Kinh nghiệm một số nước về thu hồi tài sản tham nhũng

Ths. LÊ VIẾT SINH, LÊ TIẾN VIÊN - Thu hồi tài sản là công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng chống tham nhũng, được hầu hết các quốc gia áp dụng. Từ kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về thủ tục và phương thức thu hồi tài sản (thông qua các hình thức kết án, kết tội, thủ tục hành chính, thủ tục dân sự), tác giả đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam.

27 tháng 11 năm 2021 14:39 GMT+7    0 Bình luận

Thu hồi tài sản là biện pháp được ghi nhận tại Chương V Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 (UNCAC). Đây là biện pháp hữu hiệu đã và đang được nhiều quốc gia sử dụng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Thủ tục thu hồi tài sản

Hầu hết các thủ tục pháp lý thu hồi tài sản dựa trên các cuộc điều tra tài chính. Đó là quá trình truy tìm tài sản, các khoản thu nhập và chi tiêu của người phạm tội. Mặc dù mỗi trường hợp thu hồi tài sản là duy nhất và có hoàn cảnh cụ thể, tuy nhiên, quá trình này thường bao gồm 05 giai đoạn: Thu thập thông tin, bằng chứng và truy tìm tài sản; bảo quản tài sản; thủ tục Tòa án; thi hành các lệnh; trả lại tài sản). Trong đó, 03 giai đoạn đầu chính là quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với chủ thể có hành vi tham nhũng, cụ thể như sau:

Thu thập thông tin, bằng chứng và truy tìm tài sản: Giai đoạn này, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình sử dụng các biện pháp, nghiệp vụ điều tra để thu thập thông tin, bằng chứng và truy vết tài sản cần phải thu hồi. Theo hướng dẫn tại “Cẩm nang thu hồi tài sản”, nếu là vụ kiện dân sự, cán bộ thực thi pháp luật, Điều tra viên tư nhân hoặc các bên quan tâm khác tiến hành thu thập chứng cứ và truy tìm tài sản dưới sự giám sát hoặc hợp tác chặt chẽ của các Công tố viên hay Thẩm phán điều tra. Việc thu thập này có thể từ thông tin đã công khai và thông tin tình báo từ các cơ quan thực thi pháp luật hoặc từ cơ sở dữ liệu của các cơ quan chính phủ. Bên cạnh đó, các cán bộ thực thi pháp luật có thể sử dụng biện pháp điều tra đặc biệt khi được Công tố viên hoặc Thẩm phán cho phép như giám sát điện tử, lệnh khám xét và tạm giữ, lệnh yêu cầu cung cấp thông tin hay lệnh giám sát tài khoản); một số biện pháp khác không cần sự cho phép (ví dụ như giám sát thể chất, thông tin từ các nguồn công cộng, hỏi nhân chứng). Các Điều tra viên tư nhân không có thẩm quyền như các cán bộ thực thi pháp luật, tuy nhiên họ có thể sử dụng các nguồn thông tin công khai và đề nghị Toà án ban hành lệnh dân sự (như lệnh yêu cầu cung cấp thông tin, rà soát hồ sơ tại chỗ, điều trần trước khi lập hồ sơ, hay báo cáo chuyên gia).

Bảo quản tài sản: Trong giai đoạn này, số tiền thu được và các công cụ bị tịch thu trong giai đoạn trước sẽ được bảo quản để tránh tiêu tán, di chuyển hoặc tiêu hủy và để phục vụ cho mục đích thu hồi cũng như chứng minh hành vi tham nhũng trong giai đoạn kế tiếp. Đối với những nước có nền tài phán theo hệ thống dân luật, Công tố viên, Thẩm phán điều tra hoặc các cơ quan thực thi pháp luật có thẩm quyền ban hành lệnh phong tỏa hay tạm giữ tài sản nhằm mục đích tịch thu, còn ở các nước có nền tài phán khác thì cần phải có uỷ quyền tư pháp.

