Ai phải chịu án phí trong vụ án Tòa án công nhận thỏa thuận của các đương sự?

TRƯƠNG THỊ THANH (VKSND huyện Lang Chánh, Thanh Hóa) - Theo quy định của pháp luật hiện hành, một trong những điều kiện để Tòa án thụ lý đơn khởi kiện là người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Tuy nhiên, trên thực tế khi giải quyết các vụ án dân sự, việc xác định ai là người có nghĩa vụ chịu án phí vẫn còn có vướng mắc.

27 tháng 02 năm 2020 14:38 GMT+7    3 Bình luận

Theo quy định của pháp luật hiện hành, một trong những điều kiện để Tòa án thụ lý đơn khởi kiện là người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Việc quy định  nộp tiền tạm ứng án phí là một trong những điều kiện để thụ lý đơn khởi kiện là hoàn toàn hợp lý, bởi người khởi kiện khi sử dụng dịch vụ của Cơ quan nhà nước phải trả phí là phù hợp. Tuy nhiên, trên thực tế khi giải quyết các vụ án dân sự, việc xác định ai là người có nghĩa vụ chịu án phí vẫn còn có vướng mắc, trong bài viết này tác giả nêu ra một tình huống như sau mong muốn cùng trao đổi với bạn đọc:

Ngày 18/4/2019 bà Hoàng Thị C khởi kiện yêu cầu TAND huyện L giải quyết buộc bà Lê Thị T phải trả cho bà C số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) mà bà T đã vay trước đó. Qúa trình giải quyết vụ án, các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trước khi mở phiên tòa. Về phần án phí, Tòa án huyện L xác định, bị đơn là người phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, bởi bị đơn thỏa thuận chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Nhưng bị đơn là đối tượng được miễn án phí theo quy định của pháp luật (người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án), nên Tòa án huyện L tuyên miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn Lê Thị T.

Qua nghiên cứu Quyết định có hai luồng quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tòa án xác định bị đơn chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp, bởi trong vụ án này toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn đã được bị đơn chấp nhận, bị đơn là bên thua kiện nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là đúng với quy định tại khoản 2, Điều 26, Nghị quyết số 326 của UBTVQH quy định về nghĩa vụ chịu án phí “ 2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Việc Tòa án xác định bị đơn chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án đã nêu là không phù hợp, bởi  theo quy định tại khoản 7, Điều 26 Nghị quyết số 326 của UBNVQH quy định trường hợp Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch. Theo đó trong trường hợp này, nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu một nửa tiền án phí. Vì vậy, việc Tòa án quyết định miễn toàn bộ án phí cho bị đơn, không yêu cầu nguyên đơn nộp tiền án phí là vi phạm quy định của pháp luật về án phí, làm thất thoát tài sản của Nhà nước.

Từ hai quan điểm đã nêu, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai khi xác định mỗi bên đương sự phải chịu một nửa tiền án phí trong vụ án mà các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án trước khi mở phiên tòa (trừ trường hợp các bên đương sự có sự thỏa thuận khác về án phí). Quan điểm thứ nhất cho rằng, vì bị đơn thỏa thuận chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn là bên “thua kiện” nên phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm, quan điểm này là không hợp lý bởi vụ án này chưa được giải quyết bằng việc mở phiên tòa, việc Tòa án ra quyết định là để ghi nhận ý chí thỏa thuận của các đương sự, Tòa án chưa đưa ra bất cứ đường lối giải quyết vụ án nào nên không thể coi đây là trường hợp Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Do đó, để có cái nhìn thống nhất về trường hợp này, chúng tôi kiến nghị sửa đổi khoản 7, Điều 26, Nghị quyết số 326 của UBTVQH là bổ sung thêm cụm từ Mức án phí được chia đều cho các bên, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Sau khi sửa đổi điều luật có nội dung như sau: Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch. Mức án phí được chia đều cho các bên, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

TAND quận 10 TPHCM xét xử vụ án dân sự – Ảnh minh họa của Mai Phong

Bình luận (3)
  1. Khi các bên đs thoả thuận với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án trước khi mở phiên toà thì phải chịu 50% án phí và chia đều cho hai bên. Trường hợp thoả thuận để bị đơn nộp toàn bộ tiền án phí sơ thẩm cũng không sai luật. Nếu bị đơn thuộc diện được miễn án phí thì chỉ được miễn 50% của mình, 50% còn lại thì không được miễn

    Lê trung kiên 21:40 27/02.2020 GMT+7 Trả lời

  2. Quan điểm thứ nhất là quan điểm chưa đọc đến khoản 7, điều 26 Nghị quyết 326. Còn quan điểm thứ 2 trong bài là chưa xét trường hợp đương sự “tự nguyện” nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.Quyết định công nhận sự thỏa thuận là việc Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với nguyên tắc trong TTDS là “tôn trọng sự tự định đoạt của đương sự” và điểm cốt lõi của dân sự là việc dân sự cốt ở đôi bên. Nên Chỉ xét tới trường hợp các đương sự thuộc diện được miễn án phí để tránh thất thoát cho Nhà nước thì nên bổ sung miễn 50% của người có nghĩa vụ phải nộp, 50% còn lại thì không được miễn.

    Nguyễn Thị Linh 08:37 28/02.2020 GMT+7 Trả lời

  3. Vấn đề này tại Nghị Quyết 326 đã nêu rõ rồi mà. Nếu người được miễn án phí tự nguyện nộp thay phần án phí của đương sự khác thì chỉ được miễn phần án phí của bản thân người được miễn còn phần nhận nộp thay vẫn phải chịuKhoản 3 Điều 12 của Nghị Quyết “3. Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định, của Nghị quyết này. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp”

    Hiệp 15:35 23/03.2020 GMT+7 Trả lời