Bất cập trong thi hành hình phạt trục xuất và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích, đánh giá những quy định về căn cứ pháp lý, thủ tục thi hành án hình sự đối với hình phạt trục xuất trong trường hợp Tòa án áp dụng hình phạt tù nhưng được trả tự do tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích “khoảng trống” pháp lý, đưa ra quan điểm cá nhân, kiến nghị bước đầu để hoàn thiện quy định pháp luật tương thích với thực tiễn áp dụng pháp luật góp phần thực thi hiệu quả, thống nhất trong thời gian tới.

Đặt vấn đề

Trục xuất là một trong những biện pháp cưỡng chế được quy định trong pháp luật hành chính và pháp luật hình sự. Trong pháp luật về hành chính, trục xuất được quy định rất sớm trong Sắc lệnh số 205-SL ngày 18/4/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ấn định thể lệ trục xuất ngoại kiều. Tuy nhiên, trong pháp luật hình sự, trục xuất chỉ được quy định là hình phạt trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 (BLHS). Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến hình phạt trục xuất và thủ tục thi hành hình phạt trục xuất trong pháp luật hình sự.

Việc thiết lập hình phạt trục xuất trong BLHS làm cho hệ thống hình phạt cân đối, đa dạng, tạo điều kiện cho Tòa án khi xét xử có thêm lựa chọn việc áp dụng hình phạt thích hợp, cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án hình phạt trục xuất, đặc biệt trong bối cảnh thực thi thẩm quyền này có sự thay đổi từ ngày 01/3/2025 đến nay, cho thấy một số bất cập giữa quy định pháp luật và tình huống phát sinh trong thực tiễn dẫn đến có những quan điểm trái ngược nhau.

1. Quy định pháp luật hình sự về việc hình phạt trục xuất

Tại Điều 37 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung có quy định, trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể. Theo Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 3 Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam[1] quy định: Người nước ngoài là công dân mang quốc tịch của một nước không phải là quốc tịch Việt Nam hoặc công dân không quốc tịch có nơi cư trú ở Việt Nam. Có thể hiểu rằng, người nước ngoài là người mang quốc tịch của nước khác hoặc là người không mang quốc tịch của bất cứ quốc gia nào, trừ trường hợp họ là người nước ngoài được hưởng những ưu đãi về miễn trừ ngoại giao, theo điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế[2]. Theo nội hàm Điều 37 BLHS, hình phạt trục xuất vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung. Pháp luật hình sự có quy định khi Tòa án áp dụng hình phạt này là hình phạt chính thì không được áp dụng với tư cách là hình phạt bổ sung nữa và ngược lại, nếu đã áp dụng là hình phạt bổ sung thì sẽ không được áp dụng là hình phạt chính nữa[3].

Điều 37 BLHS chỉ quy định về nội dung hình phạt là buộc người bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đối tượng áp dụng hình phạt này là người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, nội hàm Điều luật và trong BLHS không có bất cứ quy định cụ thể nào về điều kiện, phạm vi áp dụng và thời hạn áp dụng hình phạt trục xuất này. Đến nay, trong toàn bộ hệ thống các tội danh quy định trong phần các tội phạm của BLHS, không có điều luật nào quy định việc áp dụng hình phạt trục xuất. Và nếu đã không có quy định cụ thể trong từng tội danh hoặc nhóm tội danh, thì liệu có thể áp dụng hình phạt này không hay chỉ cần viện dẫn quy định tại Điều 37 BLHS là đã có thể áp dụng hình phạt trục xuất được. Chính quy định chưa minh thị này dẫn đến chưa đảm bảo tính khả thi trong việc áp dụng hình phạt.

