Bình luận Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty

Án lệ số 78/2025/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 24 tháng 12 năm 2025 và được công bố theo Quyết định số 339a/QĐ-CA ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Án lệ 78/2025/AL được phát triển từ Quyết định giám đốc thẩm số 17/2022/KDTM-GDT ngày 13/12/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp giữa các thành viên công ty với công ty” giữa nguyên đơn Trần Mạnh H và bị đơn Công ty TNHH Đ.

1. Khái quát nội dung Án lệ

- Tình huống án lệ: Công ty đã thành lập, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã thể hiện các thành viên góp vốn và số vốn điều lệ. Sau đó bên góp vốn và công ty có thỏa thuận về việc góp vốn, chia lợi nhuận nhưng không thỏa thuận về việc tăng vốn điều lệ của công ty. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không thể hiện việc tăng vốn điều lệ.

- Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định việc góp vốn nhằm mục đích kinh doanh, không phải để tăng vốn điều lệ của công ty.

- Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: Khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (tương ứng với khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đổi, bổ sung các năm 2022 và 2025).

Tóm tắt tình tiết Án lệ 78/2025/AL   

Công ty Đ (Bị đơn) được thành lập bởi hai cá nhân vào năm 2001. Một cá nhân là cổ đông của Công ty Đ đã đề nghị Nguyên đơn góp vốn để Công ty mở rộng đầu tư mặt bằng và nhà xưởng sản xuất. Năm 2001, qua trao đổi miệng giữa Nguyên đơn với các thành viên cá nhân của Công ty, các bên đồng ý rằng ba cá nhân (gồm Nguyên đơn) mỗi người góp 1/3 vốn điều lệ của Công ty, và được hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn này. Trong vòng 12 năm tiếp theo từ 2003 đến 2015, Nguyên đơn được Bị đơn chia lợi nhuận bằng tiền mặt. Biên bản họp hội đồng thành viên của Công ty Đ lập ngày 22/3/2017 ghi nhận phần vốn góp của Nguyên đơn là 38%, và Nguyên đơn và hai thành viên được chia lợi nhuận với tỷ lệ như nhau. Biên bản họp hội đồng thành viên ghi nhận Nguyên đơn không tham gia hoạt động điều hành kinh doanh của Công ty. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Bị đơn không ghi nhận Nguyên đơn là thành viên Công ty.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xác định Nguyên đơn là thành viên Công ty, yêu cầu Bị đơn phải tiến hành thủ tục tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bổ sung Nguyên đơn là thành viên Công ty với số vốn đã góp.

Bị đơn phản đối và cho rằng Nguyên đơn có chuyển tiền cho hai cá nhân thành viên Công ty để kinh doanh và hưởng lãi, và lãi không ấn định do phụ thuộc vào lợi nhuận công ty, đây không phải là góp vốn để trở thành thành viên Công ty.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, xác nhận Nguyên đơn là thành viên Công ty với tỷ lệ góp vốn là 1/3, và buộc Bị đơn phải thực hiện thủ tục tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bổ sung Nguyên đơn là thành viên.

Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng cáo của Bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm bản án sơ thẩm và phúc thẩm. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm nhận định: Nguyên đơn không có các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 22/3/2017 chỉ có xác nhận việc góp vốn mà không xác nhận số vốn góp để thành lập Công ty hay nâng vốn điều lệ của Công ty theo quy định, và Nguyên đơn không tham gia hoạt động điều hành việc kinh doanh của Công ty. Các bên chỉ xác nhận việc phân chia lợi nhuận mà không thể hiện Nguyên đơn có nghĩa vụ với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi phần vốn góp. Việc góp vốn điều lệ và góp vốn để kinh doanh là khác nhau, và Nguyên đơn đã thực hiện việc góp vốn kinh doanh. Do đó, Hội đồng Thẩm phán quyết định chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.

- Nội dung Án lệ

“[4] Thực tế, Công ty TNHH Đ được thành lập năm 2001 có 02 thành viên góp vốn là ông Nguyễn Văn T và ông Trần V, với vốn điều lệ được đăng ký là 1.000.000.000 đồng; đăng ký thay đổi doanh nghiệp các lần sau đó (lần 2, 3, 4, 5) vào các năm 2006, 2010, 2012 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì Công ty có 02 thành viên là ông T và ông V với vốn điều lệ Công ty đã đăng ký là 6.000.000.000 đồng.

