Cơ sở chính trị và pháp lý trong phòng ngừa tội phạm chống nhà nước trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay
Bài viết phân tích hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng và khuôn khổ pháp luật hiện hành trong công tác phòng ngừa tội phạm chống phá Nhà nước trên không gian mạng. Trên cơ sở đối chiếu sự tương thích giữa định hướng chính trị và thực tiễn luật định (từ Hiến pháp đến các luật chuyên ngành về hình sự, an ninh mạng và dữ liệu), bài viết chỉ ra những thách thức mới phát sinh từ làn sóng công nghệ và các nền tảng mạng xã hội đa quốc gia. Từ đó, đề xuất nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản lý quốc gia trước những nguy cơ an ninh phi truyền thống trong tình hình mới.
Đặt vấn đề
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống ngày nay. Không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng cho nhiều mục đích khác nhau như: trao đổi thông tin, học tập, sản xuất, kinh doanh, quản lý nhà nước và thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình này là sự gia tăng của các hành vi lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc, bịa đặt, kích động, phát tán thông tin sai sự thật, chống phá đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây hoang mang trong Nhân dân, xâm hại an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Trong bối cảnh đó, công tác phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật, mà đây còn là một bộ phận của chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của môi trường số. Yêu cầu nghiên cứu cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý của hoạt động này vì vậy có ý nghĩa quan trọng về cả lý luận và thực tiễn.
Về phương diện pháp luật hình sự, tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) - sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015. Đây là quy định trung tâm để nhận diện và xử lý hành vi chống phá Nhà nước trên không gian mạng trong giai đoạn hiện nay. Song, để phòng ngừa hiệu quả loại tội phạm này trong thực tiễn, không thể chỉ tiếp cận từ một điều luật hình sự riêng lẻ, mà cần đặt trong chỉnh thể của quan điểm chính trị, các quy định hiến định, pháp luật chuyên ngành về an ninh mạng (ANM), an toàn thông tin, dữ liệu số và quản lý thông tin trên môi trường Internet.
1. Cơ sở chính trị của công tác phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng
Cơ sở chính trị trực tiếp của công tác phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng trước hết được xác lập từ Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới (gọi tắt là Nghị quyết số 35-NQ/TW). Về bản chất, Nghị quyết này không chỉ là văn kiện định hướng đối với lĩnh vực tư tưởng, lý luận, báo chí và tuyên truyền, mà còn là căn cứ chính trị quan trọng để nhận diện không gian mạng như một địa bàn đấu tranh đặc biệt quan trọng về an ninh quốc gia. Điểm chính của Nghị quyết này là chuyển trọng tâm từ tư duy “đấu tranh khi đã xuất hiện hậu quả” sang tư duy “chủ động bảo vệ từ trước”, tức là đặt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong trạng thái thường xuyên, liên tục, có tổ chức và có sự tham gia của cả hệ thống chính trị. Trong điều kiện mạng xã hội phát triển mạnh, thông tin được lan truyền tức thời, ẩn danh và xuyên biên giới, yêu cầu đó càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, bởi các hành vi phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kích động chống phá Nhà nước không còn diễn ra chủ yếu bằng phương thức truyền thống, mà chuyển mạnh sang môi trường số, với tốc độ lan truyền nhanh, phạm vi tác động rộng và khả năng gây hiệu ứng dây chuyền trong xã hội. Bởi vậy, Nghị quyết số 35-NQ/TW có thể được xem là điểm tựa chính trị nền tảng để hình thành cách tiếp cận phòng ngừa đối với tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng theo hướng lấy “bảo vệ nền tảng tư tưởng” làm trung tâm, lấy “đấu tranh phản bác thông tin sai trái, thù địch” làm nhiệm vụ thường xuyên và lấy “sự chủ động của cả hệ thống chính trị” làm điều kiện bảo đảm.