Trong hệ thống các quy định pháp luật về thi hành án hình sự, việc thi hành hình phạt sẽ được thực hiện ở hai mốc thời gian. Thứ nhất, hình phạt trong bản án có hiệu lực thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị[4]. Thứ hai, hình phạt được thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật[5]. Theo đó, khi Tòa án áp dụng hình phạt trục xuất là hình phạt chính thì bản án sẽ có hiệu lực thi hành ngay. Trong trường hợp hình phạt trục xuất là hình phạt bổ sung thì tuỳ thuộc vào hình phạt chính đề xác định có hiệu lực thi hành ngay hay chờ đến khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị hoặc có bản án, quyết dịnh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Để thi hành án hình phạt trục xuất, theo quy định tại Điều 118 Luật Thi hành án hình sự năm 2019[6] sẽ có trường hợp Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ban hành quyết định thi hành án hình phạt độc lập hoặc ghi nhận là hình phạt bổ sung trong quyết định thi hành án hình phạt tù. Cụ thể: Trong trường hợp trục xuất là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung trong trường hợp hình phạt chính là phạt tiền thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án; Trường hợp trục xuất là hình phạt bổ sung thì quyết định thi hành án phải ghi đầy đủ hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Theo quy định tại Điều 364 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 2 Luật Thi hành án hình sự thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Và khi đủ điều kiện ban hành quyết định thi hành án, thì các điều luật về thi hành hình phạt này theo quy định tại Điều 119 đến Điều 124 Luật Thi hành án hình sự năm 2019[7], Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BCA-BQP-BNG ngày 16/11/2011 hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất[8] mới được kích hoạt, áp dụng. Và trong rất nhiều trường hợp, khoảng thời gian từ khi bản án có hiệu lực thi hành đến khi bản án có hiệu lực thi hành để thi hành hình phạt trục xuất là khá dài dẫn đến việc quản lý, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị kết án để đảm bảo thi hành án bị “vô hiệu hoá”.

Từ phân tích trên cho thấy, hiện nay Điều 37 BLHS quy định về đối tượng áp dụng là người nước ngoài và nội dung buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam mà chưa có quy định rõ ràng thời gian áp dụng, nội dung, điều kiện được áp dụng hình phạt trục xuất với loại tội phạm nào, khi nào áp dụng là hình phạt chính, khi nào áp dụng là hình phạt bổ sung. Pháp luật cũng chưa có cơ chế thực thi hình phạt trong khoảng thời gian từ khi bản án có hiệu lực thi hành đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Điều này dẫn đến hạn chế rất đáng tiếc trong lập pháp hình sự và dẫn đến sự lúng túng, chưa thống nhất khi áp dụng trong thực tiễn.

2. Thực trạng áp dụng quy định về hình phạt trục xuất

Tình huống thực tiễn: Bản án số: 100/2026/HSST ngày 01/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – tỉnh G, xử phạt bị cáo Kvitko Krill (quốc tịch Liên bang Nga) về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS, với mức hình phạt 01 năm 02 tháng 15 ngày tù, thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Ngoài ra, Hội đồng xét xử còn áp dụng hình phạt bổ sung: Trục xuất Kvitko Krill phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ban hành Quyết định trả tự do cho bị cáo Kvitko Krill. Khi thi hành việc trả tự do người bị kết án, phát sinh vấn đề về việc Tòa án không thể ban hành quyết định thi hành án đối với hình phạt bổ sung là trục xuất và cơ quan thi hành án, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam cũng không có căn cứ đề đưa người bị kết án vào cơ sở lưu trú hoặc chỉ định nơi lưu trú.

Trước tình huống này, có quan điểm cho rằng, khi thực hiện việc ban hành quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải căn cứ Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự để áp dụng biện pháp ngăn chặn phù hợp đảm bảo cho việc thi hành án. Sau đó, khi bản án có hiệu lực pháp luật thì Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 1 – tỉnh G sẽ ban hành quyết định thi hành án hình phạt bổ sung là trục xuất. Quyết định này sẽ làm căn cứ để cơ quan thi hành án hình sự thực hiện trình tự, thủ tục để trục xuất người bị kết án rời khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Cũng có quan điểm thứ hai cho rằng, việc Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tù bằng với thời hạn tạm giam, trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo là đúng theo quy định tại Điều 260 BLHS, khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt bổ sung là chưa có căn cứ. Bởi lẽ, các hình phạt chính quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS bao gồm phạt tiền, phạt cải tạo tạo không giam giữ và phạt tù có thời hạn; đối với hình phạt bổ sung, tại khoản 5 Điều 260 BLHS chỉ quy định các hình phạt là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Một trong những nguyên tắc pháp chế trong áp dụng hình phạt và hình phạt bổ sung là chỉ khi nào điều luật về tội phạm có hình phạt bổ sung nào đó thì Tòa án mới được áp dụng hình phạt đó với người bị kết án. Khi quyết định hình phạt bổ sung với từng trường hợp cụ thể, Tòa án không được tự ý áp dụng hình phạt mới mà chỉ được áp dụng trong những hình phạt cụ thể nêu tại điều luật hoặc chương tội phạm đó.