[5] Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty ngày 22/3/2017 nêu trên thì các bên chỉ xác nhận việc góp vốn mà không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập Công ty hay nâng vốn điều lệ của Công ty theo quy định. Các bên chỉ xác định việc chia lợi nhuận, thu nhập của mỗi nguời là 33,33% mà không có nội dung nào thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người tương ứng với phần vốn góp của mình đối với: các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty theo Điều lệ Công ty. Mặt khác, tại biên bản này, ông H tự xác định không điều hành việc kinh doanh của Công ty. Nếu xác định đây là việc góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty từ 6.000.000.000 đồng lên 7.253.656.000 đồng như các bên đã thỏa thuận thì việc tăng vốn này cũng chưa được công nhận vì chưa đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp.”.

“[7] Theo quy định thì vốn điều lệ, việc góp vốn điều lệ để trở thành thành viên Công ty và việc góp vốn để kinh doanh là 2 vấn đề khác nhau. Các bên không có thỏa thuận, không đăng ký tăng vốn điều lệ lên 7.253.656.000 đồng, trong đó, ông H đã góp là 2.751.000.000 đồng nhưng Tòa án xác định ông H góp 33,3% vốn điều lệ là chưa đủ cơ sở. Thực tế thì sau khi thành lập Công ty năm 2001, do thiếu vốn nên ông V, ông T có bàn bạc huy động vốn của ông H để thuê 42.970m2 đất mở rộng nhà máy sản xuất ở Hưng Yên (như lời khai của chính đại diện của nguyên đơn). Như vậy, chỉ có cơ sở xác định ông H góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, xác nhận ông Trần Mạnh H là thành viên của Công ty TNHH Đ với tỷ lệ vốn góp là 1/3 là không phù hợp với các tình tiết nêu trên. Khi giải quyết lại vụ án, nếu không có chứng cứ nào khác thì cần bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.”.

2. Bình luận một số vấn đề của Án lệ 78/2025/AL

Thứ nhất, Án lệ 78/2025/AL đưa ra giải pháp pháp lý đó là cần phải xác định bản chất, mục đích của hoạt động góp vốn. Góp vốn điều lệ là việc bên góp vốn có góp vốn và phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty trong phạm vi phần vốn góp. Khi Nguyên đơn góp vốn nhưng không có nội dung thỏa thuận để thành lập hoặc nâng vốn Công ty, chỉ thoả thuận về việc chia lợi nhuận mà không có nghĩa vụ về các khoản nợ hay nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi phần vốn góp và Nguyên đơn không tham gia vào hoạt động điều hành kinh doanh của công ty, việc góp vốn đó không phải góp vốn làm tăng vốn điều lệ của công ty mà là góp vốn để kinh doanh.   

Các quy định có liên quan của Luật Doanh nghiệp 2014 như sau:

- Thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào Công ty (Điểm b Khoản 1 Điều 47). Thành viên Công ty có nghĩa vụ “Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 48 của Luật này” (khoản 1 Điều 51).

- Thành viên chỉ được chia lợi nhuận khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn trả khác sau khi chia lợi nhuận (khoản 3 Điều 50, Điều 69). Việc chia lợi nhuận phải được thực hiện thông qua quyết định của Hội đồng thành viên (điểm g khoản 2 Điều 56).

- Thành viên có nghĩa vụ tuân thủ Điều lệ Công ty (khoản 3 Điều 51).  

- Thành viên góp vốn sẽ là thành viên của Hội đồng thành viên và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên,[1] trong đó, có quyền quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty, quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương thức huy động thêm vốn; và quyết định dự án đầu tư phát triển công ty (điểm a, b và c khoản 2 Điều 56).

Trong tình huống của Án lệ 78/2025/AL:

- Biên bản họp hội đồng thành viên năm 2017 không có nội dung ghi nhận việc Nguyên đơn phải chịu trách về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào Công ty. 