Từ góc độ lý luận, giá trị của Nghị quyết số 35-NQ/TW đối với công tác phòng ngừa nằm ở chỗ, văn kiện này đã tạo cơ sở để nhìn nhận loại tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng không chỉ là hiện tượng vi phạm pháp luật đơn lẻ, mà là biểu hiện của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, thông tin trong bối cảnh mới. Nói cách khác, nếu chỉ tiếp cận các hành vi này từ góc độ kỹ thuật mạng hoặc từ góc độ xử lý hình sự thuần túy thì sẽ không phản ánh đầy đủ bản chất của vấn đề. Sâu xa hơn, đây là hoạt động lợi dụng thành tựu công nghệ, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, lợi dụng đặc tính mở và khó kiểm soát của Internet để tác động vào nhận thức xã hội, làm suy giảm niềm tin chính trị, gây hoang mang trong Nhân dân, từng bước hướng tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Vì vậy, cơ sở chính trị do Nghị quyết số 35-NQ/TW xác lập có ý nghĩa như một “khung nhận thức” cho toàn bộ hoạt động xây dựng pháp luật, tổ chức lực lượng, tuyên truyền, giáo dục, quản lý truyền thông số và xử lý vi phạm trong thực tiễn.
Bước phát triển mới của cơ sở chính trị được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (gọi tắt là Nghị quyết số 57-NQ/TW). So với Nghị quyết số 35-NQ/TW, điểm nổi bật của Nghị quyết số 57-NQ/TW là đặt vấn đề ANM, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu trong mối quan hệ hữu cơ với chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên số. Nghị quyết này không tiếp cận ANM như một vấn đề phụ trợ, phát sinh bên lề quá trình chuyển đổi số, mà xem đó là một thành tố nội tại của phát triển bền vững. Cách tiếp cận này có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng: trong điều kiện nền kinh tế số, chính phủ số, xã hội số và công dân số ngày càng mở rộng, thì mọi khoảng trống về ANM, mọi sơ hở về dữ liệu và mọi sự lúng túng trong quản lý nền tảng số đều có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng để thực hiện hoạt động chống phá Nhà nước. Do đó, phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng không còn là nhiệm vụ riêng của cơ quan bảo vệ pháp luật, mà trở thành một cấu phần của chiến lược phát triển quốc gia trong thời đại số. Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW là sự dịch chuyển từ tư duy bảo vệ sang tư duy làm chủ trên không gian mạng của Nhà nước ta. Nếu trước đây, cách hiểu phổ biến về ANM thiên về bảo vệ hạ tầng kỹ thuật, phòng, chống tấn công mạng, bảo đảm vận hành hệ thống thông tin, thì trong nhận thức mới, yêu cầu bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng còn bao hàm cả việc kiểm soát dữ liệu, bảo vệ thông tin chiến lược, bảo vệ tài khoản số, xây dựng hệ sinh thái công nghệ an toàn và hạn chế sự phụ thuộc vào các nền tảng xuyên biên giới. Điều đó đặc biệt quan trọng đối với phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước, vì loại tội phạm này ngày càng không chỉ dừng ở hành vi đăng tải, chia sẻ nội dung chống phá, mà còn gắn với các hành vi như thu thập, khai thác, chỉnh sửa dữ liệu, tạo dựng thông tin giả, tổ chức mạng lưới tài khoản ảo, khuếch đại thông điệp sai trái bằng thuật toán và khai thác tâm lý đám đông để tạo hiệu ứng chính trị - xã hội tiêu cực. Có thể thấy, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã mở rộng nền tảng chính trị cho công tác phòng ngừa từ bảo vệ tư tưởng sang bảo vệ tổng thể môi trường số quốc gia.