Đối với tình huống này, tác giả có quan điểm như sau: Đối với việc Tòa án áp dụng hình phạt tù bằng với thời hạn tạm giam, trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo thì đây là một trong những hình phạt được thi hành ngay theo quy định tại Điều 363 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2 mục II Giải đáp số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: “Do thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam nên Hội đồng xét xử đã tuyên bố trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. Trường hợp này, Tòa án có phải ra quyết định thi hành án phạt tù đối với người bị kết án không? Trường hợp trên, Tòa án không ra quyết định thi hành án phạt tù mà ra quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án gửi kèm theo bản án quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa cho cơ quan thi hành án hình sự theo quy định.” Hướng dẫn này cũng tương thích với hướng dẫn trước đây của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại điểm a.3, tiểu mục 1.2, mục 1, phần I của Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007. Khi Hội đồng xét xử quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm sẽ không ban hành quyết định thi hành án phạt tù.

Tuy nhiên, khi không ban hành quyết định thi hành án hình sự thì sẽ phát sinh các vấn đề pháp lý đặt ra ở đây. Thứ nhất, theo quy định tại Điều 118 Luật Thi hành án hình sự[9], khi hình phạt trục xuất là hình phạt bổ sung thì quyết định thi hành án phải ghi đầy đủ hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trừ trường hợp là hình phạt bổ sung trong trường hợp hình phạt chính là phạt tiền thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án. Theo quy định pháp luật khi áp dụng mức hình phạt tù bằng với thời hạn tạm giam, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm không phải ban hành quyết định thi hành án phạt tù và không ban hành quyết định thi hành án hình phạt bổ sung với hình phạt trục xuất. Thứ hai, quy trình thi hành án hình phạt trục xuất đều bắt nguồn từ quyết định thi hành án. Điều 119 Luật Thi hành án hình sự xác định, khi có quyết định thi hành án phạt trục xuất thì cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền hoặc Giám thị Trại giam có thẩm quyền phải thực hiện thủ tục cần thiết cho việc thi hành án như tống đạt quyết định thi hành án cho người chấp hành án, thông báo ngay cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam; đưa vào cơ sở lưu trú do cơ quan Công an chỉ định; thực hiện việc quản lý người bị trục xuất, cấp phép xuất cảnh, tiến hành việc buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Hồ sơ thi hành án phạt trục xuất được cơ quan công an có thẩm quyền lập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án của Tòa án hoặc kể từ ngày tiếp nhận người đã chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, được miễn chấp hành án phạt tù có hình phạt bổ sung là trục xuất, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải lập hồ sơ thi hành án phạt trục xuất[10]. Trong trường hợp thực tiễn, việc Tòa án không phải ra quyết định thi hành án đã làm cho quy trình thi hành hình phạt trục xuất bị “vô hiệu hoá”. Thứ ba, về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong trường hợp trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn sau phiên tòa là để đảm bảo cho việc thi hành án. Trường hợp nay, Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo hình phạt tù bằng với thời hạn tạm giam, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa thì coi như bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính là hình phạt tù.  Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án gửi kèm theo bản án quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa cho cơ quan thi hành án hình sự theo quy định. Hiện nay, pháp luật chỉ quy định áp dụng biện pháp ngăn chặn sau phiên tòa là để đảm bảo cho việc thi hành án mà không có sự phân chia thành thi hành án hình phạt chính hay hình phạt bổ sung. Vì vậy, trong trường hợp người bị kết án bị áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất khi hình phạt tù được thi hành ngay, trả tự do tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử có thể cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú. Nhưng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong trường hợp này cũng chỉ mang tính chất “tình thế”. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này không tạo ra tiền đề quan trọng nhất trong thủ tục thi hành án hình phạt trục xuất là ban hành quyết định thi hành án.