Thủ tục Tòa án: Tố tụng tại Toà án có thể liên quan đến tịch thu hình sự hoặc tịch thu không dựa trên phán quyết của Toà án. Thu hồi tài sản sẽ đạt được thông qua việc ban hành các lệnh tịch thu, bồi thường; tiền bồi thường thiệt hại hoặc phạt tiền, tịch thu có thể dựa trên tài sản hoặc dựa trên giá trị. Các hệ thống tịch thu dựa trên tài sản (còn được gọi là các hệ thống “tài sản bẩn”) cho phép tịch thu những tài sản được cho là do phạm tội mà có hoặc là công cụ phạm tội, đòi hỏi phải có mối liên hệ giữa tài sản và tội phạm (đòi hỏi này khó chứng minh trong trường hợp tài sản đã được tẩy rửa, bị biến đổi hoặc chuyển đổi nhằm che đậy, ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp). Các hệ thống dựa trên giá trị (còn được gọi là các hệ thống “lợi ích”) cho phép quyết định giá trị của những lợi ích có được từ hành vi phạm tội và tịch thu phần tài sản có thể là tài sản sạch có giá trị tương ứng.

Có thể thấy, một trong những thách thức lớn nhất của việc điều tra thu hồi tài sản tham nhũng là tìm kiếm bằng chứng chứng minh mối quan hệ của tài sản với hành vi phạm tội hoặc chứng minh rằng tài sản có được từ hành vi phạm tội. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền cần phải xác định và truy vết tài sản cho đến khi xác định được có mối liên hệ như trên. Để giải quyết được khó khăn đó thì các quốc gia cần áp dụng mô hình điều tra đặc biệt; mô hình này không giống như biện pháp điều tra hình sự thông thường, mà bao gồm các Cơ quan điều tra tài chính để thực hiện việc truy tìm tài sản tham nhũng cho mục đích tịch thu. Biện pháp này được gọi là Biện pháp điều tra tài chính. Hiện nay, điều tra tài chính đang là biện pháp chiếm ưu thế hơn so với các biện pháp điều tra khác, bởi tham nhũng là loại tội phạm vì lợi nhuận, luôn gắn với lợi nhuận - tài sản, do vậy các cơ quan thực thi pháp luật trên thế giới điều tra loại hành vi này bằng cách truy vết tài sản để thu thập bằng chứng liên quan. Phương pháp này đa dạng về cách tiếp cận thông tin để phục vụ cho công tác điều tra, như: Thông tin từ ngân hàng, từ khai báo tài sản hay thông tin sẵn có về tiền lương, thu nhập và chi tiêu (hóa đơn, báo cáo chi phí); thông tin mở từ internet và các phương tiện thông tin đại chúng. Ngoài ra, các nhà thực thi pháp luật cũng có thể phân tích thông tin kế toán, hợp đồng, hóa đơn và các tài liệu khác của các doanh nghiệp. Khi xem sổ sách và tài khoản của doanh nghiệp, các cơ quan thực thi pháp luật đặc biệt chú ý đến các loại hoa hồng được trả, các thỏa thuận tư vấn, các khoản chi phí báo cáo và các khoản thanh toán tạm ứng, các nhóm giao dịch đáng ngờ, giao dịch với chứng khoán. Ví dụ trong một vụ án hình sự về tham nhũng ở Hoa Kỳ, các hình thức công khai tài chính của các viên chức theo yêu cầu của Đạo luật về đạo đức trong Chính phủ đã cung cấp cho các Công tố viên thông tin về những món quà nhận được, bao gồm cả việc đi lại, thu nhập và trách nhiệm của vợ/chồng và những người thân khác. Đây là nguồn cung cấp bằng chứng về tham nhũng và lạm dụng công quỹ. Các hình thức khai thác thông tin khác ở Hoa Kỳ, chẳng hạn như biểu mẫu tiết lộ thông tin du lịch, biểu mẫu tiết lộ xung đột lợi ích, biểu mẫu tiết lộ vận động hành lang cũng là các yếu tố cung cấp thông tin. Trong một trường hợp khác, liên quan đến các quan chức được bầu, thông tin công khai do Ủy ban Bầu cử Liên bang Hoa Kỳ thu thập được sử dụng. Các bài báo và thông cáo báo chí cũng là một nguồn thông tin công cộng quan trọng. Một trong những vụ án tham nhũng khác, thông tin từ một thông cáo báo chí và dữ liệu từ biểu mẫu thông báo du lịch công khai của một quan chức nhà nước đã được các công tố viên sử dụng để phỏng vấn anh ta. Thông tin đó cho phép chứng minh rằng quan chức đó đã sử dụng chuyến đi chính thức này cho mục đích cá nhân, và điều này được sử dụng như một bằng chứng trong vụ án tham nhũng để chống lại anh ta.

