Bảo hộ nguồn gen, tri thức truyền thống ở Liên minh Châu Âu

Bài viết phân tích thực trạng bảo hộ nguồn gen và tri thức truyền thống trong các Hiệp định thương mại tự do của Liên minh châu Âu, mối quan hệ với Nghị định thư Nagoya và những giới hạn trong việc áp dụng các chế tài sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền lợi của các quốc gia cung cấp nguồn gen.

Đặt vấn đề

Trong khi hệ thống sở hữu trí tuệ (SHTT) truyền thống của phương Tây tập trung mạnh mẽ vào việc bảo hộ các tài sản công nghiệp và sáng tạo cá nhân, thì sự trỗi dậy của các quốc gia đang phát triển đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết về việc bảo hộ các đối tượng phi truyền thống: nguồn gen, tri thức truyền thống và văn hóa dân gian. Đây không chỉ là vấn đề về quyền tài sản mà còn là cuộc chiến chống lại tình trạng “cướp biển sinh học” - nơi các tri thức cộng đồng bị tư hữu hóa bởi các tập đoàn đa quốc gia thông qua hệ thống bằng sáng chế. Liên minh châu Âu (EU), với tư cách là một bên sử dụng nguồn gen lớn trên thế giới, đã bắt đầu đưa các nội dung này vào các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Tuy nhiên, ranh giới giữa việc ghi nhận tầm quan trọng mang tính hình thức và việc thiết lập các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc trong luật sáng chế vẫn còn là một khoảng cách lớn.

1. Xung đột lợi ích giữa “tài sản chung” của cộng đồng và “tư hữu hóa” thông qua SHTT

Nội dung này đề cập tới sự khác biệt giữa lịch sử bảo hộ SHTT lâu đời của EU và yêu sách của các cộng đồng bản địa cũng như thực trạng thương mại hóa không công bằng thể hiện qua quá trình biến tri thức truyền thống thành tài sản riêng của các công ty đa quốc gia thông qua bằng sáng chế và quyền tác giả.

Do các quốc gia thành viên EU có lịch sử bảo hộ quyền SHTT lâu đời nên hầu như họ không gặp vấn đề về tiêu chuẩn bảo hộ các loại tài sản trí tuệ truyền thống. Tuy nhiên, một số Hiệp định thương mại tự do cũng thiết lập các đối tượng bảo hộ vượt ra khỏi đối tượng bảo hộ truyền thống của luật SHTT châu Âu, trong đó đặc biệt phải kể đến lĩnh vực các bảo vệ nguồn gen (tài nguyên di truyền), kiến thức truyền thống và văn hoá dân gian.

Trong một thời gian dài, các cộng đồng bản địa đã luôn đưa ra yêu sách đòi hỏi sự thừa nhận quyền của cộng đồng mình đối với việc kiểm soát giá trị nền văn hoá của họ, trong đó trọng tâm là yêu cầu thừa nhận quyền đối với tri thức truyền thống liên quan đến đa dạng sinh học, y học và nông nghiệp[1]. Từ góc độ pháp luật tài sản, hầu hết các tri thức này đều được xem là một phần của sở hữu của công chúng. Các cộng đồng bản địa, trước đây, thông thường không chú ý đến việc xác lập quyền đối với tri thức truyền thống và ngay cả trong trường hợp họ có ý thức làm xác lập quyền thì các tri thức truyền thống này chưa chắc đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để được bảo hộ. Tuy nhiên, việc không trao quyền cho cộng đồng bản địa đối với tri thức truyền thống, đã dẫn đến việc có thể xác lập độc quyền SHTT và thương mại hoá không công bằng các tri thức truyền thống này. Cụ thể, các công ty lớn, xuyên quốc gia đã sử dụng các tri thức truyền thống này như nguồn tri thức đầu vào quan trọng để tạo ra các đối tượng mới được tư hữu hoá thông qua cơ chế bảo hộ sáng chế hay quyền tác giả. Quá trình đó đã biến các tri thức truyền thống từ “tài sản chung” của cộng động bản địa thành “tài sản riêng” của các công ty đó và do đó các thành viên của cộng đồng bản địa không còn được phép tiếp tục sử dụng các tài sản đó. Thêm vào đó, các lợi ích về tài chính thu được việc thương mại hoá các tài sản đó hiếm khi được chia sẻ với các cộng đồng người bản địa[2].

