Bàn thêm về quyền yêu cầu thanh toán tiền lãi do chậm thi hành án dân sự trong trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật không tuyên khoản lãi này

Qua nghiên cứu bài viết “Bà A có quyền khởi kiện đối với việc tính tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự không?” đăng ngày 17/6/2026; chúng tôi cho rằng Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện của bà A theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn đương sự đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục trao đổi.

1. Tóm tắt vụ việc và các quan điểm được nêu trong bài viết

Theo nội dung bài viết, tại Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2015/DS-PT đã có hiệu lực pháp luật, ông B có nghĩa vụ thanh toán cho bà A số tiền 466.950.000 đồng. Bản án không tuyên về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và bà A có đơn yêu cầu thi hành án, ông B không thực hiện ngay nghĩa vụ trả tiền mà kéo dài nhiều năm mới thi hành xong. Cho rằng việc chậm thi hành án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà A khởi kiện yêu cầu ông B thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trong thời gian chậm thi hành án.

Đối với trường hợp này, bài viết nêu hai quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Tòa án phải thụ lý giải quyết vụ án.

Quan điểm thứ hai cho rằng, Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 để trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp này vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục trao đổi.

2. Việc xác định đây là “sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật” cần tiếp tục nghiên cứu thêm

Theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015, Tòa án trả lại đơn khởi kiện nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối chiếu với tình huống được nêu trong bài viết, Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2015/DS-PT đã có hiệu lực pháp luật xác định ông B có nghĩa vụ thanh toán cho bà A số tiền 466.950.000 đồng. Tuy nhiên, bản án không tuyên về khoản lãi do chậm thi hành án.

Theo nhóm tác giả, yêu cầu của bà A về việc thanh toán tiền lãi chậm thi hành án có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ trả tiền đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật nên thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.

Chúng tôi cho rằng, nhận định này vẫn còn những điểm cần trao đổi thêm.

Điều 357 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 quy định mức lãi suất được áp dụng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận.

Từ các quy định trên có thể thấy, nghĩa vụ trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được pháp luật ghi nhận như một hậu quả pháp lý của việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Việc Tòa án tuyên hay không tuyên về khoản lãi này trong bản án không làm thay đổi bản chất pháp lý của trách nhiệm do chậm trả tiền theo quy định của BLDS.

Trong vụ việc này, nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc được xác định bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ làm phát sinh yêu cầu về khoản lãi mà bà A yêu cầu lại là việc ông B không thực hiện nghĩa vụ trả tiền sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật và sau khi có yêu cầu thi hành án.

Nói cách khác, sự kiện pháp lý làm phát sinh yêu cầu tính lãi không phải là việc Tòa án tuyên buộc ông B trả tiền mà là hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong giai đoạn thi hành án.

Đây là tình tiết phát sinh sau thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật và chưa được xem xét trực tiếp trong quá trình giải quyết vụ án trước đó. Theo chúng tôi, để xác định có thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 hay không, cần làm rõ phạm vi giải quyết của bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với yêu cầu mà đương sự đang đặt ra. Trong vụ việc này, bản án phúc thẩm đã xác định nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc; trong khi đó, yêu cầu mà bà A đưa ra lại xuất phát từ việc cho rằng ông B đã chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Do đó, việc xác định yêu cầu của bà A có thuộc trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật” theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 hay không vẫn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

Mặt khác, nhóm tác giả cho rằng do Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2015/DS-PT không tuyên khoản tiền lãi do chậm thi hành án nên đây là thiếu sót của bản án và người được thi hành án cần thực hiện quyền tố tụng đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật. Theo chúng tôi, lập luận này cần được xem xét thêm.

Khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định khi giải quyết vụ án có nghĩa vụ trả tiền thì Tòa án phải tuyên nghĩa vụ chịu khoản tiền lãi do chậm thi hành án kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong.

Quy định này thể hiện trách nhiệm của Tòa án trong việc tuyên án đầy đủ đối với các trường hợp có nghĩa vụ trả tiền. Tuy nhiên, việc bản án không tuyên nội dung về lãi chậm thi hành án không đồng nghĩa với việc khoản lãi này đã được xem xét, giải quyết trong bản án hoặc đương nhiên làm phát sinh căn cứ áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.