Hà Lan là một ví dụ điển hình về việc sử dụng phương pháp điều tra tài chính. Kể từ đầu những năm 1990, điều tra tội phạm ở Hà Lan tập trung vào việc tịch thu thu nhập và tài sản bất hợp pháp của thủ phạm. Năm 1993, đạo luật tịch thu (Đạo luật tước tài sản phạm tội) được ban hành nhằm phát triển chuyên môn tài chính trong cơ quan thực thi pháp luật. Kể từ đó, Chính phủ đã ưu tiên điều tra tài chính và tịch thu theo luật hình sự liên quan đến tài sản do phạm tội mà có.

Cách thức thu hồi tài sản

Mỗi quốc gia có những cách thức thu hồi tài sản tham nhũng khác nhau, tuy nhiên nhìn chung hiện nay có 04 phương thức phổ biến, bao gồm: (1) Thu hồi tài sản thông qua hình thức kết án; (2) Thu hồi tài sản không qua hình thức kết tội; (3) Thu hồi tài sản thông qua thủ tục hành chính và (4) Thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự.

Thu hồi tài sản thông qua hình thức kết án: Đây là biện pháp thu hồi tài sản phổ biến nhất và được hầu hết các quốc gia sử dụng, theo đó để thu hồi tài sản tham nhũng thì Cơ quan thực thi pháp luật sẽ bám sát một vụ án hình sự và việc thu hồi sẽ được tiến hành sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật. Biện pháp này thường được thực hiện thông qua 04 bước là điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Yêu cầu của biện pháp này là các cơ quan thực thi pháp luật phải thu thập chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội tham nhũng, truy tìm và bảo quản tài sản. Sau khi có đủ bằng chứng để chứng minh một người đã thực hiện tội phạm tham nhũng thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành truy tố, tùy vào pháp luật của mỗi nước mà nội dung của bản án, quyết định của Tòa án có thể bao gồm phần tịch thu tài sản, hoặc sau khi bị kết án, Tòa có thể ra lệnh tịch thu tài sản. Tài sản bị tịch thu bao gồm các công cụ, số tiền thu được và các lợi ích khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tội phạm.

Ưu điểm của biện pháp này là sự công nhận của xã hội về bản chất tội phạm của tham nhũng và trách nhiệm giải trình của thủ phạm. Đồng thời các hình phạt như phạt tù, phạt tiền và tịch thu tài sản vừa có tác dụng trừng trị người thực hiện hành vi tham nhũng lại vừa có tác dụng răn đe đối với những người có khả năng phạm tội tham nhũng.

Thu hồi tài sản không qua hình thức kết tội: Hạn chế của biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng thông qua kết án là có thể tồn tại những rào cản đáng kể cản trở việc kết án hình sự và tịch thu tài sản, chẳng hạn như: Không đủ bằng chứng, thiếu thời hạn (thời hiệu) hay có thể do thủ phạm đã chết, bỏ trốn, được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được tuyên trắng án do không đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội tham nhũng. Thậm chí có thể xảy ra trường hợp, trong cùng một vụ việc, cơ quan tài phán của nước này xem là tội phạm còn cơ quan tài phán của nước khác lại không xem là tội phạm dẫn đến không thể thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ngoài. Ngoài ra, biện pháp này chỉ thu hồi được tài sản có nguồn gốc hoặc sử dụng để phạm tội, còn đối với những tài sản thuộc các bên thứ ba không thể được thu hồi bằng hình thức kết án. Do đó, biện pháp thu hồi tài sản không qua hình thức kết tội có thể giúp khắc phục nhược điểm của biện pháp thu hồi tài sản thông qua hình thức kết án.

