Chị Ng không phải là nguyên đơn dân sự

ĐINH THỊ NGỌC BÍCH (Tòa án quân sự Quân khu 4) - Sau khi đọc bài viết “Vướng mắc trong việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự” của tác giả Thanh Thủy đăng trên Tạp chí Tòa án điện tử ngày 5/10/2020, tôi cho rằng chị Ng không thể tham gia vụ án trên với tư cách là nguyên đơn dân sự.

08 tháng 10 năm 2020 08:56 GMT+7    1 Bình luận

Theo bài viết, Th và T bị truy tố về tội cố ý gây thương tích trong trường hợp dẫn đến chết người tại điểm a khoản 4 điều 134 BLHS, bị hại là anh H đã chết, Th và T đã bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại là bà H (mẹ anh H). Trong quá trình điều tra phát hiện anh H sống với chị Ng có con chung là Th (sinh năm 2017) nhưng không có giấy đăng ký kết hôn, trên bản khai sinh của con không có tên cha, chỉ có giấy xác nhận của tổ dân phố cháu Th là con của bị hại và chị Ng. Chị Ng yêu cầu anh Th và T bồi thường tiền tổn thất tinh thần, tiền cấp dưỡng cho cháu Th theo quy định pháp luật.

Như vậy, để giải quyết vướng mắc này cần phải xác định chị Ng có phải là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự này hay không?

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Theo các căn cứ pháp lý trên, chị Ng và anh H chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng. Việc có giấy xác nhận của tổ dân phố cháu Th là con của bị hại và chị Ng chỉ là căn cứ xác định chị Ng và anh H chung sống với nhau như vợ chồng chứ không có giá trị pháp lý để công nhận anh H, chị Ng là vợ chồng hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Khi mối quan hệ vợ chồng của chị Ng và anh H không được pháp luật công nhận thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng nên chị Ng không thể tham gia vụ án trên với tư cách là nguyên đơn dân sự.

Như vậy, trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật, chị Ng không có quyền yêu cầu anh Th và anh T bồi thường tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng cho cháu Th.

Trên đây là ý kiến của tác giả kinh mong đóng góp từ các độc giả khác./.

Ảnh minh họa – Nguồn Internet

Bình luận (1)
  1. Xin trao đổi cùng tác giả về chi tiết: “Việc có giấy xác nhận của tổ dân phố cháu Th là con của bị hại và chị Ng chỉ là căn cứ xác định chị Ng và anh H chung sống với nhau như vợ chồng” rằng: trên thực tế đối với hành vi chung sống với nhau như vợ chồng thì lại không xem xác nhận của tổ dân phố là căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính. Vậy cơ sở pháp lý cho chi tiết này là từ đâu ạ?

    thuyminh234 09:23 08/10.2020 GMT+7 Trả lời