Bởi lẽ, đối tượng được giải quyết trong bản án là nghĩa vụ trả số tiền gốc giữa các bên. Trong khi đó, yêu cầu về lãi chậm thi hành án được đặt ra trên cơ sở việc bên phải thi hành án không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả tiền sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Nói cách khác, việc bản án không tuyên khoản lãi chậm thi hành án có thể đặt ra vấn đề về tính đầy đủ của bản án hoặc việc áp dụng pháp luật khi xét xử, nhưng đó là vấn đề khác với việc xác định yêu cầu khởi kiện của bà A có thuộc trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật” hay không. Theo chúng tôi, không nên đồng nhất hai vấn đề này với nhau để làm căn cứ trả lại đơn khởi kiện.

Do đó, việc bản án không tuyên về khoản lãi chậm thi hành án tự thân chưa phải là căn cứ để xác định yêu cầu của bà A thuộc trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật” theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015. Muốn áp dụng quy định này cần làm rõ phạm vi giải quyết của bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với yêu cầu mà bà A đang đặt ra, cũng như xác định liệu yêu cầu đó đã được xem xét, giải quyết hay chưa trong quá trình giải quyết vụ án trước đây.

3. Thủ tục giám đốc thẩm là hướng xử lý đã được ghi nhận trong thực tiễn nhưng cơ sở áp dụng vẫn cần được làm rõ

Nhóm tác giả cho rằng, việc Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2015/DS-PT không tuyên khoản tiền lãi do chậm thi hành án là thiếu sót của bản án, từ đó người được thi hành án cần thực hiện quyền tố tụng đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo chúng tôi, quan điểm này cần được xem xét thận trọng.

Khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định khi giải quyết vụ án có nghĩa vụ trả tiền thì Tòa án phải tuyên nghĩa vụ chịu khoản tiền lãi do chậm thi hành án kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong. Quy định này nhằm bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án được tuyên đầy đủ, tạo thuận lợi cho quá trình thi hành án sau này.

Theo Điều 326 BLTTDS năm 2015, giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt được áp dụng để xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có căn cứ xác định bản án, quyết định đó có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc thuộc các trường hợp luật định. Việc xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền kháng nghị và phải dựa trên các căn cứ được pháp luật quy định.

Do đó, việc bản án không tuyên khoản lãi chậm thi hành án có phải là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm hay không cần được xem xét trong từng trường hợp cụ thể. Pháp luật hiện hành không có quy định nào xác định rằng cứ bản án không tuyên khoản lãi chậm thi hành án thì đương nhiên phải được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc người được thi hành án bắt buộc phải lựa chọn con đường tố tụng này.

Mặt khác, việc một đương sự có quyền đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm không đồng nghĩa với việc đây là phương thức pháp lý duy nhất để giải quyết mọi vấn đề phát sinh liên quan đến bản án đó. Pháp luật hiện hành chưa có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về cơ chế xử lý đối với trường hợp người được thi hành án yêu cầu thanh toán khoản lãi do chậm thi hành án trong khi bản án đã có hiệu lực pháp luật không tuyên nội dung này. Trong trường hợp này, việc xác định cơ chế bảo vệ quyền lợi của đương sự cần được xem xét trên cơ sở bản chất pháp lý của yêu cầu, phạm vi giải quyết của bản án đã có hiệu lực pháp luật và các quy định có liên quan của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự.

Theo chúng tôi, việc bản án không tuyên khoản lãi chậm thi hành án có thể đặt ra vấn đề về tính đầy đủ của bản án hoặc việc áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử. Tuy nhiên, điều đó chưa đủ để khẳng định người được thi hành án chỉ có thể bảo vệ quyền lợi của mình thông qua thủ tục giám đốc thẩm. Trong khi chưa có hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền, việc coi giám đốc thẩm là cơ chế xử lý duy nhất đối với mọi trường hợp tương tự vẫn là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu và hướng dẫn thống nhất.

Thực tiễn xét xử cũng cho thấy, đã có trường hợp bản án được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm do không tuyên khoản lãi chậm thi hành án theo quy định của pháp luật. Điển hình, tại Quyết định giám đốc thẩm số 95/2023/DS-GĐT ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng giám đốc thẩm đã sửa bản án đối với phần quyết định liên quan đến nghĩa vụ chịu lãi do chậm thi hành án.