Điều 54.1 (c) của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 (UNCAC) yêu cầu các quốc gia thành viên: “Cân nhắc thực hiện các biện pháp cần thiết để cho phép tịch thu tài sản đó mà không bị kết án hình sự trong trường hợp người phạm tội không thể bị truy tố vì lý do đã chết, bỏ trốn hoặc vắng mặt hoặc trong các trường hợp thích hợp khác”.

So với những loại tội phạm khác thì tội phạm tham nhũng rất khó để điều tra, chứng minh và truy tố. Để giải quyết vấn đề này, nhiều quốc gia cho phép áp dụng quyền thu hồi tài sản của người bị tình nghi phạm tội mà không cần phải có phiên tòa hình sự để đưa ra phán quyết buộc tội. Có nghĩa là thủ tục thu hồi tài sản không chỉ có ở giai đoạn sau khi kết án, mà còn có thể được sử dụng trong trường hợp không truy tố, hoặc trước khi truy tố hay trong trường hợp truy tố nhưng không thể kết án hình sự. Trong trường hợp này, cơ quan chức năng được phép thu hồi tài sản nếu họ có bằng chứng xác định đó là tài sản bất hợp pháp hoặc có nguồn gốc từ tài sản bất hợp pháp dựa trên tiêu chuẩn cung cấp được, “bằng chứng ưu thế” - là việc Tòa án xử cho bên đưa ra chứng cứ mạnh hơn. Do vậy, cơ quan có thẩm quyền có thể thu hồi tài sản ngay cả khi không thể kết án người đã thực hiện hành vi tham nhũng do họ đã chết, lẩn trốn, vắng mặt hoặc được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, hay ngay cả khi không tìm được người thực hiện hành vi phạm tội nhưng tìm được tài sản, thậm chí khi tài sản đang do một bên thứ ba nắm giữ mà bên thứ ba này không bị kết án, bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cơ quan chức năng nhận thức được rằng tài sản do phạm tội mà có hoặc tài sản được sử dụng làm công cụ phạm tội. Bên cạnh đó, với những tài sản hình thành vào thời điểm mà hành vi của người có được tài sản đã thực hiện không bị xem là tội phạm thì vẫn có thể áp dụng thủ tục thu hồi không dựa trên kết án để thu hồi tài sản đó.

Cách này không chỉ giúp phòng, chống tham nhũng mà còn chống tư lợi cho những người tham nhũng. Điển hình như ở Anh, nếu các cơ quan chức năng chọn để theo đuổi việc thu hồi tài sản, họ phải nỗ lực tịch thu thông qua các thủ tục hình sự đầu tiên. Nếu tịch thu hình sự thất bại (do người phạm tội thoát án hình sự), các nhà chức trách có thể chuyển sang thu hồi tài sản không thông qua hình thức kết án (thu hồi tài sản được mua trực tiếp bằng tiền phạm tội), tiếp theo là đánh thuế thu nhập phạm tội; còn việc thu hồi các công cụ phạm tội thì có thể được thực hiện ở bất kỳ giai đoạn nào của tố tụng hình sự.

Ví dụ điển hình về trường hợp tịch thu tiền mặt không thông qua hình thức kết án có thể được thấy trong trường hợp của Ferdinand Marcos và Imelda Marcos (Hoa Kỳ).

- Thu hồi tài sản thông qua thủ tục hành chính: Thu hồi tài sản thông qua thủ tục hành chính thường liên quan đến một cơ chế tắt để tịch thu tài sản được sử dụng hoặc liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội đã bị thu giữ trong quá trình điều tra. Quá trình này có hiệu quả khi tài sản bị tịch thu có thể được di chuyển và thực hiện dưới sự kiểm soát của nhà nước.