Tiếp đó, Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị (gọi tắt là Chỉ thị số 57-CT/TW) tiếp tục làm sâu sắc thêm nhận thức chính trị của Đảng đối với vấn đề này. Nếu Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt nền ở tầm chiến lược phát triển, thì Chỉ thị số 57-CT/TW thể hiện rõ yêu cầu tổ chức thực hiện trong nội bộ hệ thống chính trị. Điều đó cho thấy, Đảng không chỉ coi nguy cơ trên không gian mạng là nguy cơ từ bên ngoài, mà còn nhìn nhận đây là thách thức hiện hữu ngay trong quá trình vận hành bộ máy, quản lý dữ liệu, sử dụng tài khoản số, chia sẻ thông tin nội bộ và bảo vệ bí mật công tác. Sự xuất hiện đồng thời của ba khái niệm “ANM”, “bảo mật thông tin” và “an ninh dữ liệu” trong cùng một chỉ thị cho thấy phạm vi bảo vệ đã được mở rộng đáng kể. Đây không chỉ là bảo vệ máy chủ hay hệ thống phần mềm, mà còn là bảo vệ tính bí mật, tính toàn vẹn, tính xác thực và tính kiểm soát của thông tin, dữ liệu, tài khoản và quy trình vận hành của hệ thống chính trị. Về ý nghĩa đối với phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước, Chỉ thị này cho thấy hoạt động chống phá trên không gian mạng hiện nay không chỉ được thực hiện bằng nội dung tuyên truyền công khai, mà còn có thể được thực hiện thông qua thao túng dữ liệu, chiếm quyền tài khoản, rò rỉ thông tin, cài cắm thông tin giả, bóp méo dữ liệu, hoặc khai thác lỗ hổng trong quy trình quản lý thông tin để làm suy giảm năng lực điều hành và niềm tin xã hội. Vì vậy, Chỉ thị số 57-CT/TW có giá trị bổ sung rất quan trọng cho cơ sở chính trị của công tác phòng ngừa tội phạm chống phá Nhà nước. Trước đây, hoạt động phòng ngừa tội phạm này thường được hiểu theo nghĩa hẹp là ngăn chặn chủ thể xấu đưa nội dung xấu độc lên mạng. Hiện nay, với nhận thức mới, phòng ngừa tội phạm chống phá Nhà nước trên không gian mạng còn phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm phòng ngừa từ khâu thiết kế thể chế, xây dựng quy trình bảo mật, phân quyền dữ liệu, kiểm soát tài khoản, nâng cao năng lực cán bộ, tổ chức ứng cứu sự cố, chuẩn hóa việc cung cấp và sử dụng thông tin trong hệ thống chính trị. Điều đó phản ánh một bước phát triển quan trọng trong tư duy lãnh đạo: phòng ngừa không chỉ là chặn cái xấu từ bên ngoài, mà còn là tăng khả năng tự bảo vệ từ bên trong.
Ở tầm chiến lược bao quát hơn, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (được công bố vào đầu tháng 4/2026) đã tiếp tục khẳng định yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nhanh, bền vững với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các không gian phát triển mới. Dù Nghị quyết của Đại hội XIV của Đảng có phạm vi rộng hơn rất nhiều so với lĩnh vực ANM, nhưng ý nghĩa của nó đối với công tác phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng là rất rõ: không gian mạng đã được đặt trong tổng thể các không gian chiến lược của quốc gia, nơi vừa diễn ra hoạt động phát triển, đổi mới sáng tạo, vừa tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để xâm phạm an ninh quốc gia. Điều này tạo ra cơ sở chính trị vững chắc để khẳng định việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng không phải là nhiệm vụ kỹ thuật đơn thuần, càng không phải là nhiệm vụ riêng biệt của một ngành, mà là một nhiệm vụ quan trọng, là một bộ phận hữu cơ của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Từ các đánh gián trên, có thể khái quát công tác phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng hiện nay như sau:
Thứ nhất, quyền tự do trên không gian mạng phải được thực hiện trong khuôn khổ bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, trật tự hiến định và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là luận điểm có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó giúp xác định ranh giới chính trị - pháp lý giữa tự do ngôn luận chính đáng với hành vi lợi dụng môi trường số để xuyên tạc, kích động, bịa đặt, tuyên truyền chống Nhà nước. Quan điểm này cũng là nền tảng để hệ thống pháp luật Việt Nam thiết kế các giới hạn cần thiết đối với việc thực hiện quyền trên không gian mạng, bảo đảm sự cân bằng giữa quyền tự do dân chủ và yêu cầu giữ vững an ninh quốc gia.