Theo chúng tôi, thực tiễn nêu trên cho thấy thủ tục giám đốc thẩm là một trong những cơ chế pháp lý đã được áp dụng để khắc phục thiếu sót của bản án trong trường hợp không tuyên khoản lãi chậm thi hành án theo khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP. Tuy nhiên, việc tồn tại một phương thức xử lý trong thực tiễn không đồng nghĩa với việc có thể khẳng định đây là cơ chế xử lý duy nhất đối với mọi trường hợp tương tự.

Bởi lẽ, vấn đề đặt ra trong vụ việc này không chỉ là việc bản án có thiếu sót khi không tuyên khoản lãi chậm thi hành án hay không, mà còn là cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án khi khoản lãi phát sinh trên thực tế nhưng chưa được xác định trong bản án đã có hiệu lực pháp luật. Trong khi đó, pháp luật hiện hành chưa có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về việc xử lý yêu cầu của người được thi hành án trong trường hợp này.

4. Bình luận và kiến nghị

Qua nghiên cứu vụ việc, chúng tôi không hoàn toàn đồng tình với cả hai quan điểm nêu trên.

Đối với quan điểm thứ nhất, việc coi yêu cầu thanh toán khoản lãi do chậm thi hành án là một quan hệ tranh chấp hoàn toàn độc lập để từ đó thụ lý giải quyết bằng một vụ án mới chưa thật sự phù hợp với bản chất của khoản lãi này. Khoản lãi được yêu cầu phát sinh từ nghĩa vụ trả tiền đã được xác định trong bản án có hiệu lực pháp luật và có mối liên hệ trực tiếp với nội dung của bản án đó.

Đối với quan điểm thứ hai, mặc dù việc xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm là hướng xử lý đã được ghi nhận trong thực tiễn xét xử, nhưng việc áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 làm căn cứ để khẳng định yêu cầu của người được thi hành án thuộc trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật” vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

Trong điều kiện pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử hiện nay, chúng tôi cho rằng hướng xử lý phù hợp hơn là xem xét khắc phục thiếu sót của bản án theo thủ tục giám đốc thẩm nhằm bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.

Tuy nhiên, việc lựa chọn hướng xử lý này không nên được hiểu là hệ quả tất yếu của việc áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 mà cần được nhìn nhận từ góc độ bảo đảm tính đầy đủ của bản án đã có hiệu lực pháp luật và yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Từ thực tiễn nêu trên cho thấy, vướng mắc pháp lý trong vụ việc này không chỉ nằm ở việc chưa có hướng dẫn thống nhất về áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 mà còn nằm ở việc pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ cơ chế xử lý đối với khoản lãi chậm thi hành án trong trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không tuyên nội dung này.

Hiện nay, BLDS năm 2015 đã quy định căn cứ phát sinh nghĩa vụ trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP cũng đã hướng dẫn Tòa án tuyên khoản lãi chậm thi hành án trong bản án, quyết định. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự chưa có quy định cụ thể về việc cơ quan thi hành án dân sự có được xác định và tổ chức thi hành khoản lãi chậm thi hành án trong trường hợp bản án không tuyên khoản tiền này hay không.

Chính khoảng trống pháp lý nêu trên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn. Bên cạnh hướng xem xét khắc phục thiếu sót của bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, còn có quan điểm cho rằng, người được thi hành án có quyền khởi kiện vụ án dân sự mới hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đối với khoản lãi phát sinh. Tuy nhiên, mỗi cách tiếp cận đều gặp những khó khăn nhất định do chưa có quy định hoặc hướng dẫn thống nhất.

Khoản 2 Điều 14 BLDS năm 2015 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Mặc dù quy định này không phải là căn cứ trực tiếp để xác định yêu cầu của bà A có thuộc trường hợp được thụ lý hay không, nhưng thể hiện nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận công lý và quyền được bảo vệ bằng pháp luật của cá nhân, tổ chức.

Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật và khắc phục những vướng mắc đang tồn tại trong thực tiễn, theo chúng tôi, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật và ban hành hướng dẫn đối với một số nội dung sau:

Thứ nhất, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP theo hướng bổ sung quy định xử lý hậu quả pháp lý trong trường hợp bản án, quyết định không tuyên khoản lãi chậm thi hành án; đồng thời nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn nhằm làm rõ cơ chế xử lý đối với trường hợp này. Theo đó, cần xác định rõ việc bản án không tuyên khoản lãi chậm thi hành án có làm mất quyền yêu cầu của người được thi hành án hay không; đồng thời hướng dẫn cụ thể phương thức bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án đối với khoản lãi phát sinh theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.

