trao trả về Việt Nam. Như vậy, có thể thấy, Việt Nam cũng như các quốc gia đều có chế định pháp luật về xuất, nhập cảnh giống nhau với mục đích quản lý công dân đang ở trong nước và nước ngoài.

Thứ tư, về chứng cứ và chứng minh hành vi VPHC. Theo ví dụ nêu trên, ngoài lời khai duy nhất của L thì không có căn cứ chứng minh L đã XCTP tháng 8/2021. Tuy nhiên, trong hồ sơ xử phạt VPHC có đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi của L đang được thực hiện với thủ đoạn lén lút, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thông qua đường mòn, lối tắt để XCTP qua Campuchia và bị LLCN Campuchia bắt giữ, trao trả về Việt Nam ngày 15/12/2025 dựa trên các căn cứ là: Dữ liệu nghiệp vụ quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh toàn quốc giữa Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an và các đơn vị cửa khẩu do Bộ Quốc phòng quản lý[10]; Biên bản bàn giao của LLCN Campuchia; Lời khai của L. Như vậy, việc tính thời hiệu để xử phạt VPHC kể từ tháng 8/2021 là không có căn cứ xác định. Trên thực tế, người thực hiện hành vi VPPL luôn có tâm lý, ý thức khai báo gian dối, che dấu hành vi vi phạm của mình để đối phó với mong muốn LLCN không phát hiện và xử phạt. Nếu chỉ căn cứ lời khai duy nhất của người vi phạm là xuất cảnh vào thời gian đã xảy ra rất lâu, vượt quá thời gian tính thời hiệu để xử phạt VPHC một năm hoặc chỉ căn cứ một khía cạnh mặt khách quan của hành vi vi phạm với hai yếu tố không đầy đủ là “qua biên giới quốc gia” (không phải là qua lại biên giới quốc gia) và “không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” để xác định hành vi vi phạm đã kết thúc thì chưa thực hiện đúng nguyên tắc chứng cứ và chứng minh hành vi trong xử phạt VPHC. Như vậy, sẽ phá vỡ trật tự quản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh của CDVN, trật tự quản lý nhà nước về biên giới quốc gia vì không xử lý được các trường hợp XCTP. Hay nói cách khác, người vi phạm chỉ cần khai báo gian dối đã XCTP hơn một năm, hoặc khi đã XCTP chỉ cần ở lại nước ngoài hơn một năm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không có căn cứ để xử phạt.

Thứ năm, về hành vi VPHC của người vi phạm. Theo ví dụ trên, L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, thực hiện hành vi vi phạm với lỗi cố ý, được thể hiện qua thủ đoạn lợi dụng đường mòn, lối tắt để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh; khi vào được lãnh thổ Campuchia tiếp tục trốn tránh, cản trở sự kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, xử lý của cơ quan có thẩm quyền của Campuchia và Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại Campuchia. Như vậy, có thể thấy, hành vi vi phạm của L đang diễn ra liên tục với phương thức, thủ đoạn lén lúc, trốn tránh kể từ khi XCTP và ở lại Campuchia làm cho cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh của Việt Nam không thể quản lý được công dân xuất cảnh, nhập cảnh, ở lại nước ngoài. Chính vì vậy, có cơ sở để xác định hành vi của L đang diễn ra và đang xâm hại trật tự quản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh của CDVN.

3. Kiến nghị hoàn thiện quy định về tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật

Để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc và thống nhất quan điểm áp dụng pháp luật về việc xác định hành vi VPHC đã kết thúc, hành vi VPHC đang được thực hiện để tính thời hiệu xử phạt VPHC đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử phạt VPHC. Tác giả kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 282/2025/NĐ-CP theo hướng thiết kế thêm một khoản tại Điều 6 với nội dung: “Đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật tại điểm a khoản 4 Điều 21 Nghị định này, hành vi VPHC được xác định là đang được thực hiện cho đến thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện hoặc cá nhân vi phạm tự nguyện khai báo hành vi vi phạm. Thời hiệu xử phạt VPHC được tính từ thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền có tài liệu, dữ liệu hoặc chứng cứ hợp pháp xác định hành vi vi phạm. Trường hợp hành vi chỉ được phát hiện khi cá nhân nhập cảnh trở lại Việt Nam thì thời hiệu xử phạt được tính từ thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện hành vi trong quá trình kiểm tra, kiểm soát hoặc xác minh”. Một phương án khác là cơ quan có thẩm quyền là Bộ Công an được quy định tại khoản 1 Điều 71 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, nghiên cứu, ban hành một văn bản hướng dẫn áp dụng việc xác định hành vi VPHC đã kết thúc, hành vi VPHC đang được thực hiện để tính thời hiệu xử phạt VPHC đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” để kịp thời triển khai đến cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt VPHC áp dụng thống nhất, đồng bộ, minh bạch, hiệu quả, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước; tránh trường hợp áp dụng pháp luật mang tính chủ quan, tùy nghi như quan điểm thứ nhất nêu trên thì người vi phạm sẽ tự do XCTP và trở về an toàn sau một năm mà vẫn yên tâm rằng cơ quan nhà nước không có căn cứ để xử phạt.

