Bàn về vấn đề có loại trừ tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” khi cộng tổng giá trị tài sản để xác định khung hình phạt hay không?
Bài viết bàn về vấn đề có loại trừ tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” khi cộng tổng giá trị tài sản để xác định khung hình phạt hay không?
Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS) quy định “phạm tội 02 lần trở lên” là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, BLHS không quy định cụ thể thế nào là “phạm tội 02 lần trở lên”. Việc xác định nội hàm của tình tiết này được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của BLHS. Theo đó, khoản 7 Điều 4 Nghị quyết nêu trên quy định: “phạm tội 02 lần trở lên” được hiểu là trường hợp người phạm tội thực hiện từ 02 lần phạm tội trở lên đối với một tội phạm, mà mỗi lần phạm tội đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm; chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật đang đặt ra một vấn đề: trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều lần hành vi chiếm đoạt, mỗi lần đều độc lập đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội được cộng lại và chính tổng giá trị này được sử dụng để chuyển sang một khung hình phạt nghiêm khắc hơn, thì có tiếp tục áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS hay không?
Đối với vấn đề này, hiện nay đang có 02 quan điểm giải quyết khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: không áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, vì lý do:
Các lần phạm tội là cơ sở trực tiếp để hình thành tổng giá trị tài sản và tổng giá trị đó lại được sử dụng để xác định khung hình phạt, việc tiếp tục sử dụng chính số lần phạm tội ấy để áp dụng thêm tình tiết tăng nặng có nguy cơ dẫn đến sự trùng lặp trong đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi.
Ví dụ: A ba lần trộm cắp tài sản, lần thứ nhất 20.000.000 đồng, lần thứ hai 20.000.000 đồng và lần thứ ba 20.000.000 đồng. Nếu xét riêng từng lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Khi xử lý trong cùng một vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng xác định tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 60.000.000 đồng và sử dụng con số này để xác định khung hình phạt.
Trong trường hợp này, nếu không có lần thứ nhất, lần thứ hai và lần thứ ba thì không tồn tại tổng giá trị 60.000.000 đồng. Chính ba lần phạm tội là cơ sở tạo nên giá trị 60.000.000 đồng được sử dụng để chuyển khung hình phạt.
Như vậy, số lần phạm tội không phải là một dữ kiện hoàn toàn nằm ngoài tình tiết định khung về giá trị tài sản. Nó là cơ sở thực tế cấu thành nên đại lượng định lượng được sử dụng để xác định khung hình phạt.
Nếu sau đó lại sử dụng chính ba lần phạm tội này để áp dụng thêm tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, thì cần xem xét liệu người phạm tội có đang bị đánh giá bất lợi hai lần trên cùng một nền tảng thực tế hay không.
Điều cần quan tâm là một yếu tố thực tế đã được sử dụng bao nhiêu lần để làm tăng mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Trong ví dụ nêu trên, ba lần phạm tội có tổng giá trị 60.000.000 đồng. Tổng giá trị này là căn cứ để người phạm tội phải chịu một khung hình phạt cao hơn so với trường hợp chỉ tính riêng từng lần. Sau khi khung hình phạt đã được xác định ở mức cao hơn do tổng giá trị, nếu tiếp tục áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” thì chính số lần phạm tội đã được sử dụng thêm một lần nữa để làm bất lợi cho người phạm tội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS không phải là một yếu tố cấu thành tội phạm. Nó được sử dụng ở giai đoạn quyết định hình phạt nhằm phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi và người phạm tội. Do đó, việc xác định có cần tiếp tục sử dụng số lần phạm tội ở giai đoạn này hay không phải được xem xét trong mối quan hệ với những gì đã được sử dụng để xác định khung hình phạt.
Nói cách khác, không phải cứ hai yếu tố có tên gọi khác nhau thì việc áp dụng đồng thời luôn được coi là không trùng lặp. Phải xem xét chức năng của chúng trong toàn bộ quá trình xác định trách nhiệm hình sự.
Mặt khác, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP quy định cách xử lý trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết vừa là tình tiết định khung, vừa là tình tiết tăng nặng. Theo đó, trong những trường hợp nhất định, tình tiết định khung được áp dụng và các tình tiết còn lại không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặc dù quy định này về mặt câu chữ đề cập đến trường hợp “tình tiết vừa là tình tiết định khung, vừa là tình tiết tăng nặng”, nhưng mục đích của quy định cần được nhìn nhận trong bối cảnh chung là không để một yếu tố đã được sử dụng để xác định mức độ trách nhiệm hình sự trong khung hình phạt tiếp tục được sử dụng một cách máy móc để làm tăng trách nhiệm hình sự ở giai đoạn quyết định hình phạt. Nếu hiểu Điều 5 theo nghĩa hoàn toàn hình thức rằng chỉ khi “một tình tiết có cùng tên gọi” vừa là định khung vừa là tăng nặng thì mới cần loại trừ, còn nếu hai tình tiết có tên gọi khác nhau thì có thể sử dụng cùng một dữ kiện thực tế để làm tăng trách nhiệm hình sự hai lần, thì quy định này sẽ không giải quyết được đầy đủ vấn đề chống đánh giá trùng lặp. Do đó, trong trường hợp tổng giá trị tài sản được hình thành từ nhiều lần phạm tội và chính tổng giá trị này là căn cứ chuyển khung hình phạt thì việc tiếp tục sử dụng số lần phạm tội để áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 cần phải được kiểm soát chặt chẽ.