- Nguyên đơn được chia lợi nhuận phụ thuộc vào tình hình kinh doanh và không có thông tin thể hiện việc chia lợi nhuận này phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng thành viên Công ty.

- Trong Án lệ 78/2025/AL không đề cập cụ thể tuy nhiên có vẻ như Biên bản họp Hội đồng thành viên năm 2017 chỉ ghi nhận nội dung góp vốn và phân chia lợi nhuận, không thể hiện nội dung Nguyên đơn có nghĩa vụ tuân thủ Điều lệ Công ty.

- Nguyên đơn không điều hành Công ty, không tham gia vào quyết định vấn đề hoạt động kinh doanh của Công ty.

Xem xét bản chất của giao dịch dựa trên nội dung thoả thuận phân chia lợi nhuận, phân định rủi ro là một quan điểm xét xử phù hợp với thực tiễn và đã được Tòa án áp dụng. Ví dụ, trong Quyết định giám đốc thẩm 105/2017/DS-GĐT ngày 23/10/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hà Nội về việc Tranh chấp hợp đồng dân sự giữa Nguyên đơn Nguyễn Xuân Đ và Bị đơn là Công ty TNHH A,[2] Tòa án đã có cách tiếp cận tương tự như Án lệ 78/2025/AL đó là phải xem xét thoả thuận phân chia lợi nhuận và phân định rủi ro để xác định quan hệ pháp luật và áp dụng pháp luật để phân định quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.[3]

Thứ hai, Tòa án đã xem xét hai yếu tố khác để kết luận bản chất việc góp vốn của Nguyên đơn, đó là Biên bản họp hội đồng thành viên 2017 không có nội dung thể hiện việc góp vốn để thành lập hay nâng vốn điều lệ của Công ty, và Nguyên đơn không tham gia điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty.

Có vẻ như Hội đồng Thẩm phán xác định việc tham gia điều hành hoạt động kinh doanh của công ty là một cơ sở để đánh giá bản chất của giao dịch góp vốn, tuy nhiên, tại Đoạn 5 của phần Nhận định trong Quyết định Giám đốc thẩm chưa thực sự thể hiện rõ ràng nhận định này. Nếu xét riêng việc bên góp vốn không tham gia điều hành hoạt động kinh doanh, đây khó có thể coi là cơ sở để không thừa nhận tư cách thành viên Công ty. Thành viên công ty có các nghĩa vụ tại Điều 51, tuy nhiên, không có quy định rõ ràng về nghĩa vụ tham gia điều hành công ty. Trong Án lệ 78/2025/AL, Hội đồng Thẩm phán có vẻ như cân nhắc đến yếu tố này bên cạnh các căn cứ khác của vụ án, ví dụ, Nguyên đơn không phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nợ trong phạm vi phần vốn góp, Nguyên đơn không phải tuân thủ Điều lệ Công ty, Nguyên đơn có đơn xin gia nhập Công ty sau khi 7 năm góp vốn, v.v….. để củng cố vững chắc hơn kết luận.

Ngoài ra, mặc dù không phải là nội dung Án lệ, nhận định của Hội đồng Thẩm phán đưa ra định hướng xác định bằng chứng để chứng minh tư cách thành viên Công ty phải được xem xét dựa trên quy định của pháp luật về doanh nghiệp phù hợp với loại hình công ty có tranh chấp về tư cách thành viên. Cụ thể, trong Án lệ 78/2025/AL, Tòa án nhận định các chứng cứ thể hiện tư cách thành viên Công ty là thoả thuận giữa các bên về thành lập hoặc góp vốn, có tên trong danh sách cổ đông hoặc danh sách thành viên Công ty khi đăng ký kinh doanh, có giấy chứng nhận phần vốn góp tương ứng với giá trị vốn đã góp, có tên trong sổ đăng ký thành viên, có hành vi thực hiện quyền trong việc điều hành, quản lý trong hội đồng thành viên của Công ty. Tuỳ thuộc vào loại hình Công ty để xác định các hồ sơ phù hợp theo quy định của pháp luật doanh nghiệp. Trong tranh chấp tại Án lệ 78/2025/AL, do mô hình của Bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nên Tòa án xác định các loại chứng cứ thể hiện thông tin thành viên Công ty dựa trên các quy định sau đây của Luật Doanh nghiệp 2014:[4]

- Giấy chứng nhận vốn góp: Theo quy định tại khoản 5 Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2014, thành viên góp đủ vốn được Công ty cấp Giấy chứng nhận vốn góp tương ứng với phần vốn đã góp, trong đó, một nội dung của Giấy chứng nhận vốn góp là: “c) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với thành viên là cá nhân; tên, số quyết định thành lập hoặc mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên là tổ chức; d) Phần vốn góp, giá trị vốn góp của thành viên; đ) Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp.”