Kết luận

Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng việc xác định hành vi VPHC đã kết thúc, hành vi VPHC đang được thực hiện để tính thời hiệu xử phạt VPHC đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật”, nghiên cứu đề xuất khuyến nghị để hoàn thiện pháp luật. Trong thời gian tới, cơ quan có thẩm quyền cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, nhằm tạo điều kiện cho cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt VPHC áp dụng thống nhất, đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa, giáo dục, răn đe hành vi VPPL về xuất, nhập cảnh đang diễn ra rất phức tạp trong giai đoạn hiện nay.

 

ThS. PHẠM MINH HẢI (Phòng Nghiệp vụ Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP. Đồng Nai)

Tài liệu tham khảo

1. Cục Pháp chế và cải cách hành chính tư pháp/Bộ Công an, Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật/Bộ Tư pháp (2020), Tài liệu giới thiệu Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN.

2. Dân Chủ , Phối hợp chặt chẽ, nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh, https://www.bienphong.com.vn/phoi-hop-chat-che-nang-cao-hieu-qua-quan-ly-kiem-soat-xuat-nhap-canh-post500156.html.

3. Lam Hạnh - Xuân Lan, 20 năm thực hiện Luật Biên giới quốc gia: Những dấu ấn trên miền biên cương, https://baophapluat.vn/20-nam-thuc-hien-luat-bien-gioi-quoc-gia-nhung-dau-an-tren-mien-bien-cuong-post486155.html.

4. Sở Tư pháp thành phố Huế, Trao đổi về thời điểm xác định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, https://stp.hue.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi-ve-thoi-diem-xac-dinh-thoi-hieu-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh.html.

5. Sở Tư pháp thành phố Huế, Trao đổi về chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân, https://stp.hue.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi-ve-chu-the-vi-pham-hanh-chinh-la-ca-nhan.html.


[1] Sở Tư pháp thành phố Huế, Trao đổi về thời điểm xác định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, https://stp.hue.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi-ve-thoi-diem-xac-dinh-thoi-hieu-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh.html.

[2] Điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý VPHC.

[3] Điểm b, điểm c, điểm d khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý VPHC.

[4] Khoản 10 Điều 21 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.

[5] Khoản 4 Điều 3 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN.

[6] Sở Tư pháp thành phố Huế, Trao đổi về chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân, https://stp.hue.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi-ve-chu-the-vi-pham-hanh-chinh-la-ca-nhan.html.

[7] Cục Pháp chế và cải cách hành chính tư pháp/Bộ Công an, Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật/Bộ Tư pháp (2020), Tài liệu giới thiệu Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN, tr. 3.

[8] Bộ Công an (2019), Tờ trình Dự án Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của CDVN.

[9] Lam Hạnh - Xuân Lan, 20 năm thực hiện Luật Biên giới quốc gia: Những dấu ấn trên miền biên cương, https://baophapluat.vn/20-nam-thuc-hien-luat-bien-gioi-quoc-gia-nhung-dau-an-tren-mien-bien-cuong-post486155.html.

[10] Dân Chủ , Phối hợp chặt chẽ, nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh, https://www.bienphong.com.vn/phoi-hop-chat-che-nang-cao-hieu-qua-quan-ly-kiem-soat-xuat-nhap-canh-post500156.html.

Lực lượng chức năng đấu tranh, khai thác đối tượng nhập cảnh trái phép - Nguồn: Báo QĐND.