Thứ hai, cần nghiên cứu ban hành Nghị quyết hướng dẫn hoặc phát triển án lệ đối với các trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật không tuyên khoản lãi chậm thi hành án nhưng sau đó phát sinh yêu cầu của người được thi hành án. Việc có hướng dẫn thống nhất sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để Tòa án xác định phạm vi áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015, đồng thời hạn chế tình trạng cùng một vụ việc nhưng có nhiều cách hiểu và cách xử lý khác nhau trong thực tiễn.

Thứ ba, trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, cần nghiên cứu bổ sung quy định về cơ chế xử lý đối với khoản lãi chậm thi hành án trong trường hợp bản án, quyết định đã xác định nghĩa vụ trả tiền nhưng không tuyên khoản lãi chậm thi hành án.

Theo đó, cần bổ sung đồng bộ các quy định về quyền của người được thi hành án và thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự đối với khoản lãi chậm thi hành án phát sinh sau khi có yêu cầu thi hành án. Người được thi hành án cần được ghi nhận quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác định và tổ chức thi hành khoản lãi chậm trả theo quy định của BLDS; đồng thời Chấp hành viên cần được trao thẩm quyền xác định khoản lãi phải thi hành theo quy định của BLDS trong trường hợp bản án, quyết định đã xác định nghĩa vụ trả tiền nhưng không tuyên nội dung này, trên cơ sở yêu cầu của người được thi hành án và không làm thay đổi nội dung nghĩa vụ trả tiền đã được xác định trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Bên cạnh đó, pháp luật cần quy định cụ thể căn cứ xác định thời điểm tính lãi, mức lãi suất áp dụng, trình tự xác định khoản lãi phải thi hành và cơ chế giải quyết khi phát sinh khiếu nại, tranh chấp liên quan đến việc xác định khoản lãi chậm thi hành án.

Việc hoàn thiện các quy định nêu trên sẽ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, đồng thời hạn chế việc phát sinh các thủ tục tố tụng mới chỉ nhằm xác định khoản lãi chậm thi hành án.

Thứ tư, cần làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục giám đốc thẩm, quyền khởi kiện của đương sự và thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự trong việc xử lý khoản lãi chậm thi hành án khi bản án không tuyên nội dung này. Đồng thời, cần hướng dẫn cụ thể trường hợp nào thuộc phạm vi áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 và trường hợp nào không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này.

Việc hoàn thiện các quy định nêu trên không chỉ góp phần bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất mà còn tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, hạn chế việc phát sinh các thủ tục tố tụng không cần thiết và nâng cao hiệu quả của hoạt động thi hành án dân sự.

Từ những phân tích trên có thể thấy việc bản án không tuyên khoản lãi chậm thi hành án là thiếu sót cần được xem xét khắc phục nhằm bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.

Thực tiễn xét xử đã ghi nhận việc xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm là một hướng xử lý nhằm khắc phục thiếu sót trong trường hợp bản án không tuyên khoản lãi chậm thi hành án. Vì vậy, trong điều kiện pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử hiện nay, chúng tôi cho rằng việc xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm là hướng xử lý phù hợp hơn cả.

Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc có thể đương nhiên xác định yêu cầu của người được thi hành án thuộc trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật” theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.

Theo chúng tôi, vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu và hướng dẫn thống nhất không phải là sự tồn tại của thủ tục giám đốc thẩm mà là cơ sở pháp lý để xác định phạm vi áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 cũng như cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án trong trường hợp bản án không tuyên khoản lãi chậm thi hành án.

Do đó, bên cạnh việc ghi nhận thủ tục giám đốc thẩm là hướng xử lý phù hợp hơn trong điều kiện hiện nay, rất cần có sự hướng dẫn thống nhất của cơ quan có thẩm quyền nhằm làm rõ cơ chế xử lý đối với các trường hợp tương tự, góp phần bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất trong thực tiễn.

Trên đây là quan điểm của chúng tôi, rất mong có thêm nhiều ý kiến của các đồng nghiệp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

VI NHẬT HOÀNG (Thẩm phán TAND khu vực 4 - Khánh Hòa) - NGUYỄN VÕ THU THỦY (Thư ký TAND khu vực 1 - Khánh Hòa)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

3. Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

5. Quyết định giám đốc thẩm số 95/2023/DS-GĐT ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

TAND khu vực 2 - Lai Châu xét xử vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Nguồn: baolaichau.