- Sổ đăng ký thành viên: Theo khoản 1 Điều 49, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên phải lập Sổ đăng ký thành viên. Một trong những nội dung của Sổ đăng ký thành viên là phải có “Phần vốn góp, giá trị vốn đã góp, thời điểm góp vốn, loại tài sản góp vốn, số lượng, giá trị của từng loại tài sản góp vốn của từng thành viên” và “Chữ ký của thành viên là cá nhân hoặc của người đại diện theo pháp luật của thành viên là tổ chức”. (điểm c và d khoản 1 Điều 49). Trên thực tế, Sổ đăng ký thành viên thường được cập nhật, sửa đổi khi có thành viên góp vốn mới hoặc thay đổi tỷ lệ vốn góp của các thành viên.

- Điều lệ Công ty: Theo điểm d Khoản 1 Điều 25 Luật Doanh nghiệp 2014, Điều lệ Công ty phải có nội dung “Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của […] của chủ sở hữu công ty, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần; phần vốn góp và giá trị vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh; số cổ phần, loại cổ phần, mệnh giá cổ phần từng loại của cổ đông sáng lập”. Theo khoản 2 Điều 25 Luật Doanh nghiệp 2014, Điều lệ Công ty khi đăng ký doanh nghiệp phải có họ, tên và chữ ký của thành viên công ty. Trên thực tế, khi Công ty có điều chỉnh bổ sung thành viên mới dẫn tới tăng vốn, Điều lệ Công ty thường được cập nhật để ghi nhận thông tin thành viên mới.

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty: Theo khoản 3 Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2014, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên phải ghi nhận thông tin “họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành viên là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp và địa chỉ trụ sở chính của thành viên là tổ chức đối với công ty trách nhiệm hữu hạn”. Trong trường hợp tiếp nhận thêm thành viên mới và tăng vốn điều lệ, Công ty phải thông báo đến Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh theo khoản 1, khoản 2 Điều 44, khoản 1 Điều 45 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2025 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh, và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ghi nhận thông tin điều chỉnh, trong đó có thông tin vốn điều lệ và thành viên mới.        

Án lệ 78/2025/AL gợi mở các chứng cứ có thể chứng minh tư cách thành viên. Việc Hội đồng thẩm phán không nhận định rằng người có các chứng cứ này đương nhiên là thành viên công ty, hoặc ngược lại, là cách đánh giá và kết luận phù hợp, tránh dẫn đến hiểu nhầm rằng chỉ cần có các chứng cứ nêu trên là đủ để khẳng định tư cách thành viên công ty hoặc ngược lại. Trên thực tế, một tranh chấp giữa công ty và người chưa phải là thành viên công ty phổ biến đó là bên mua đã thanh toán số tiền góp vốn nhưng Công ty không phát hành chứng chỉ sở hữu cổ phần hoặc không cập nhật Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để ghi nhận thành viên, dẫn đến bên mua phải khởi kiện để được công nhận tư cách thành viên. Trong các tranh chấp như vậy, Tòa án thường căn cứ vào chứng cứ thể hiện bên mua đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán để công nhận quyền sở hữu cổ phần.[5] Như chính nội dung Án lệ 78/2025/AL, Tòa án đánh giá mục đích góp vốn để công nhận tư cách thành viên, không phải chỉ dựa trên chứng cứ thể hiện thông tin sở hữu phần vốn góp của pháp luật doanh nghiệp. Các chứng cứ thể hiện thông tin thành viên theo quy định của Luật Doanh nghiệp là một căn cứ, nhưng cần được đánh giá dựa trên tổng thể toàn bộ hồ sơ vụ việc với các chứng cứ khác.  

