Bàn về tội mua bán người từ thực tiễn xét xử: Khoảng cách giữa luật chuyên ngành và Bộ luật Hình sự, một số kiến nghị hoàn thiện
Từ thực tiễn áp dụng quy định về tội mua bán người, bài viết chỉ ra khoảng cách pháp lý giữa cách mô tả hành vi khách quan của tội phạm này trong Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 với quy định tại Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn Điều 150, Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS). Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị: sửa đổi, bổ sung BLHS hiện hành và Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP theo hướng đồng bộ với Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024; hướng dẫn cụ thể ranh giới giữa tội mua bán người với tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm; nâng độ tuổi nạn nhân được bảo vệ đặc biệt tại Điều 151 BLHS từ dưới 16 lên dưới 18 tuổi cho tương thích với pháp luật quốc tế về quyền trẻ em; đề xuất phát triển bản án phúc thẩm nêu trên thành án lệ.
1. Đặt vấn đề
Trong thực tiễn xét xử, có những vụ án mà khó khăn lớn nhất không nằm ở việc xác định bị cáo có thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hay không, mà nằm ở chỗ hành vi ấy đã “đi trọn” các bước mà cấu thành tội phạm đòi hỏi hay chưa. Tội mua bán người quy định tại Điều 150 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 là một ví dụ điển hình. Từ thực tiễn áp dụng pháp luật về tội danh này trong những năm gần đây, qua nghiên cứu hai bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật, được sử dụng trong bài viết như hai ví dụ điển hình để so sánh, đánh giá, gồm: Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 (vụ Lò Thị S, sau đây gọi là Bản án số 1) và Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2026/HS-PT ngày 18/3/2026 (vụ Lê Thị Ánh S, Lê Thị G, sau đây gọi là Bản án số 2) tác giả nhận thấy một khoảng cách đáng lưu tâm giữa cách Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 mô tả hành vi khách quan của loại tội phạm này với quy định tại Điều 150 BLHS, được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, khi cùng tiếp cận một vấn đề.
(*) Các thông tin về Toà án xét xử, nơi cư trú của bị hại và tuyến đường di chuyển trong hai vụ án đã được mã hóa nhằm bảo đảm tính khách quan của một bài viết nghiên cứu khoa học pháp lý; nội dung được trình bày dưới đây phục vụ mục đích phân tích, so sánh về mặt pháp lý, không nhằm khảo sát tình hình tội phạm tại một địa bàn cụ thể.
Bài viết này được rút ra từ việc nghiên cứu hai vụ án cụ thể nêu trên, trong phạm vi kinh nghiệm thực tiễn xét xử của tác giả, chưa có điều kiện khảo sát trên diện rộng và chắc chắn còn nhiều hạn chế về mặt lý luận. Tác giả nêu vấn đề này với mong muốn được trao đổi, nhận sự quan tâm góp ý thêm của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và quý đồng nghiệp gần xa, để nội dung được nhìn nhận thấu đáo và toàn diện hơn.
2. Cơ sở pháp lý về hành vi khách quan của tội mua bán người: hai cách tiếp cận khác nhau
Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 (khoản 1 Điều 2), được xây dựng theo mô hình ba yếu tố hành vi, mục đích, thủ đoạn trên tinh thần Nghị định thư Palermo và Công ước ASEAN về phòng, chống mua bán người (ACTIP), liệt kê năm hành vi: tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao, tiếp nhận theo quan hệ song song, ngang hàng, nối với nhau bằng liên từ “hoặc”. Theo cách đọc này, chỉ cần thực hiện một trong năm hành vi, kèm mục đích bóc lột và thủ đoạn tương ứng, là đã đủ cấu thành hành vi mua bán người; tuyển mộ, vận chuyển hay chứa chấp tự thân đã là hành vi độc lập, không cần chờ đến khi có sự chuyển giao xảy ra. Đây là cách tiếp cận coi mua bán người là một quá trình bóc lột, chứ không phải một giao dịch đơn lẻ, phù hợp với thực tế tội phạm hiện đại vốn thường được tổ chức thành nhiều công đoạn, do nhiều nhóm đối tượng đảm nhận, không phải ai cũng trực tiếp tham gia vào khâu chuyển giao cuối cùng.