2. Tri thức truyền thống và nguồn gen trong các FTA thế hệ mới của EU

Đứng trước tình hình trên, ở một số quốc gia đang phát triển, đã tồn tại một hệ thống bảo hộ đặc biệt đối với nguồn gen, kiến thức truyền thống và văn hoá dân gian, trong khi đó, EU không có hệ thống bảo hộ tương tự như vậy. Vì vậy, trong các Hiệp định thương mại như EU-CARIFORUM, hay EU- Hàn quốc, EU với Colombia và Peru, hay Hiệp định thương mại Việt Nam - EU gần đây đều có quy định một điều khoản cụ thể để bảo hộ đối tượng này[3]. Về mặt kỹ thuật, các điều khoản này chỉ liệt kê các nguyên tắc bảo hộ phụ thuộc vào luật quốc gia và ghi nhận tầm quan trọng của việc thực hiện các biện pháp bổ sung. Một số hiệp định như Hiệp định Hợp tác với Trung Mỹ còn có cách tiếp cận thận trọng hơn nữa[4], mặc dù một quốc gia thành viên của Hiệp định này là Costa Rica - là một trong số các quốc gia đầu tiên trên thế giới - đưa ra một cơ chế đặc biệt về tiếp cận và chia sẻ lợi ích liên quan đến nguồn gen[5]. Như vậy, thông qua cách tiếp cận của EU trong FTA thế hệ mới nêu trên có thể thấy đặc điểm kỹ thuật nổi trội của các điều khoản liên quan đến tri thức truyền thống và nguồn gen chính là sự phụ thuộc vào luật quốc gia và tính chất “liệt kê nguyên tắc” hơn là thiết lập tiêu chuẩn cứng.

3. Nghị định thư Nagoya và thách thức thực thi tại Liên minh châu Âu

Mặc dù bao gồm các đối tượng mới vượt quá đối tượng bảo hộ truyền thống của pháp luật SHTT châu ÂU, tuy nhiên, trên thực tế các Hiệp định thương mại tự do trên không tạo ra nghĩa vụ thật sự rõ ràng cho EU trong việc bảo hộ nguồn gen, các kiến thức truyền thống và văn hoá dân gian. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận một thực tế là các hiệp định đó ra đời trong bối cảnh chung là vẫn có nhiều tranh luận về các tiêu chuẩn được quốc tế thừa nhận đối với việc bảo hộ các nguồn gen và chia sẻ lợi ích[6]. Vì vậy, với việc thông qua Nghị định thư Nagoya của Công ước về Đa dạng Sinh học (CBD) về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích phát sinh từ nguồn gen (Nghị định thư ABS), EU và các quốc gia thành viên giờ đây phải thực thi văn kiện đa phương này.

4. Cơ chế bộc lộ nguồn gốc trong đơn đăng ký sáng chế: điểm nghẽn về nghĩa vụ pháp lý

Liên quan đến quyền SHTT, một trong những cơ chế hiệu quả nhất - đang được các nước đang phát triển vận động - để ngăn chặn việc sử dụng, khai thác các nguồn gen và kiến thức truyền thống trái phép và không có sự chia sẻ hợp lý và công bằng nào về những lợi ích thu được chính là cơ chế yêu cầu công bố bắt buộc về nguồn gen và quốc gia xuất xứ của các nguồn gen đó[7]. Trên thực tế, luật sáng chế có thể yêu cầu người nộp đơn xin cấp văn bằng sáng chế, chẳng hạn như cho một dược phẩm, bộc lộ nguồn gốc của thông tin di truyền cơ bản như mà một điều kiện (bổ sung) cho việc cấp văn bằng sáng chế.