3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về áp dụng hình phạt trục xuất và thi hành án hình phạt trục xuất

Thứ nhất, để giải quyết vướng mắc trong thực tiễn, tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật, đề nghị các cơ quan liên ngành tư pháp sớm có Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể đối với từng căn cứ áp dụng hình phạt trục xuất là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung, đặc biệt là trong trường hợp áp dụng trục xuất là hình phạt bổ sung khi hình phạt chính có hiệu lực thi hành ngay theo hướng dù không ra quyết định thi hành án phạt tù thì Tòa án cấp sơ thẩm vẫn phải ra quyết định thi hành án riêng đối với đối với hình phạt bổ sung trục xuất khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời cần rà soát, cập nhật quy định về thủ tục, trình tự thi hành hình phạt trục xuất tại Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BCA-BQP-BNG ngày 16/11/2011 hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất cho phù hợp với quy định tại Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Thứ hai, trong thời gian tới, khi thực hiện sửa đổi, bổ sung BLHS thì cần sửa đổi Điều 37 về hình phạt trục xuất. Tác giả đề xuất nội dung Điều luật cần quy định cụ thể (i) trục xuất được áp dụng đối với người phạm loại tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; (ii) nếu là hình phạt bổ sung thì trục xuất được áp dụng kèm theo loại hình phạt chính nào (phạt tiền, tù có thời hạn và tù chung thân); (iii) quy đinh với từng tội phạm cụ thể trong phẩn các tội phạm của pháp luật hình sự.

Thứ ba, khi thực hiện hướng dẫn cụ thể với Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự thì cần quy định cụ thể theo hướng: “1. Trường hợp trục xuất là hình phạt chính thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án. Quyết định phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra
quyết định; bản án được thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành án; hình phạt bổ sung; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành.

2. Trường hợp trục xuất là hình phạt bổ sung thì quyết định thi hành án phải ghi đầy đủ hình phạt chính và hình phạt bổ sung.” Mục tiêu là đảm bảo tất cả các trường hợp áp dụng hình phạt trục xuất đều có quyết định thi hành án hình phạt trục xuất bởi đây căn cứ để cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền thi hành hình phạt.

 

NGUYỄN HỒNG THẮM (Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa)

[1] Xem: https://luatvietnam.vn/xuat-nhap-canh/van-ban-hop-nhat-62-vbhn-vpqh-2026-luat-nhap-canh-xuat-canh-qua-canh-cu-tru-cua-nguoi-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-429521-d5.html

[2] Khoản 2 Điều 5 BLHS.

[3] Khoản 3 Điều 32 BLHS.

[4] Điều 363 Bộ luật Tố tụng Hình sự

[5] Điều 343, Khoản 2 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[6] Kể từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15 ngày 10/12/2025 có hiệu lực thi hành. Thủ tục thi hành án hình phạt trục xuất được quy định tại Chương VI, từ Điều 118 đến Điều 122.

[7] Điều 118 đến Điều 122 Luật Thi hành án hình sự năm 2025, tlđd.

[8] Thông tư liên tịch này hiện vãn còn hiệu lực pháp luật theo Quyết định số 1133/QĐ-BNG ngày 09/5/2024 của Bộ Ngoại giao

[9] Điều 116 Luật Thi hành hình sự số 127/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.

[10] Điều 7 Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BCA-BQP-BNG ngày 16/11/2011 hướng dẫn thi hành án phạt trục xuất.

Lực lượng Công an thực hiện xử phạt hành chính, đồng thời áp dụng hình thức xử phạt bổ sung trục xuất đối với 3 người Trung Quốc có hành vi nhập cảnh trái phép - Nguồn: Cổng TTĐT Bộ Công an.