Trong khi đó, Điều 2 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP là văn bản duy nhất hiện đang được áp dụng để hướng dẫn Điều 150, Điều 151 BLHS lại cấu trúc hành vi khách quan theo trục “chuyển giao - tiếp nhận” làm hạt nhân. Năm hành vi không còn ngang hàng nhau: chuyển giao và tiếp nhận người là nhóm hành vi gốc, tự thân đủ yếu tố cấu thành tội phạm (các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 2); còn tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp chỉ được coi là hành vi phạm tội khi được thực hiện “để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này”, tức là để phục vụ cho việc chuyển giao (điểm đ khoản 1 Điều 2). Nói cách khác, theo hướng dẫn hiện hành, một người chỉ tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp nạn nhân mà chưa gắn với mục đích chuyển giao cho ai đó thì xét thuần túy về câu chữ, chưa đủ căn cứ để xử lý về tội mua bán người theo Điều 150 BLHS.
3. Thực tiễn áp dụng pháp luật qua hai bản án điển hình
Bản án số 1 (vụ Lò Thị S): Khoảng tháng 7/2019, Lò Thị S nhận lời một người đàn ông quốc tịch Trung Quốc (tên A L, chưa rõ lai lịch) tìm phụ nữ Việt Nam để đưa bán sang Trung Quốc làm vợ. S nhờ em trai là Lò Văn S1 dụ dỗ chị Hồ Thị T, người dân tộc thiểu số, trú tại một huyện miền núi, với lý do rủ đi bán quần áo, đưa chị T từ một tỉnh phía Nam ra một tỉnh miền núi phía Bắc. Tại đây, S cùng Hoàng Văn L trực tiếp đưa chị T qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch để giao cho A L, nhận về 15.000.000 đồng. Chị T bị A L bán tiếp cho một người đàn ông Trung Quốc, đến năm 2023 mới bỏ trốn và được giải cứu về nước. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, tuyên bố các bị cáo phạm tội “Mua bán người” theo điểm d khoản 2 Điều 150 BLHS (tình tiết “đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”), xử phạt Lò Thị S, Lò Văn S1, Hoàng Văn L các mức án tương ứng với vai trò đồng phạm.
Bản án số 2 (vụ Lê Thị Ánh S, Lê Thị G): Lê Thị Ánh S và Lê Thị G (hai chị em ruột) đăng tin trên Facebook cá nhân, tự giới thiệu đang làm việc tại Úc, tuyển người đi xuất khẩu lao động với mức lương cao, “hỗ trợ” 50% chi phí xuất cảnh. Nhiều phụ nữ tại địa phương đã chuyển tiền, làm thủ tục xuất cảnh nhưng thực tế lại bị đưa sang Cô-oét, bị thu giữ hộ chiếu, không được bố trí công việc như cam kết mà bị ép bán dâm để trừ khoản nợ chi phí xuất cảnh do hai bị cáo đặt ra. Một số bị hại, trong đó có chị Nguyễn Thị T, được Lê Thị G chuyển giao cho Lê Thị Ánh S quản lý để tiếp tục điều hành việc bán dâm. Xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân cấp tỉnh tuyên bố Lê Thị Ánh S, Lê Thị G phạm tội “Mua bán người” theo điểm d khoản 2 Điều 150 BLHS, xử phạt Lê Thị Ánh S 08 năm tù, Lê Thị G 07 năm tù.
Như vậy, từ hai ví dụ nêu trên có thể thấy, cùng bị xét xử về một tội danh và cùng bị áp dụng một tình tiết định khung, song hai bản án lại đại diện cho hai mô hình hành vi khách quan rất khác nhau, đặt ra hai mức độ khó khăn hoàn toàn khác nhau trong việc định tội danh, tác giả xin phân tích cụ thể dưới đây.
Ở Bản án số 1, toàn bộ chuỗi hành vi: tuyển mộ, vận chuyển, giao nhận tiền, đưa nạn nhân qua biên giới diễn ra liền mạch và có một thời điểm “chuyển giao” xác định rõ ràng: thời điểm S trực tiếp giao chị T cho A L và nhận tiền. Đây chính là mô hình giao dịch cổ điển mà pháp luật hình sự vẫn quen hình dung khi nói về tội mua bán người, nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 150 BLHS mà không phát sinh vướng mắc nào về định tội danh.
Bản án số 2 lại mang một diện mạo khác hẳn. Ở đây không có một thời điểm “chuyển giao” theo nghĩa thuần tuý, không có việc bán một người cho một người mua cụ thể để lấy tiền mặt trao tay, mà là một chuỗi hành vi kéo dài: tuyển mộ qua mạng xã hội, làm thủ tục xuất cảnh, bố trí chỗ ở, giữ giấy tờ tùy thân, tìm khách mua dâm, quản lý và trừ dần khoản nợ. Khi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã phải lập luận rằng việc Lê Thị G đưa bị hại Nguyễn Thị T “qua ở” với Lê Thị Ánh S để tiếp tục điều hành việc bán dâm chính là hành vi “chuyển giao, tiếp nhận” theo nghĩa của Điều 150 BLHS, đồng thời viện dẫn thêm Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP, Công ước quốc tế về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm năm 1949 và Nghị định thư Palermo năm 2000 để khẳng định rằng việc chuyển giao, tiếp nhận người nhằm tổ chức bán dâm cũng là một hình thức bóc lột tình dục.