Thứ hai, phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng là nhiệm vụ tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Điểm thống nhất dễ thấy giữa Nghị quyết số 35-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Chỉ thị số 57-CT/TW là đều nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự tham gia của lực lượng chuyên trách, cơ quan báo chí, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp công nghệ và người dân. Điều đó có nghĩa là, phòng ngừa không thể chỉ đặt lên vai Cơ quan điều tra, cơ quan an ninh hay cơ quan quản lý thông tin truyền thông. Một khi thông tin xấu độc lan truyền chủ yếu qua nền tảng số, mạng xã hội, dịch vụ xuyên biên giới và tương tác người dùng, thì chính doanh nghiệp công nghệ, đội ngũ làm công tác truyền thông, lực lượng giáo dục chính trị tư tưởng và từng công dân cũng trở thành chủ thể của phòng ngừa. Đây là tư duy phòng ngừa xã hội hóa, liên ngành và đa chủ thể.
Thứ ba, công tác phòng ngừa tội phạm này phải được tổ chức theo tư duy từ sớm, chủ động, dựa trên công nghệ và dữ liệu. Đây là định hướng mới nổi bật nhất trong giai đoạn hiện nay. Nếu chỉ dựa vào biện pháp xử lý sau khi thông tin xấu độc đã lan rộng, thì hiệu quả phòng ngừa sẽ thấp, chi phí xã hội sẽ lớn và tác động tiêu cực đến nhận thức cộng đồng có thể kéo dài. Tư duy mới đòi hỏi phải xây dựng năng lực giám sát, cảnh báo sớm, phân tích dữ liệu, dự báo nguy cơ, nhận diện xu hướng lan truyền, phát hiện chiến dịch thao túng thông tin và kịp thời can thiệp bằng cả biện pháp chính trị, pháp lý, kỹ thuật và truyền thông. Nói cách khác, phòng ngừa trong kỷ nguyên số không thể chỉ là ngăn chặn hành vi, mà phải tiến tới quản lý được rủi ro an ninh thông tin và an ninh dữ liệu trên phạm vi toàn xã hội.
Như vậy, các văn kiện của Đảng từ Nghị quyết số 35-NQ/TW đến Nghị quyết số 57-NQ/TW, Chỉ thị số 57-CT/TW và Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cho thấy, sự phát triển nhất quán nhưng ngày càng sâu sắc trong nhận thức chính trị về phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng. Nếu giai đoạn đầu trọng tâm là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, thì giai đoạn sau đã mở rộng sang yêu cầu làm chủ không gian số, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ hệ thống chính trị, chủ động quản lý rủi ro và tích hợp ANM vào chiến lược phát triển quốc gia. Sự vận động đó tạo tiền đề chính trị trực tiếp cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật, củng cố lực lượng chuyên trách và đổi mới cơ chế phối hợp trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý loại tội phạm này ở Việt Nam hiện nay.
2. Cơ sở pháp lý trong công tác phòng ngừa và đấu tranh tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013, là cơ sở pháp lý tối cao xác lập mối quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân với yêu cầu bảo vệ quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Điều 25 Hiến pháp năm 2015 ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình của công dân, nhưng việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Cấu trúc hiến định đó cho thấy, pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền tự do biểu đạt, đồng thời, cho phép áp dụng các giới hạn cần thiết bằng luật nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự hiến định.
Trong lĩnh vực hình sự, BLHS năm 2015 là văn bản trung tâm quy định về việc xử lý loại tội phạm này. BLHS năm 2015 quy định tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 117. Theo đó, điều luật mô tả ba nhóm hành vi cơ bản: xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân; và làm ra, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung gây chiến tranh tâm lý. Điểm đáng chú ý là điều luật bao quát cả chuỗi hành vi chuẩn bị nội dung, lưu giữ, phát tán và truyền bá trên không gian mạng; đồng thời, xử lý cả hành vi chuẩn bị phạm tội. Điều đó thể hiện chính sách hình sự nghiêm khắc, nhưng thiên về phòng ngừa sớm đối với hành vi xâm phạm an ninh quốc gia bằng phương thức thông tin.