Việc thu hồi được thực hiện bởi một Điều tra viên hoặc cơ quan có thẩm quyền (chẳng hạn như đơn vị cảnh sát hoặc cơ quan thực thi pháp luật được chỉ định). Quá trình tịch thu sẽ xảy ra sau khi thông báo về rủi ro đã được gửi đến chủ sở hữu hoặc người đang sở hữu tài sản và đã ban hành thông báo công khai về khả năng tịch thu này.

Ưu điểm của thu hồi tài sản bằng thủ tục hành chính là diễn ra nhanh và giảm thiểu các chi phí liên quan đến việc bảo quản tài sản cho các lần áp dụng tịch thu tiếp theo. Ngoài ra, tịch thu hành chính có thể được áp dụng trong trường hợp chủ sở hữu hợp pháp hoặc người chiếm hữu trước khi thu giữ đã bỏ tài sản bị thu giữ. Bằng biện pháp này, các mệnh lệnh hành chính và các biện pháp tương tự có thể đóng băng tài sản trước khi có yêu cầu chính thức đầy đủ, bổ sung cho quy trình tương trợ tư pháp. Do vậy, biện pháp này đang ngày càng được áp dụng rộng rãi và thu được nhiều kết quả tích cực trong việc ngăn chặn tẩu tán tài sản tham nhũng.

Thụy Sĩ là ví dụ điển hình về việc sử dụng biện pháp thu hồi tài sản bằng thủ tục hành chính. Theo đó, ngày 01/10/2010, Quốc hội Thụy Sĩ đã thông qua Đạo luật trả lại tài sản bất hợp pháp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hồi số tiền thu được do tham nhũng trong các tình huống mà tình trạng nguồn gốc của tài sản không thể tiến hành thủ tục hình sự đáp ứng các yêu cầu của Luật tương trợ quốc tế của Thụy Sĩ. Đạo luật trả lại tài sản bất hợp pháp quy định việc đóng băng, tịch thu và hoàn trả tài sản do những người có quan hệ chính trị nước ngoài và cộng sự của họ nắm giữ ở Thụy Sĩ trên cơ sở quyết định của Tòa án hành chính Liên bang. Theo tinh thần tại Điều 6 của Đạo luật thì Tòa án có thể giả định nguồn gốc bất hợp pháp của những tài sản này khi “tài sản của người có quyền định đoạt tài sản đã tăng lên bất thường có liên quan đến việc thực thi chức vụ công của người có liên quan đến chính trị và mức độ tham nhũng ở quốc gia xuất xứ hoặc xung quanh người có liên quan đến chính trị được đề cập trong nhiệm kỳ của họ đã được thừa nhận là cao”. Nhờ áp dụng hiệu quả phương thức này, hiện nay, Thụy Sĩ được đánh giá là một trong những quốc gia ít tham nhũng nhất trong các nước thuộc liên minh Châu Âu và thế giới.

Thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự: Đây là một trong những biện pháp được ghi nhận tại Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 (UNCAC), tại Điều 53 (a) “Yêu cầu các quốc gia thành viên căn cứ vào pháp luật quốc gia, thực hiện các biện pháp cần thiết cho phép một quốc gia thành viên khác khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nước mình để xác lập quyền hay quyền sở hữu đối với tài sản có được thông qua hành vi phạm tội được thiết lập theo Công ước này”. Theo đó, chủ thể bị thiệt hại từ hành vi tham nhũng (thể nhân, pháp nhân hoặc Nhà nước), thông qua một vụ kiện dân sự tại Tòa án trong nước hoặc nước ngoài để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản được cho là do phạm tội mà có (đòi lại tài sản) và/hoặc kiện đòi bồi thường thiệt hại, đền bù. Biện pháp thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự dựa trên nguyên tắc là có thiệt hại thực tế thì nguyên đơn có quyền yêu cầu bồi thường, là biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật gây ra.