4. Nhận diện khoảng cách pháp lý và hệ quả trong thực tiễn xét xử
Vấn đề đặt ra là, nếu chỉ đọc thuần túy câu chữ của văn bản hướng dẫn hiện hành, lập luận nói trên của Hội đồng xét xử không đến một cách tự nhiên, mà là kết quả của một quá trình “mở rộng” cách hiểu về hành vi “chuyển giao, tiếp nhận” để bao trùm được một mô hình bóc lột hoàn toàn khác với mô hình giao dịch mua bán cổ điển. Nguyên nhân sâu xa nằm ở việc hai văn bản pháp luật hiện hành đang mô tả hành vi khách quan của tội mua bán người theo hai cấu trúc khác nhau như đã phân tích tại Mục 2.
Sự khác biệt tưởng như thuần túy kỹ thuật lập pháp này lại có hệ quả rất thực tế trong công tác xét xử. Với những vụ án mang mô hình “giao dịch” cổ điển như Bản án số 1, có người bán, có người mua, có thời điểm và mức giá cụ thể, thì dù vận dụng theo cách hiểu nào của hai văn bản, kết quả định tội danh cũng không thay đổi. Nhưng với những vụ án mang mô hình “quá trình” như Bản án số 2, nơi các bị cáo không “bán” nạn nhân cho một người khác theo nghĩa thông thường, mà tự mình tổ chức khai thác, bóc lột nạn nhân qua một chuỗi hành vi kéo dài, việc định tội danh buộc phải vận dụng khá xa so với cách hiểu “chuyển giao, tiếp nhận” theo câu chữ của Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP. Trong vụ án nêu trên, có luồng quan điểm cho rằng, việc bị hại “chuyển chỗ ở” giữa hai bị cáo không phải là “chuyển giao” theo nghĩa của điều luật, và việc bị hại bán dâm là hoàn toàn tự nguyện nên không có dấu hiệu “bóc lột tình dục”; theo hướng đó, cần hủy án để điều tra lại theo hướng chuyển tội danh nhẹ hơn. Hội đồng xét xử đã phải viện dẫn thêm các điều ước quốc tế mà văn bản trong nước chưa quy định cụ thể để bác bỏ quan điểm này. Nếu không có sự vận dụng chặt chẽ, thấu đáo như vậy, hoàn toàn có khả năng một Hội đồng xét xử khác, ở một địa phương khác có thể sẽ đi đến kết luận khác đối với những tình tiết tương tự, điều này tiềm ẩn nguy cơ áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các Tòa án.
5. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Từ thực tiễn nêu trên, tác giả kiến nghị một số nội dung sau.
Thứ nhất, trước khi BLHS chưa được sửa đổi, bổ sung thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm nghiên cứu, ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP để hướng dẫn áp dụng Điều 150, Điều 151 BLHS theo hướng đồng bộ hóa hoàn toàn với cấu trúc ba yếu tố của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024. Cụ thể, cần khẳng định rõ rằng, hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác nhằm mục đích bóc lột, khi được thực hiện bằng một trong các thủ đoạn luật định, đã đủ cấu thành hành vi mua bán người một cách độc lập, không phụ thuộc vào việc hành vi chuyển giao, tiếp nhận đã hoàn thành hay chưa. Đây không phải là mở rộng phạm vi xử lý hình sự một cách tùy tiện, mà là điều chỉnh cách hiểu của văn bản dưới luật cho phù hợp với văn bản luật ban hành sau, đồng thời phù hợp hơn với bản chất của tội phạm mua bán người hiện đại, vốn ngày càng được tổ chức thành nhiều công đoạn, có sự phân công vai trò rõ ràng giữa các nhóm đối tượng.
Thứ hai, trong Nghị quyết thay thế, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về ranh giới giữa tội mua bán người với tội chứa mại dâm, tội môi giới mại dâm trong những trường hợp bị cáo đưa nạn nhân đến một địa điểm để tổ chức hoạt động bán dâm nhằm trừ nợ. Thực tiễn xét xử vụ án nêu trên cho thấy đây là nội dung dễ phát sinh quan điểm khác nhau nhất giữa bên buộc tội, bên bào chữa và Hội đồng xét xử, bởi ranh giới chủ yếu nằm ở yếu tố “sự đồng ý” của nạn nhân, một yếu tố rất khó chứng minh khi nạn nhân bị lệ thuộc bởi khoản nợ do chính bị cáo tạo ra, bị giữ giấy tờ tùy thân và không có khả năng tự quyết định ở một quốc gia xa lạ, bất đồng ngôn ngữ. Nghị quyết cần khẳng định rõ nguyên tắc: sự “đồng ý” bán dâm trong hoàn cảnh bị lệ thuộc nợ, bị cô lập về ngôn ngữ, địa lý và bị tước giữ giấy tờ tùy thân là sự đồng ý không có giá trị pháp lý loại trừ dấu hiệu bóc lột tình dục.