Để áp dụng đúng Điều 117 BLHS năm 2015 trong thực tiễn, vấn đề quan trọng không chỉ là xác định có hành vi đăng tải hay phát tán thông tin, mà còn phải chứng minh được mục đích nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đánh giá đúng mức độ nguy hiểm cho xã hội của nội dung thông tin. Đây là điểm phân biệt quan trọng giữa tội phạm quy định tại Điều 117 BLHS năm 2015 với hành vi vi phạm hành chính về hành vi cung cấp thông tin sai sự thật, phát ngôn thiếu chuẩn mực, hoặc những ý kiến góp ý, phản biện xã hội không nhằm xâm hại an ninh quốc gia. Vì vậy, trong thực tiễn đấu tranh, chứng cứ điện tử, bối cảnh phát tán, đối tượng tác động, phạm vi lan truyền và ý chí chủ quan của người thực hiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Bên cạnh BLHS, cơ sở pháp lý chuyên ngành của công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng ở Việt Nam đang chuyển từ phân tán sang điều chỉnh tích hợp và tập trung. Trước đây, lĩnh vực này được định hình chủ yếu bởi hai đạo luật có phạm vi tiếp cận khác nhau là Luật ANM năm 2018 và Luật An toàn thông tin mạng (ATTTM) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2025). Trong đó, Luật ANM năm 2018 thiên về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; còn Luật ATTTM năm 2015 tập trung nhiều hơn vào bảo đảm an toàn hệ thống thông tin, bảo mật, tính toàn vẹn, tính khả dụng của thông tin và ứng cứu sự cố. Tuy nhiên, trước yêu cầu quản lý không gian mạng trong điều kiện chuyển đổi số sâu rộng, sự phân tách này dần bộc lộ hạn chế, vì trên thực tế, các nguy cơ đối với an ninh quốc gia, an ninh dữ liệu, an ninh thông tin mạng và an toàn hệ thống thông tin ngày càng đan xen, không còn có thể xử lý hiệu quả theo tư duy tách khúc. Chính vì vậy, vào năm 2025, Bộ Công an đã đề xuất hợp nhất hai đạo luật nói trên thành một đạo luật thống nhất là Luật ANM năm 2025. Và đến ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật ANM năm 2025, đồng thời quy định Luật ATTTM năm 2015 và Luật ANM năm 2018 hết hiệu lực kể từ ngày luật mới có hiệu lực thi hành (01/7/2026). Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy lập pháp, thể hiện xu hướng nhìn nhận ANM không chỉ là bảo vệ an ninh quốc gia theo nghĩa hẹp, mà là bảo vệ tổng thể không gian mạng, hệ thống thông tin, dữ liệu và các hoạt động xã hội diễn ra trên môi trường số.
Điểm đáng chú ý của khuôn khổ pháp lý mới là Luật ANM năm 2025 đã tiếp cận vấn đề theo hướng tích hợp, khi ngay trong phần giải thích từ ngữ đã đồng thời xác định rõ các khái niệm “ANM”, “an ninh thông tin mạng” và “an ninh dữ liệu”. Theo đó, ANM được hiểu là sự ổn định, an ninh, an toàn của không gian mạng; an ninh thông tin mạng nhấn mạnh sự bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật, tính khả dụng của thông tin; còn an ninh dữ liệu được đặt thành một nội dung độc lập gắn với chất lượng dữ liệu và hoạt động xử lý, sử dụng dữ liệu trên không gian mạng. Cách thiết kế này cho thấy, pháp luật Việt Nam đã tiến thêm một bước từ chỗ chỉ chú trọng xử lý hành vi xâm phạm an ninh trên mạng sang bảo vệ đồng thời hạ tầng số, thông tin số và dữ liệu số như những thành tố có quan hệ hữu cơ với nhau. Về phương diện đấu tranh phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi hoạt động chống phá hiện nay không chỉ biểu hiện ở nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, mà còn gắn với việc chiếm đoạt dữ liệu, giả mạo tài khoản, khai thác lỗ hổng bảo mật, sử dụng nền tảng xuyên biên giới và công nghệ mới để tổ chức, che giấu hoặc khuếch đại tác động tâm lý - xã hội. Khi pháp luật đặt ANM, an ninh thông tin mạng và an ninh dữ liệu trong cùng một chỉnh thể, cơ sở pháp lý cho phòng ngừa loại tội phạm này cũng trở nên đầy đủ và sát với thực tiễn hơn.