Phương pháp này thường được sử dụng vì nhiều lý do khác nhau, như: Không có khả năng thu hồi tài sản thông qua hình thức kết án, không thể thu hồi tài sản thông qua biện pháp thu hồi không kết án, hoặc không thể sử dụng tương trợ tư pháp để thi hành lệnh tịch thu. Biện pháp này có yêu cầu về chứng cứ tại các phiên toà dân sự thấp hơn so với tố tụng hình sự. Ngoài ra, nó cho phép các chủ sở hữu tài sản ngay tình được khởi kiện bên thứ ba để yêu cầu thứ ba bồi thường thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra.

Một ưu điểm nữa của biện pháp này là diễn ra trong trường hợp không có bị cáo và vụ việc sẽ được xét xử trên một tiêu chuẩn yêu cầu chứng minh thấp hơn. Nhờ vậy khả năng thu hồi tài sản tham nhũng cao hơn, ít tốn kém chi phí hơn và thu hồi ngay cả trong trường hợp không đủ bằng chứng để chứng minh hành vi tham nhũng. Ngoài ra, thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự có thể được áp dụng trong trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện đối với người thừa kế các quyền và nghĩa vụ do người chết để lại để đòi tài sản bị tham nhũng trong giới hạn di sản của người đã chết để lại. Trong quá trình diễn ra vụ kiện, nguyên đơn đưa ra các bằng chứng để chứng minh tài sản có được hoặc có liên quan đến hành vi tham nhũng, trong đó nguyên đơn có thể dựa vào kết luận của các cơ quan tố tụng về hành vi tham nhũng và tài sản liên quan làm căn cứ cho yêu cầu của mình. Còn bị đơn là những người thừa kế của người đã chết, có nghĩa vụ phải chứng minh được nguồn gốc của tài sản người chết để lại là hợp pháp, trường hợp bị đơn không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của tài sản thì Tòa án sẽ suy đoán tài sản đó có nguồn gốc bất hợp pháp và tuyên thu hồi để trả lại cho nguyên đơn.

Trường hợp của cựu Tổng thống Zambia Chiluba là một ví dụ điển hình về việc thu hồi tài sản tham nhũng thông qua thủ tục dân sự đối với tài sản mà ông Chiluba và cộng sự có được từ hành vi tham ô theo Điều 17 của UNCAC[6].

Kinh nghiệm cho Việt Nam

Bất cập trong quy định của pháp luật về chống tham nhũng

Hiện nay, công tác phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử hành vi tham nhũng cũng như việc thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện dựa trên các quy định  của Luật phòng chống tham nhũng năm 2018; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về thu hồi tài sản tham nhũng, tại Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước”. Có thể thấy, hiện nay việc thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam đang thực hiện dựa vào thủ tục tố tụng hình sự. Đó là những biện pháp điều tra cũng như trình tự thủ tục giải quyết vụ án hình sự.

Ngoài ra, BLDS năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định gián tiếp việc thu hồi tài sản tham nhũng thông qua trình tự thủ tục khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền sở hữu và bồi thường dân sự. Cụ thể, theo Điều 164 BLDS năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Hay Điều 166 BLDS quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Hoặc quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 170 BLDS năm 2015: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại”. Để thực hiện quyền do pháp luật quy định thì cơ quan, tổ chức nơi người có hành vi tham nhũng công tác có thể tiến hành thủ tục khởi kiện theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, thông qua đó, thu hồi tài sản đã bị người có hành vi tham nhũng chiếm đoạt.

Ở nước ta, hoạt động điều tra các vụ án tham nhũng được thực hiện theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành, đây là thủ tục để điều tra vụ án hình sự, mục đích là tập trung làm rõ việc có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội… (Điều 85).

Như vậy, hiện nay chưa có văn bản pháp luật quy định riêng, hướng dẫn về trình tự, thủ tục trong việc phát hiện, xử lý và thu hồi tài sản tham nhũng, như: Trình tự, thủ tục điều tra dựa trên việc truy vết, lần theo chuyển động của tài sản bất hợp pháp như các trường hợp tài sản, thu nhập nhưng không chứng minh được nguồn gốc; xác minh tài sản bị nghi ngờ là bất hợp pháp, truy tìm tài sản; sử dụng các biện pháp tạm thời như phong toả, thu giữ tài sản; thực hiện các biện pháp tịch thu tài sản.

