Thời hiệu khởi kiện thừa kế bất động sản: Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và thực tiễn áp dụng pháp luật
Bài viết tập trung làm rõ quy định của pháp luật dân sự về thời hiệu khởi kiện tranh chấp liên quan đến thừa kế tài sản là bất động sản và thực tiễn áp dụng thời hiệu theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân.
1. Quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân
1.1. Thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu là thời gian do luật quy định, mang tính chất bắt buộc chủ thể phải tuân thủ “khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định”[1]. Theo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là “Thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp”[2].
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được xác định “từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Hết thời hiệu khởi kiện chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm sẽ mất quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật, không được pháp luật bảo vệ. Các bên chỉ có thể thỏa thuận thực hiện khi bên có nghĩa vụ tự nguyện thực hiện.
1.2. Cách xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp thừa kế tài sản là bất động sản
Thời hiệu thừa kế phụ thuộc vào “thời điểm mở thừa kế”. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày chết do Tòa án xác định (tùy thuộc vào người bị tuyên bố là đã chết thuộc trường hợp mất tích, biệt tích hay bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai).
Tuy nhiên, tùy thuộc vào quan hệ pháp luật tranh chấp (thực hiện nghĩa vụ người chết để lại, thừa kế tài sản là động sản hay bất động sản (quyền sử dụng đất hay nhà ở), yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác) mà pháp luật có quy định khác nhau về thời hiệu khởi kiện. Để tính thời hiệu khởi kiện chính xác phải xác định được thời điểm bắt đầu tính thời hiệu để từ đó mới xác định được thời điểm kết thúc thời hiệu khởi kiện. Việc xác định thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng là căn cứ giải quyết vụ án hoặc đình chỉ giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp chia thừa kế tài sản là bất động sản (quyền sử dụng đất, nhà ở) nói riêng tại Tòa án.
Pháp luật dân sự hiện hành quy định “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản,… kể từ thời điểm mở thừa kế”[3]. Hết thời hạn 30 năm kể từ ngày mở thừa kế mà người có quyền yêu cầu chia thừa kế không yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó; trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau: (1) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai 30 năm; (2) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai 30 năm4.
Tuy nhiên, việc xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp thừa kế tài sản đối với “nhà ở” mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 có sự khác biệt; do tính chất đặc thù của nhà ở nên đối với đối tượng tranh chấp thừa kế này ngoài chịu sự điều chỉnh về thời hiệu khởi kiện tại Điều 623 BLDS năm 2015 thì còn chịu sự điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật khác. Cho nên tùy thuộc việc xác định yêu cầu chia thừa kế di sản là “quyền sử dụng đất” hay “nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất” và tùy thuộc vào thời điểm phát sinh thừa kế nhà ở trước hoặc sau ngày 01/7/1991; cụ thể:
Theo Điều 9 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 và hướng dẫn tại Thông tư Liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 (02 năm 06 tháng) không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp thừa kế tài sản là “nhà ở” không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia; như vậy, thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990 (Ngày Pháp lệnh thừa kế có hiệu lực) đến hết ngày 10/3/2023.
Theo Điều 39 Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về việc giải quyết các tranh chấp giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 01/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 (10 năm 02 tháng) không tính vào thời hiệu khởi kiện; như vậy, thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990 (ngày Pháp lệnh thừa kế có hiệu lực) đến hết ngày 10/11/2030.
Các quy định về thời hiệu thừa kế đối với di sản là nhà ở nêu trên tiếp tục được Tòa án nhân dân tối cao giải thích tại Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ.
1.3. Hệ quả của áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu
Theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”. Khi hết thời hiệu khởi kiện, chủ thể vẫn có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối với vụ việc hết thời hiệu khởi kiện nhưng người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu từ chối áp dụng thời hiệu, không ai có yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện thì Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Chỉ khi hết thời hiệu khởi kiện và đương sự được hưởng lợi về thời hiệu có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án thì Tòa án mới căn cứ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Như vậy, Tòa án không được tự ý viện dẫn lý do đã hết thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
1.4. Xác định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
Theo Điều 156 BLDS năm 2015, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau:
Thứ nhất, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu. Có thể xem các sự kiện bất khả kháng như thiên tai, bão, lũ hoặc động đất là những nguyên nhân khiến chủ thể không có khả năng thực hiện quyền khởi kiện. Bên cạnh đó, những trở ngại khách quan như mắc bệnh nặng, gặp tai nạn hoặc các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cũng có thể làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể nhận biết hoặc không thể thực hiện kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ hai, chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Khi Tòa án ban hành quyết định xác định một cá nhân là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì đồng thời cũng chỉ định người đại diện theo pháp luật cho họ. Vì vậy, trên thực tế rất hiếm khi phát sinh trường hợp những cá nhân này không có người đại diện theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác do người đại diện chết hoặc có lý do chính đáng để không đại diện nữa. Khác với trường hợp chưa có người đại diện ngay từ đầu, trường hợp này pháp sinh khi có người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục thực hiện việc đại diện vì lý do chính đáng nhưnng chưa có người đại diện khác thay thế. Việc pháp luật quy định không tính khoảng thời gian này vào thời hiệu khởi kiện là cần thiết nhằm bảo đảm quyền khởi kiện không bị mất đi do nguyên nhân khách quan, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thế yếu thế.