Từ góc độ cân bằng lợi ích, việc quyền về quyền tiếp cận và chia sẻ quyền lợi chỉ được nhấn mạnh thông qua các cơ chế đặc thù hay quy định về thông tin sáng chế ở các nước đang phát triển vốn là quốc gia giàu có về nguồn di truyền là không hợp lý, bởi lẽ hầu hết thu nhập từ nguồn gen đó lại được tạo ra ở các thị trường nước ngoài của các nước phát triển[8]. Điều khoản quan trọng nhất của Nghị định thư Nagoya có lẽ là Điều 15 quy định nghĩa vụ của tất cả các bên của Nghị định thư đảm bảo tôn trọng các quy tắc tiếp cận và chia sẻ bất kể khi nào các nguồn tài nguyên di truyền được sử dụng trong phạm vi thẩm quyền của các bên đó[9]. Tuy nhiên, Điều 15 không trực tiếp yêu cầu các bên sử dụng luật sáng chế để thực thi các quy tắc quy tắc tiếp cận và chia sẻ của các bên khác. Chính vì vậy, ngoại trừ một số quốc gia thành viên tự nguyện đi theo hướng này, chẳng hạn như Đức[10], thì các quy định của Hiệp định thương mại tự do và Nghị định thư Nagoya cũng chỉ đóng vai trò mang khuyến nghị mà không buộc EU phải chịu ràng buộc vào nghĩa vụ đó[11].

Tóm lại, các Hiệp định thương mại tự do nói trên và Nghị định thư Nagoya có thể được coi là những công cụ quốc tế hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau để bảo vệ nguồn gen. Thực thi những cam kết này, EU đã ban hành nhiều văn bản hướng tới bảo vệ nguồn gen và chia sẻ lợi ích phát sinh từ nguồn gen, tiêu biểu là Đạo luật về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích năm 2015[12]. Tuy nhiên, các Hiệp định thương mại tự do trên chỉ hướng tới khuyến nghị hơn là tạo ra nghĩa vụ rõ ràng cho EU trong việc bảo hộ tài nguyên di truyền bằng quy định của pháp luật sáng chế. Ngay cả khi được kết hợp với Nghị định thư Nagoya, các hiệp định này không thể được giải thích là áp đặt nghĩa vụ lên EU trong việc thực hiện các biện pháp chế tài cho phép hủy bỏ hiệu lực của bằng sáng chế trong trường hợp vi phạm các quy tắc tiếp cận và chia sẻ tại quốc gia xuất xứ của vật liệu sinh học.

Kết luận

Sự hiện diện của các điều khoản về nguồn gen và tri thức truyền thống trong các FTA thế hệ mới của EU là một minh chứng cho sự nhượng bộ nhất định của khối này trước những yêu cầu hợp pháp của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, qua phân tích có thể thấy, các cam kết này vẫn dừng lại ở mức độ hỗ trợ và bổ sung cho các công cụ quốc tế như Nghị định thư Nagoya, hơn là tạo ra một cuộc cách mạng trong hệ thống luật sáng chế của châu Âu.

EU đã khôn khéo duy trì một khoảng cách an toàn khi chỉ dừng lại ở các quy định mang tính khuyến nghị, không chấp nhận việc coi vi phạm quy tắc chia sẻ lợi ích tại quốc gia xuất xứ là căn cứ để hủy bỏ hiệu lực của bằng sáng chế. Điều này tạo ra một nghịch lý: trong khi thu nhập từ nguồn gen chủ yếu được tạo ra tại thị trường của các nước phát triển, thì cơ chế bảo vệ quyền lợi cho quốc gia cung cấp nguồn gen vẫn còn lỏng lẻo và thiếu các chế tài SHTT đủ mạnh để răn đe. Trong tương lai, để đạt được sự công bằng thực sự, cần một nỗ lực đa phương mạnh mẽ hơn nhằm kết nối chặt chẽ giữa luật sáng chế quốc tế và nghĩa vụ chia sẻ lợi ích, đảm bảo rằng tri thức bản địa không còn bị xem là “nguồn nguyên liệu miễn phí” cho các chuỗi giá trị toàn cầu.