Theo cách hiểu này, Điều 5 không nhất thiết phải được xem là một quy định “trực tiếp” cấm áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 trong mọi trường hợp cộng tổng giá trị tài sản. Tuy nhiên, Điều 5 là một căn cứ quan trọng để khẳng định nguyên tắc không đánh giá trùng lặp các yếu tố làm tăng trách nhiệm hình sự.
Ví dụ tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP quy định trường hợp Nguyễn Văn A trong tháng 01/2025 ba lần lấy trộm xe máy, giá trị tài sản mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 60.000.000 đồng và chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì A bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Tuy nhiên, đây là ví dụ nhằm giải thích nội hàm của tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, chứ không phải một quy định độc lập về cách xử lý tất cả các trường hợp tổng hợp giá trị tài sản để xác định khung hình phạt.
Quan điểm thứ hai: áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, vì các lý do:
Thứ nhất, “tổng giá trị tài sản” và “phạm tội 02 lần trở lên” là hai vấn đề pháp lý khác nhau: Khi điều luật quy định một mức định lượng về giá trị tài sản để xác định khung hình phạt, điều cần xác định là tổng giá trị tài sản bị xâm phạm là bao nhiêu. Đây là một tiêu chí định lượng nhằm xác định mức độ hậu quả về tài sản của hành vi phạm tội. Trong khi đó, tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS nhằm đánh giá tính lặp lại của hành vi phạm tội, đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của người phạm tội. Người phạm tội không chỉ thực hiện một hành vi nhất thời mà đã thực hiện tội phạm từ hai lần trở lên trong những điều kiện luật định. Hai yếu tố này tuy cùng được xác định từ các hành vi phạm tội cụ thể nhưng không đồng nhất với nhau.
- Tổng giá trị tài sản trả lời câu hỏi: người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị bao nhiêu?
- “Phạm tội 02 lần trở lên” trả lời câu hỏi: người phạm tội đã thực hiện tội phạm bao nhiêu lần?
Việc trả lời hai câu hỏi khác nhau không thể chỉ vì chúng cùng xuất phát từ một chuỗi hành vi mà kết luận rằng chỉ được sử dụng một trong hai.
Nếu A ba lần chiếm đoạt tài sản, mỗi lần 20.000.000 đồng, thì con số 60.000.000 đồng phản ánh tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt; trong khi “03 lần” phản ánh mức độ lặp lại của hành vi phạm tội. Một đại lượng là giá trị, một đại lượng là số lần.
Vì vậy, việc sử dụng cả hai không phải đương nhiên là sử dụng một tình tiết hai lần.
Thứ hai, cùng một dữ kiện thực tế không có nghĩa là cùng một tình tiết pháp lý: trong pháp luật hình sự, một sự kiện thực tế có thể đồng thời là căn cứ để xác định nhiều tình tiết pháp lý khác nhau, nếu các tình tiết đó có nội dung và ý nghĩa pháp lý khác nhau.
Ví dụ, một hành vi phạm tội có thể đồng thời được xem xét về giá trị tài sản, phương thức thực hiện, địa điểm, thời gian, hậu quả, số người bị hại hoặc các yếu tố khác, tùy thuộc vào quy định của pháp luật. Việc các yếu tố này cùng xuất phát từ một hành vi không làm cho chúng trở thành một tình tiết duy nhất.
Điều quan trọng là phải xác định có hay không việc một tình tiết pháp lý cụ thể được sử dụng hai lần, chứ không phải có hay không việc một sự kiện thực tế được sử dụng để xác định nhiều tình tiết.
Trong trường hợp đang bàn luận: tình tiết định khung là giá trị tài sản; tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên. Hiện nay, không có quy định nào đồng nhất hai tình tiết này. Do đó, việc tổng giá trị tài sản được hình thành từ nhiều lần phạm tội không làm biến “phạm tội 02 lần trở lên” thành tình tiết định khung về giá trị tài sản.