2. Thực tiễn xác định thời hiệu khởi kiện thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất và đình chỉ giải quyết vụ án theo yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện
Nội dung tình huống: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị B như sau: cha mẹ bà B là ông Trần S (chết năm 1985) và bà K1 (chết năm 1954) có 05 người con là: B, T, T2, T3, N1. Sau khi bà K1 chết, ông S kết hôn với bà C1 có 03 người con là Đ, M, C. Ngày 06/9/1971, ông S chế độ Việt Nam cộng hòa cấp chứng thư quyền sở hữu diện tích 1,0 ha tại thửa 0067M (Nay thuộc thửa đất số 72, tờ bản đồ 12, diện tích 14.300m²); cha mẹ bà B chết không để lại di chúc. Ngày 22/9/1985, gia đình có lập biên bản họp gia tộc thống nhất, giao thửa đất trên cho bà Đ quản lý canh tác, nhưng bà Đ bỏ hoang, không quản lý, canh tác. Bà B trực tiếp là người quản lý, canh tác đất này đến năm 1990 được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2013 UBND huyện N ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận vì có đơn của bà Đ. Sau năm 2018 cho đến nay bà Đ là người canh tác. Ngày 03/2/2019 bà Đ làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất nhưng bà B có đơn ngăn chặn và yêu cầu Tòa án chia thừa kế quyền sử dụng đất cho các con của ông S, bà K1, bà C1. Bà B có yêu cầu được nhận đất để canh tác và xem xét tính công sức của bà Đ trong việc giữ gìn đất.
Phía bị đơn bà Đ trình bày: Ông S và bà C1 có 03 người con là Đ-M-C, khi còn sống cha mẹ không nói cho bà Đ có anh chị em nào khác. Bà không biết bà K1 là ai và bà K1 không có đóng góp gì trong việc tạo lập quyền sử dụng đất. Diện tích đất tranh chấp của ông S được chế độ cũ cấp ngày 06/9/1971. Ngày 28/4/2011, các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất có đơn xin xác nhận về nguồn gốc là ông S, bà C1 tạo lập, các hộ dân và địa phương biết rõ và xác nhận. Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đã hết nên diện tích đất 14.300m² thuộc bà Đ. Bà B không chứng minh được quan hệ huyết thống giữa bà B với ông S mà chỉ cung cấp được giấy tờ tự kê khai quan hệ nhân thân và được Ủy ban nhân dân xã N chứng thực chữ ký. Do bà Đ đang quản lý sử dụng ổn định đất từ khi cha mẹ bà chết. Năm 1985, cũng không có cuộc họp gia tộc nào để giao thửa đất cho bà và ông H1 quản lý; do vậy đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu chia thừa kế; công nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ.
Quá trình khiếu nại, khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế của bà Đ
Năm 2011 - 2012 các bà Đ, C, M khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế với bà B. TAND huyện N ban hành Thông báo số 06/2011/TB-TA ngày 31/5/2011 và Thông báo số 07/2012/TB-TA ngày 06/3/2012 trả đơn khởi kiện; lý do: Thời hiệu khởi kiện chia di sản đã hết. Do vậy, bà Đ khiếu nại đến UBND huyện N và có đơn xin được cấp quyền sử dụng đất nhưng bà B phản đối. Ngày 11/6/2015, UBND huyện N ban hành Văn bản số 1554/UBND-NC từ chối cấp giấy chứng nhận với lý do đất thừa kế. Năm 2019, bà Đ tiếp tục yêu cầu cấp giấy chứng nhận nhưng bị từ chối cấp do có đơn khiếu nại của bà B. Bà Đ tiếp tục khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án nhân dân huyện N ban hành Thông báo số 19/2019/TB-TA ngày 12/9/2019 trả đơn khởi kiện; lý do: Hết thời hiệu khởi kiện (34 năm). Năm 2020, bà Đ khởi kiện vụ án hành chính được TAND tỉnh NT thụ lý sơ thẩm ngày 06/10/2020 đến ngày 22/7/2022 TAND cấp cao tại Thành phố H xét xử phúc thẩm.