Về cơ bản, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 và văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định khá chi tiết, cụ thể về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, nội dung của Luật này lại không có quy định buộc những người thuộc diện kê khai tài sản phải chứng minh nguồn gốc khi có tài sản tăng lên bất thường. Cũng như chưa có cơ chế xử lý đối với trường hợp người có nghĩa vụ kê khai tài sản có tài sản tăng lên bất thường nhưng không chứng minh được nguồn gốc và cơ quan chức năng không có đủ bằng chứng để chứng minh người đó đã thực hiện hành vi tham nhũng.

Ngoài ra, đối với phương thức thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự thì mặc dù được quy định tại khoản 4 Điều 18 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuy nhiên, điều luật mới chỉ quy định về thẩm quyền khởi kiện các vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước khi bị các hành vi tham nhũng xâm phạm; trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; cũng như việc giải quyết các tranh chấp về tài sản nói chung, trong đó có tài sản tham nhũng, nhằm trả lại tài sản về cho chủ sở hữu hợp pháp, chưa có quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức được giao quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong việc khởi kiện vụ án dân sự để đòi lại những tài sản được Nhà nước giao cho đơn vị nhưng bị xâm phạm, chiếm đoạt bởi hành vi tham nhũng.

Có thể nói, tình hình tham nhũng tại Việt Nam nói riêng, trên thế giới nói chung ngày càng có diễn biến phức tạp với những thủ đoạn tinh vi, dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi tài sản bị thất thoát do hành vi tham nhũng. Tỉ lệ tài sản được thu hồi từ các vụ án tham nhũng còn thấp so với số tài sản thực tế bị chiếm đoạt. Người tham nhũng có xu hướng che giấu, tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng, đặc biệt là tẩu tán tài sản ra nước ngoài dẫn đến khó khăn cho việc truy vết và thu hồi tài sản.

Đề xuất, kiến nghị

Từ những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng như sau:

Thứ nhất, có hướng dẫn cụ thể hoặc bổ sung quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về trình tự, thủ tục điều tra tài chính, đặc biệt là đối với việc điều tra hành vi tham nhũng, từ giai đoạn xác minh tài sản bị nghi ngờ; truy tìm tài sản; sử dụng các biện pháp tạm thời như phong toả, thu giữ khi thích hợp để tránh tẩu tán tài sản; thực hiện các biện pháp tịch thu tài sản; chứng minh hành vi tham nhũng.

Thứ hai, cần sử dụng tổng hợp và linh hoạt các biện pháp khác nhau (Thu hồi tài sản thông qua hình thức kết án; thu hồi tài sản không qua hình thức kết tội; thu hồi tài sản thông qua thủ tục hành chính; thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự) để thu hồi tài sản tham nhũng, căn cứ ưu điểm và nhược điểm của từng biện pháp, nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản tham nhũng, từ đó nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Thứ ba, cần tăng cường áp dụng biện pháp thu hồi tài sản thông qua thủ tục hành chính bằng việc bổ sung quy định tại Mục 6 Chương 2 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 nội dung: “Những người có tài sản tăng lên bất thường và bị tình nghi có hành vi tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng phải chứng minh nguồn gốc tài sản”. Bổ sung thủ tục về việc tịch thu tài sản trong trường hợp người có tài sản tăng lên bất thường và bị tình nghi có hành vi tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng không chứng minh được nguồn gốc tài sản.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được giao quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong việc khởi kiện vụ án dân sự để đòi lại những tài sản thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức./. 

 

Theo Kiemsat.vn

 

Thụy Sĩ là ví dụ điển hình về việc sử dụng biện pháp thu hồi tài sản bằng thủ tục hành chính.

Bình luận (0)

Ðiền thông tin gửi bình luận

Tên hiển thị: *
Ðịa chỉ email: *

Nội dung (trên 20 ký tự): *

* Bình luận của bạn sẽ được ban quản trị phê duyệt trong thời gian sớm nhất

Hủy