Thứ ba, cần nghiên cứu sửa đổi Điều 151 BLHS theo hướng nâng độ tuổi nạn nhân được bảo vệ đặc biệt từ “dưới 16 tuổi” lên “dưới 18 tuổi” để thống nhất với khái niệm trẻ em theo Nghị định thư Palermo và với chính Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024. Việc duy trì ngưỡng 16 tuổi trong BLHS khiến các trường hợp mua bán người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, nhóm vẫn còn hạn chế đáng kể về nhận thức, tâm lý và rất dễ bị dụ dỗ, chỉ được xử lý theo khung hình phạt áp dụng chung cho người trưởng thành tại Điều 150 BLHS, chưa thật sự tương xứng với chính sách hình sự đặc biệt bảo vệ trẻ em mà Nhà nước ta theo đuổi.
Thứ tư, Bản án số 2 có đầy đủ các tiêu chí quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để nghiên cứu, phát triển thành án lệ. Nội dung phán quyết đã giải quyết căn cơ vướng mắc pháp lý mang tính thời sự của tội Mua bán người khi có sự xung đột giữa luật chuyên ngành và Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử đã đưa ra lập luận vững chắc, làm rõ bản chất điều luật đối với mô hình bóc lột “quá trình”, định hình giải pháp pháp lý phù hợp với Nghị định thư Palermo năm 2000. Phán quyết này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm mà còn có giá trị tham khảo áp dụng thống nhất trong thực tiễn xét xử tội Mua bán người. Do đó, kính đề nghị Hội đồng thẩm định án lệ Tòa án nhân dân tối cao xem xét, lựa chọn bản án trên để phát triển thành án lệ.
6. Kết luận
Hai bản án nêu trên, dù cùng xử lý về tội mua bán người và cùng áp dụng một tình tiết định khung, lại phản ánh hai giai đoạn phát triển khác nhau của loại tội phạm này: từ hình thức giao dịch trực tiếp, đơn giản truyền thống đến hình thức tổ chức bóc lột kéo dài, mang tính quá trình và xuyên quốc gia. Pháp luật hình sự, nếu chỉ dừng lại ở mô hình giao dịch truyền thống mà Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP đang phản ánh, sẽ khó theo kịp diễn biến ngày càng đa dạng của loại tội phạm này. Việc sớm rà soát, sửa đổi văn bản hướng dẫn theo hướng đồng bộ với Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật lập pháp, mà còn là điều kiện cần thiết để bảo đảm việc định tội danh được thống nhất giữa các Tòa án, tránh bỏ lọt tội phạm và bảo vệ hiệu quả hơn quyền con người của những nạn nhân vốn đã chịu quá nhiều tổn thương.
Những nội dung trao đổi trên đây chỉ là những suy nghĩ bước đầu của tác giả, được rút ra từ hai vụ án cụ thể trong phạm vi thực tiễn xét xử còn hạn hẹp của một đơn vị Toà án địa phương, chắc chắn chưa thể bao quát hết mọi khía cạnh của vấn đề. Tác giả rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý xây dựng của các chuyên gia, các nhà khoa học pháp lý và quý đồng nghiệp để vấn đề tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện hơn trong thời gian tới.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), Điều 150, Điều 151.
2. Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024, Điều 2 (hiệu lực thi hành từ 01/7/2025).
3. Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150, Điều 151 Bộ luật Hình sự.
- Nghị định thư về việc phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Nghị định thư Palermo), năm 2000.
4. Công ước ASEAN về phòng, chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (ACTIP).
5. Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Bản án số 1; thông tin địa phương đã được mã hóa).
6. Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2026/HS-PT ngày 18/3/2026 của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Bản án số 2; thông tin địa phương đã được mã hóa).
TAND tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án "Mua bán người dưới 16 tuổi" - Ảnh: KC.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Chánh án TAND tối cao giao cụ thể tỷ lệ giải quyết, xét xử các loại án để Quốc hội giám sát
-
VKSNDTC đề nghị tiếp tục duy trì Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát
-
Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng
-
Cần thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật
-
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính - Những vấn đề lý luận nhìn từ thực tiễn xét xử
Bình luận