Năm 2022 bà B đi khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp thừa kế tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án. Bà Đ phản tố yêu cầu áp dụng thời hiệu theo Điều 623 BLDS năm 2015 đối với yêu cầu khởi kiện của bà B và đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho Đ, xem xét công sức giữ gìn đất cho B.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của TAND huyện N đã quyết định: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà B về việc chia thừa kế theo pháp luật thửa đất số 72, tờ bản đồ số 12 xã N có diện tích 14.826m². Bà B không được quyền khởi kiện lại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố, bà Đ được quyền quản lý và sử dụng thửa đất diện tích 12.708m2 đất. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà B được quyền quản lý và sử dụng thửa đất diện tích 2.118m2 đất.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 30/2024/DSPT ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh N đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà B, bà T1, bà H, bà N, ông H1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của TAND huyện N, chuyển hồ sơ vụ án cho AND huyện N giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Lý do: Tòa án cấp sơ thẩm xác định năm 2019 bà Đ đi khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện không còn nên không thụ lý vụ án, nghĩa là di sản thuộc về bà B vào năm 2019; nhưng năm 2023 khi bà B đi khởi kiện Tòa án cấp sơ thẩm lại thụ lý vụ án và áp dụng thời hiệu đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà B là mâu thuẫn trong việc áp dụng pháp luật, không đảm bảo lẽ công bằng. Lẽ ra, TAND huyện N phải thụ lý đơn khởi kiện của bà Đ nhưng TAND huyện N không thụ lý đơn khởi kiện của bà Đ và chủ động áp dụng thời hiệu là trái quy định của Điều 149 khoản 2 của BLDS năm 2015 nên bà Đ tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính cho đến ngày 22/7/2022, TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mới xét xử xong vụ án hành chính, nên khoảng thời gian tranh chấp từ năm 2013 đến năm 2022 phải được xem là trở ngại từ phía cơ quan tiến hành tố tụng không được tính thời hiệu mới đảm bảo được tính công bằng cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án.
Như vậy, đã có sự khác biệt khi xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất, xác định “trở ngại khách quan” và áp dụng thời hiệu khởi kiện giữa các cấp Tòa án trong vụ án, cùng quan hệ pháp luật tranh chấp và cùng đối tượng tranh chấp. Vấn đề đặt ra trong vụ án này năm 2019 Tòa án từ chối thụ lý đơn khởi kiện tranh chấp thừa kế của bà Đ và thời gian từ năm 2020 đến năm 2022 Tòa án các cấp thụ lý vụ án hành chính theo đơn khởi kiện của bà Đ tranh chấp vụ án hành chính có được xác định là “trở ngại khách quan” không tính vào thời gian khởi kiện không? và “trở ngại khách quan” không tính vào thời gian khởi kiện của bà B hay cho cả bà Đ và bà B?
Quan điểm thứ nhất (quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án): Năm 2023, bà B khởi kiện tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất của cụ S đối với bà Đ là hết thời hiệu khởi kiện (32 năm) nên việc bà Đ yêu cầu áp dụng thời hiệu đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà B là đúng; vì thời gian từ năm 2013 đến năm 2019 bà Đ khởi kiện vụ án hành chính đối với việc cấp giấy chứng nhận liên quan đến diện tích đất tranh chấp tại Tòa án không được xác định là “trở ngại khách quan” cho việc khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế của bà Đ.
Quan điểm thứ hai: Năm 2023 bà B khởi kiện tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất của cụ S đối với bà Đ vẫn còn thời hiệu, vì thời gian từ năm 2013 đến năm 2019 thời gian các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hành chính theo yêu cầu của bà Đ được xác định là “trở ngại khách quan” không tính vào thời hiệu khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng của cụ S cho cả bà Đ và bà B. Đây cũng chính là quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án.
Tác giả không đồng ý với quan điểm “Tòa án cấp sơ thẩm xác định năm 2019 bà Đ đi khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện không còn nên không thụ lý vụ án, nghĩa là di sản thuộc về bà B vào năm 2019”; nhưng tác giả đồng ý với quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm về việc xác định trở ngại khách quan để tính thời hiệu khởi kiện của bà B vẫn còn dựa trên nguyên tắc “lẽ công bằng”.
Sự khác biệt trong quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho thấy việc áp dụng quy định về “trở ngại khách quan” tại Điều 156 BLDS năm 2015 trong thực tiễn vẫn còn chưa thống nhất. Nguyên nhân là Điều 156 BLDS năm 2015 mới chỉ đưa ra khái niệm chung về “trở ngại khách quan” mà chưa quy định hoặc hướng dẫn cụ thể tiêu chí để xác định trường hợp nào được coi là thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện. Do đó, đối với những vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật phát sinh đồng thời hoặc có sự đan xen giữa các thủ tục tố tụng, việc xác định thời gian không tính vào thời hiệu vẫn có thể được hiểu và áp dụng theo những cách khác nhau.