Bên cạnh đó, một chứng cứ khác mà cơ quan giải quyết tranh chấp có thể xem xét đó là sổ sách kế toán hoặc báo cáo tài chính của Công ty. Theo quy định tại Điều 2 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp (gọi tắt là Thông tư 200/2014/TT-BTC), doanh nghiệp phải ghi sổ kế toán, lập và trình bày Báo cáo tài chính phù hợp với quy định của Thông tư. Theo khoản 1 Điều 67 Thông tư 200/2014/TT-BTC, vốn đầu tư của chủ sở hữu được hạch toán tại Tài khoản 411 của Báo cáo tài chính với nguyên tắc kế toán được quy định tại Điều 67 của Thông tư. Vốn đầu tư của chủ sở hữu bao gồm vốn góp ban đầu, góp bổ sung của chủ sở hữu.  Nếu việc góp vốn có bản chất là giao dịch khác không phải góp vốn của chủ sở hữu, giao dịch đó phải được ghi vào các Tài khoản khác. Ví dụ, góp vốn theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh được hạch toán vào các Tài khoản theo với nguyên tắc kế toán được hướng dẫn tại Điều 44 Thông tư, hoặc khoản vay phải được hạch toán vào tài khoản 341 phù hợp với nguyên tắc kế toán được quy định tại Điều 58 của Thông tư. Do đó, khi công ty đã hạch toán khoản vốn góp vào tài khoản 411, sẽ khó để chấp nhận rằng khoản góp vốn đó là góp vốn hợp tác đầu tư hoặc cho vay.

Trong tranh chấp sở hữu Công ty của các cổ đông Công ty cổ phần Miền Đông - Đầu tư hạ tầng tại Bản án phúc thẩm số 41/2018/KDTM-PT ngày 12/09/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án đã xem xét và chấp nhận các chứng cứ này. 04 Nguyên đơn là cá nhân thực hiện việc góp vốn và được Bị đơn cấp giấy xác nhận thu tiền, nhưng Bị đơn cho rằng thủ tục chào bán cổ phần được thực hiện không đúng quy định và Điều lệ Công ty, các Nguyên đơn không có hành vi nộp tiền thật, do đó, không có giao dịch góp vốn và 04 cá nhân này không phải là cổ đông Công ty. Tòa án đã xem xét các chứng cứ, bao gồm các phiếu thu tiền mặt có xác nhận của kế toán và thủ quỹ của Bị đơn cho 04 Nguyên đơn, các báo cáo tiền mặt năm 2008 và báo cáo sử dụng vốn đến ngày 02/11/2009, báo cáo tài chính năm 2008 nộp cho Chi cục thuế Biên Hoà đều thể hiện có góp vốn của các Nguyên đơn. Tòa án cũng xem xét chứng cứ là Danh sách nhận cổ tức năm 2008 lập ngày 30/3/2009 có tên của 04 Nguyên đơn. Do đó, Tòa án cho rằng Bị đơn đã “mặc nhiên công nhận 04 cá nhân trên có góp vốn vào thời điểm năm 2008 và sử dụng phần vốn góp của họ”,[6] nên Bị đơn không thể lấy lí do thủ tục chào bán vốn góp được thực hiện không phù hợp để không công nhận tư cách cổ đông của 04 cá nhân. 

3. Một số lưu ý khi áp dụng Án lệ 78/2025/AL

Nội dung Án lệ 78/2025/AL đã thể hiện rõ quan điểm xét xử trong các tranh chấp về tư cách chủ sở hữu công ty hoặc xác định bản chất của giao dịch góp vốn để công nhận hay không công nhận tư cách thành viên công ty. Án lệ đã làm rõ nội dung mà Tòa án cần cân nhắc đó là bản chất của giao dịch góp vốn. Giao dịch góp vốn cần thoả mãn bản chất pháp lý của việc góp vốn làm tăng vốn điều lệ, hoặc góp vốn thành lập công ty của Luật Doanh nghiệp, đó là người góp vốn cam kết chịu trách nhiệm khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi phần vốn góp. Từ đó, Tòa án phân biệt giao dịch góp vốn vào công ty với giao dịch khác, ví dụ như góp vốn hợp tác đầu tư hoặc giao dịch vay.  