Thứ ba, quy định tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP là căn cứ quan trọng để khẳng định có thể áp dụng đồng thời. Quy định này không chỉ xác định điều kiện để có “phạm tội 02 lần trở lên” mà còn đưa ra một ví dụ rất cụ thể: người phạm tội thực hiện 03 lần trộm cắp xe máy, mỗi lần tài sản đều trên 2.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 60.000.000 đồng, chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và được xác định là “phạm tội 02 lần trở lên”. Như vậy, trong ví dụ này, tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội đã được xác định là 60.000.000 đồng, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS và theo hướng dẫn của Nghị quyết thì được xác định là “phạm tội 02 lần trở lên”.
Theo ví dụ, người phạm tội thực hiện 03 lần hành vi trộm cắp xe máy, giá trị tài sản của mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 60.000.000 đồng và chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nghị quyết xác định trường hợp này thuộc tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Theo ví dụ này thì trường hợp có nhiều lần phạm tội; mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm; giá trị tài sản của các lần phạm tội được xác định và tổng hợp; đồng thời vẫn xác định tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Hội đồng Thẩm phán đã sử dụng ví dụ này để giải thích tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, tổng giá trị tài sản của ba lần phạm tội đã được xác định là 60.000.000 đồng, nhưng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” vẫn được áp dụng. Quy định tại khoản 7 Điều 4 cho thấy Hội đồng Thẩm phán đã phân biệt giữa việc xác định giá trị tài sản và việc xác định số lần phạm tội, mặc dù hai yếu tố này cùng được hình thành từ các hành vi phạm tội cụ thể. Do đó, có cơ sở để cho rằng Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP không đặt ra nguyên tắc chung theo hướng: tổng giá trị tài sản của nhiều lần phạm tội được cộng lại để xác định khung hình phạt thì đương nhiên không được áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.
Thứ tư, cần phân biệt “xác định tình tiết” với “sử dụng tình tiết”.
Đối với quan điểm thứ nhất nêu trên cho rằng khoản 7 Điều 4 chỉ nhằm giải thích thế nào là “phạm tội 02 lần trở lên”, chứ không trả lời câu hỏi liệu sau khi tổng giá trị tài sản đã được sử dụng để định khung thì có được tiếp tục sử dụng tình tiết này hay không.
Nhận xét này cần được xem xét, nhưng chưa đủ để phủ nhận giá trị của ví dụ, bởi khi xây dựng một quy định hướng dẫn, việc Hội đồng Thẩm phán đưa ra một ví dụ cụ thể chính là một phương thức thể hiện cách hiểu và áp dụng quy định trong thực tiễn. Nếu ví dụ chỉ nhằm chứng minh “03 lần đều đủ cấu thành tội phạm” thì không nhất thiết phải nêu tổng giá trị tài sản là 60.000.000 đồng. Việc Nghị quyết chủ động đưa tổng giá trị này vào ví dụ cho thấy yếu tố giá trị tài sản và số lần phạm tội được đặt trong cùng một tình huống thực tế. Do đó, khi giải thích Nghị quyết, không nên tách rời phần điều kiện và phần ví dụ đến mức làm mất đi ý nghĩa của ví dụ.
Thứ năm, Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP không phải là căn cứ để loại trừ trong trường hợp này. Điều 5 Nghị quyết hướng dẫn trường hợp một tình tiết đồng thời có hai tư cách pháp lý: vừa là tình tiết định khung, vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trường hợp đang xem xét, không phải là một tình tiết mang đồng thời hai tư cách đó.
Giả sử mở rộng Điều 5 theo cách hiểu nếu nhiều lần phạm tội được sử dụng để tính tổng giá trị tài sản thì tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” đương nhiên không được áp dụng thì phạm vi của quy định sẽ vượt ra ngoài trường hợp mà chính điều luật hướng dẫn, bởi từ “một tình tiết vừa là định khung vừa là tăng nặng” đã chuyển thành “hai tình tiết khác nhau nhưng cùng dựa trên một chuỗi hành vi”.
Thứ sáu, không phải cùng dựa trên một hành vi là bị coi là đánh giá trùng lặp. Bởi, một dữ kiện thực tế có thể được sử dụng để xác định nhiều tình tiết pháp lý khác nhau, ví dụ: một hành vi phạm tội có thể đồng thời được xem xét về giá trị tài sản, phương thức thực hiện, địa điểm, thời gian, hậu quả, số người bị hại hoặc các yếu tố khác, tùy thuộc vào quy định của pháp luật. Việc các yếu tố này cùng xuất phát từ một hành vi không làm cho chúng trở thành một tình tiết duy nhất. Điều quan trọng là phải xác định có hay không việc một tình tiết pháp lý cụ thể được sử dụng hai lần, chứ không phải có hay không việc một sự kiện thực tế được sử dụng để xác định nhiều tình tiết. Điều này không đương nhiên bị coi là đánh giá hai lần.