Đối với trường hợp đương sự đồng thời thực hiện thủ tục khiếu nại, vừa khởi kiện vụ án hành chính liên quan đến cùng tài sản đang tranh chấp thì Điều 156 BLDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành chưa quy định cụ thể khoảng thời gian này có được xác định là “trở ngại khách quan” để không tính vào thời hiệu khởi kiện hay không. Chính sự thiếu vắng hướng dẫn đối với trường hợp này đã dẫn đến việc các cấp Tòa án có quan điểm khác nhau khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
Theo điểm a khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01/01/2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết” nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623 và điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 BLTTS năm 2015.
Khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2019, khi bà Đ thực hiện khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành chính liên quan đến cùng thửa đất, đã làm phát sinh vướng mắc trong việc xác định đây có phải là thời gian không tính vào thời hiệu theo Điều 156 BLDS năm 2015 hay không. Do Điều 156 BLDS năm 2015 chưa có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp này nên các cấp Tòa án đã có cách hiểu và áp dụng khác nhau.
Trong vụ án này, các bên không chỉ tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất mà còn đồng thời thực hiện thủ tục khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với chính thửa đất đang tranh chấp. Quá trình giải quyết các vụ việc này kéo dài trong nhiều năm, đặt vấn đề liệu khoảng thời gian cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khiếu nại và vụ án hành chính có được coi là thời gian không tính vào thời hiệu theo Điều 156 BLDS năm 2015 hay không.
Do chưa có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể nên trong cùng một vụ án, các cấp Tòa án đã có cách đánh giá khác nhau. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng khoảng thời gian các bên thực hiện khiếu nại, khởi kiện hành chính không phải là căn cứ để loại trừ thời hiệu nên đã chấp nhận yêu cầu áp dụng thời hiệu của bị đơn. Trong khi đó, Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định khoảng thời gian vụ việc được giải quyết tại các cơ quan tiến hành tố tụng là trở ngại khách quan, cần được loại trừ khi tính thời hiệu nhằm bảo đảm quyền khởi kiện và nguyên tắc công bằng giữa các đương sự.
Kết luận: Từ thực tiễn trên cho thấy, sự khác biệt nêu trên không hoàn toàn xuất phát từ nhận thức chủ quan của người áp dụng pháp luật mà còn phản ánh khoảng trống theo quy định hiện hành. Việc nhận diện trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện là chưa thống nhất và không đơn giản. Các quan hệ tranh chấp cùng đối tượng nhưng đan xen thời gian khởi kiện vụ án hành chính, dân sự thì thời gian thụ lý giải quyết vụ án hành chính của cơ quan tố tụng có được xác định là trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện của vụ án dân sự không. Để đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật, cần có sự hướng dẫn cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao về xác định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp “trở ngại khách quan”, do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho chủ thể không thể thực hiện quyền khởi kiện trong vụ án dân sự.
Bài viết mang tính trao đổi quan điểm với mục đích góp phần hoàn thiện hơn chế định về thời hiệu khởi kiện thừa kế tài sản là bất động sản. Mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Dân sự năm 2005.
2. Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
4. Nguyễn Thị Minh Phượng, Thời hiệu khởi kiện và thực tiễn áp dụng pháp luật đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu áp dụng thời hiệu, https://tapchitoaan.vn/thoi-hieu-khoi-kien-va-thuc-tien-ap-dung-phap-luat-dinh-chi-giai-quyet-vu-an-dan-su-theo-yeu-cau-ap-dung-thoi-hieu.
5. Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế.
6. Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991.
7. Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.
8. Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.
9. Thông tư Liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25 tháng 01 năm 1999 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
10. Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất của TAND huyện N.
11. Bản án phúc thẩm số 30/2024/DS-PT ngày 25/4/2024 về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất của TAND tỉnh N.
[1] Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015.
[2] Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015.
[3] Khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015.
4 Nguyễn Thị Minh Phượng, Thời hiệu khởi kiện và thực tiễn áp dụng pháp luật đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu áp dụng thời hiệu, https://tapchitoaan.vn/thoi-hieu-khoi-kien-va-thuc-tien-ap-dung-phap-luat-dinh-chi-giai-quyet-vu-an-dan-su-theo-yeu-cau-ap-dung-thoi-hieu, truy cập ngày 25/6/2026.
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa án hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Bàn về việc kiểm soát thiết bị điện tử tại phiên tòa - Một số giải pháp nhằm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn
-
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có vô hiệu không?
-
Bàn về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật
Bình luận