Cách tiếp cận của Án lệ 78/2025/AL cũng có thể được áp dụng để giải quyết các tranh chấp khác giữa công ty với các thành viên của công ty, ví dụ như tranh chấp về tỷ lệ sở hữu phần vốn góp thực tế, hoặc bên góp vốn hoặc bên mua cổ phần có tư cách thành viên công ty hay không. Tòa án có thể đánh giá dựa trên nội dung thỏa thuận vào thời điểm góp vốn, sử dụng vốn trên thực tế, bên góp vốn có thực hiện quyền của thành viên công ty để can thiệp và quyết định hoạt động kinh doanh hay không, bên góp vốn được hưởng lợi nhuận từ việc góp vốn theo hình thức hưởng lợi tức hay được hưởng lãi hay được chia lợi nhuận theo doanh thu, v.v… để xác định bản chất giao dịch có tranh chấp.

Một điểm cần lưu ý trong các tranh chấp này đó là các chứng cứ thể hiện tư cách cổ đông hoặc thành viên công ty sẽ có sự khác biệt phụ thuộc vào loại hình công ty hoặc cách thức mà cổ đông hoặc thành viên sở hữu phần vốn góp, cũng như quy định của Luật Doanh nghiệp có hiệu lực. Ví dụ, đối với công ty cổ phần, các thông tin về cổ đông sáng lập tương đối rõ ràng do được thông tin ghi nhận trong một số hồ sơ như Điều lệ Công ty, danh sách cổ đông sáng lập khi thành lập công ty, Sổ đăng ký cổ đông[7] hoặc thông báo về thay đổi cổ phần của cổ đông sáng lập.[8] Tuy nhiên, nếu bên có tranh chấp mua lại cổ phần từ cổ đông phổ thông, các chứng cứ xác nhận tư cách cổ đông sẽ tương đối phức tạp. Theo kinh nghiệm của tác giả, các chứng cứ hữu hiệu hơn để xác định tư cách cổ đông trong trường hợp này sẽ hành vi điều hành hoạt động của công ty, ví dụ như các biên bản họp đại hội đồng cổ đông hoặc bên góp vốn nằm trong danh sách chia cổ tức.  

Kết luận

Án lệ 78 đã đưa ra hướng dẫn về đường lối xét xử trong các tranh chấp giữa công ty với thành viên hoặc người chưa phải thành viên công ty, đó là Tòa án xem xét và đánh giá bản chất của giao dịch góp vốn có phù hợp với hoạt động góp vốn điều lệ của pháp luật doanh nghiệp hay không. Án lệ 78 sẽ giúp các Tòa án có định hướng xét xử rõ ràng, thống nhất.

 

NGUYỄN THỊ ÁNH HƯỜNG (Luật sư cao cấp Văn phòng Luật sư IDVN)

[1] Khoản 1 Điều 56 Luật Doanh nghiệp 2014.

[2] Quyết định giám đốc thẩm số 105/2017/DS-GĐT ngày 23/10/2017 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân Đ và bị đơn là Công ty TNHH A.

[3] Nhật Minh, “Xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh” trong trường hợp ký kết và thực hiện giao dịch góp vốn

(https://www.toaan.gov.vn/webcenter/ShowProperty?nodeId=/UCMServer/TAND293721). 

[4] Luật Doanh nghiệp 2014 được Toà án án sử dụng giải quyết tranh chấp giữa các đương sự.

[5] Ví dụ, Bản án số 11/2022/KDTM-PT ngày 28/02/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp giữa người chưa phải thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty.

[6] Bản án số 41/2018/KDTM-PT ngày 12/09/2018 Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty liên quan đến việc hoạt động của công ty, trang 11.

[7] Khoản 1 Điều 119, Khoản 1, 2 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2014; Khoản 2 Điều 22 Nghị định 78/2015/NĐ-CP.

[8] Điều 51 Nghị định 78/2015/NĐ-CP.

Phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án kinh doanh thương mại tại quận Nam Từ Liêm (TP. Hà Nội) - Nguồn: Bùi Lê Mai Anh - Viện KSND quận Nam Từ Liêm.