NAM GIANG

[1] Erica-Irene Daes, Intellectual Property and Indigenous Peoples, 95 AM. SOC’Y INT’L L. PROC. 143, 147 (2001).

[2] Graham Dutfield, TRIPS-Related Aspects of Traditional Knowledge, 33 CASE W. RES. J. INT’L L. 233, 238 (2001)

[3] Từ khía cạnh thực tiễn, các điều khoản về các chủ đề này trong Hiệp định Thương mại với Colombia và Peru là rất đáng lưu ý bởi vì đây là các quốc gia nằm trong số các quốc gia phong phú nhất trên thế giới về nguồn gen, tài nguyên di truyền.

[4] Hiệp định này chỉ đơn thuần bảo vệ quyền chủ quyền của các bên ký kết đối với việc tiếp cận nguồn gen phù hợp với Công ước về Đa dạng Sinh học (CBS) và ghi nhận vai trò quan trọng của việc bảo vệ các kiến thức của người thiểu số liên quan đến nguồn gen.

[5] Medaglia JC, Costa Rica in Lewis - Lettington (eds), Case studies on access and benefit-sharing, International Plant Genetic Resources Institute, p.33.

[6] von Lewinski S, Indingenous heritage and intellectual property: genetic resources, Traditional Knowledge and Folklore, 2008, Kluwer Law International.

[7] Xem Gulati, C, The "Tragedy of the Commons" in Plant Genetic Resources: The Need for a New International Regime Centered Around an International Biotechnology Patent Office, 4 Yale Hum. Rts. & Dev. L.J. 2011; Hammond, E. (2013). Sovereignty and patents at the fore in debate over MERS virus.SUNS, #7595, TWN Info Service on Health Issues (May13/10), 31 May. Third World Network. Available from https://www.twn.my/title2/health.info/2013/health130510.htm.

[8] Trong dự thảo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2021, Điều 96 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định trực tiếp việc không bộc lộ hoặc bộc lộ chính xác về nguồn gốc của nguồn gen trong đơn có thể dẫn tới hậu quả pháp lý là huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ:

“1. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

c) Đơn đăng ký sáng chế đối với sáng chế được trực tiếp tạo ra dựa trên nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen không bộc lộ hoặc bộc lộ không chính xác về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen có trong đơn đó”.

Bên cạnh đó, Điều 100 (Yêu cầu chung đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp) cũng được sửa đổi, theo đó bổ sung điểm đ1 khoản 1 về tài liệu thuyết minh về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen trong đơn đăng ký sáng chế, nếu sáng chế liên quan đến nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen.

[9] UNCTAD (2014), The Convention on Biological Diversity and the Nagoya Protocol: Intellectual Property Implications,https://unctad.org/en/PublicationsLibrary/diaepcb2014d3_en.pdf.

[10] Điều 34a Luật sáng chế Đức yêu cầu rằng người nộp đơn xin cấp văn bằng sáng chế dựa trên các nguồn gen phải công khai nguồn gốc của các nguồn gen đó.

[11] Drexl, Josef, ‘Intellectual property and implementation of recent bilateral trade agreements in the EU’ in EU Bilateral Trade Agreements and Intellectual Property: For Better or Worse?. Springer, Berlin, Heidelberg, 2014. 265-291, 276.

[12] Regulation (Eu) No 511/2014 of the European Parliament and of the Council of 16 April 2014 on compliance measures for users from the Nagoya Protocol on Access to Genetic Resources and the Fair and Equytable Sharing of Benefits Arising from their Utilization in the Union https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A32014R0511.

Bản tin thuộc Chuyên mục Các cam kết về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới, trong khuôn khổ Nhiệm vụ SHTT.TW.28-2022.

Ảnh minh họa: Khải Hoàn/TCTA.