Chỉ khi pháp luật đã xác định một yếu tố cụ thể là tình tiết định khung và yếu tố đó đồng thời được sử dụng lần nữa với tư cách tình tiết tăng nặng thì mới đặt ra vấn đề trực tiếp về việc một tình tiết được sử dụng hai lần.
Thứ bảy, số lần phạm tội và giá trị tài sản phản ánh hai khía cạnh khác nhau về tính nguy hiểm cho xã hội. Giá trị tài sản phản ánh quy mô thiệt hại hoặc lợi ích vật chất mà người phạm tội đã xâm phạm; số lần phạm tội phản ánh tính lặp lại của hành vi và cho thấy người phạm tội đã nhiều lần lựa chọn thực hiện hành vi trái pháp luật.
Một người thực hiện một lần hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 60.000.000 đồng và một người thực hiện ba lần, mỗi lần chiếm đoạt 20.000.000 đồng có cùng tổng giá trị tài sản nhưng không hoàn toàn giống nhau về diễn biến hành vi.
Ở trường hợp thứ nhất, hành vi chiếm đoạt xảy ra một lần, còn trường hợp thứ hai, người phạm tội đã ba lần thực hiện hành vi là ba lần hình thành ý chí và thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu.
Pháp luật coi “phạm tội 02 lần trở lên” là một tình tiết tăng nặng thì đó chính là sự ghi nhận rằng tính lặp lại của hành vi có ý nghĩa độc lập trong đánh giá trách nhiệm hình sự.
Thứ tám, việc áp dụng đồng thời phù hợp với yêu cầu cá thể hóa hình phạt
Tình tiết định khung hình phạt xác định giới hạn hình phạt mà người phạm tội phải chịu. Sau khi xác định khung, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tiếp tục được xem xét để quyết định mức hình phạt cụ thể trong giới hạn của khung. Do đó, việc áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” không có nghĩa là chuyển người phạm tội sang một khung hình phạt khác lần nữa. Tình tiết này được sử dụng ở giai đoạn quyết định hình phạt trong khung đã được xác định. Theo đó, với cùng một giá trị tài sản bị chiếm đoạt, mức hình phạt được áp dụng đối với người thực hiện một lần hành vi cấu thành tội phạm phải khác với người nhiều lần thực hiện hành vi cấu thành tội phạm phải thì mới đảm bảo yêu cầu cá thể hóa hình phạt, đáp ứng được mục đích của hình phạt. Do đó, pháp luật đã quy định “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 thì không nên loại bỏ tình tiết này chỉ vì trước đó giá trị tài sản của nhiều lần phạm tội đã được sử dụng để xác định khung, trừ khi có quy định pháp luật cụ thể yêu cầu loại trừ.
Như vậy, theo quan điểm này và cũng là quan điểm của tác giả thì trường hợp người phạm tội thực hiện từ 02 lần trở lên đối với cùng một tội phạm, mỗi lần đều độc lập đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì việc cộng tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội để xác định tình tiết định khung về giá trị tài sản không nên được hiểu là căn cứ để loại trừ tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Đây cũng là cách hiểu phù hợp với quy định và ví dụ cụ thể tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, đồng thời bảo đảm đánh giá đầy đủ cả quy mô thiệt hại về tài sản và tính lặp lại của hành vi phạm tội trong quá trình cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP cần được hiểu đúng trong phạm vi trường hợp một tình tiết cụ thể vừa là tình tiết định khung, vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Không nên mở rộng quy định này thành nguyên tắc loại trừ đối với trường hợp hai tình tiết có nội dung pháp lý khác nhau, chỉ vì việc xác định một tình tiết có sử dụng cùng chuỗi hành vi thực tế.
Để bảo đảm áp dụng thống nhất, cần có hướng dẫn hoặc giải đáp nghiệp vụ của cơ quan có thẩm quyền một cách cụ thể. Theo quan điểm của tác giả thì nên hướng dẫn theo hướng: khi mỗi lần phạm tội đều độc lập đủ yếu tố cấu thành tội phạm, việc cộng tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội để xác định tình tiết định khung về giá trị tài sản không loại trừ việc áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, trừ trường hợp chính tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” đã được quy định và sử dụng với tư cách tình tiết định khung của điều luật tương ứng.
Tòa án nhân dân khu vực 1 (Thái Nguyên) xét xử vụ án "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - Nguồn: Báo Thái Nguyên.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Trao Quyết định bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội
-
Bộ Chính trị ban hành Quy định mới về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
-
Đảng ủy TANDTC hưởng ứng Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
-
Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng dự Lễ khai giảng năm học mới tại Hải Phòng
-
Thực hiện cấp, tống đạt văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử - Vướng mắc áp dụng và kiến nghị
Bình luận