Từ góc độ công cụ phòng ngừa, luật mới mở ra một không gian pháp lý chủ động hơn cho công tác bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Điều 5 Luật ANM năm 2025 quy định hệ thống biện pháp bảo vệ ANM rất rộng, bao gồm thẩm định, đánh giá điều kiện, kiểm tra, giám sát ANM; ứng phó, khắc phục sự cố; sử dụng giải pháp kỹ thuật để bảo vệ an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu và ngăn chặn thông tin vi phạm pháp luật; yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật, tin giả; thu thập dữ liệu điện tử; phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; và khi cần thiết thì chuyển sang các biện pháp hình sự. Đồng thời, Luật cũng xác định rõ hơn nhóm hành vi bị nghiêm cấm, trong đó không chỉ có hành vi tuyên truyền chống Nhà nước, tổ chức, câu kết, lôi kéo, huấn luyện người chống Nhà nước trên không gian mạng, mà còn bao gồm hành vi sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói của người khác, nhằm tạo lập, đăng tải, phát tán thông tin vi phạm. Như vậy, giá trị lớn nhất mà quá trình hợp nhất hai đạo luật mang lại cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay là tạo ra nền tảng pháp lý thống nhất hơn để chuyển mạnh từ tư duy xử lý thụ động sang tư duy quản lý nguy cơ, phát hiện sớm, ngăn chặn sớm và thu thập chứng cứ điện tử kịp thời. Nói cách khác, nếu như trước đây, pháp luật còn biểu hiện sự phân công tương đối tách biệt giữa bảo vệ ANM và bảo đảm ATTTM, thì nay khuôn khổ pháp lý mới đã cho phép tiếp cận đồng bộ hơn đối với cả nội dung thông tin, công cụ công nghệ, hạ tầng hệ thống và dữ liệu số - tức là những phương diện cốt lõi mà các đối tượng chống phá Nhà nước thường lợi dụng để tiến hành hoạt động chống phá trong bối cảnh số hóa hiện nay. Một cập nhật pháp lý quan trọng của giai đoạn hiện nay là Luật Dữ liệu năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Luật này quy định về dữ liệu số; xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản lý, xử lý, sử dụng dữ liệu số; Trung tâm dữ liệu quốc gia; cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia; sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu số; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động về dữ liệu. Sự ra đời của Luật Dữ liệu đánh dấu bước chuyển từ cách tiếp cận phân tán sang tiếp cận tổng hợp về quản lý dữ liệu. Đối với công tác phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng, quản lý dữ liệu có ý nghĩa đặc biệt, vì dữ liệu vừa là đối tượng bị xâm hại, vừa là nguồn lực phục vụ phát hiện, cảnh báo sớm, truy vết hành vi vi phạm và phối hợp liên ngành trong bảo vệ an ninh quốc gia.
Bên cạnh đó, Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 09/11/2024 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng (có hiệu lực từ ngày 25/12/2024) là văn bản rất quan trọng trong quản lý môi trường số hiện nay. Nghị định quy định tương đối toàn diện về chủ thể tham gia cung cấp dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, điều kiện hoạt động, trách nhiệm của nền tảng, cơ chế phối hợp xử lý thông tin vi phạm pháp luật và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng dịch vụ Internet, mạng xã hội, trang thông tin điện tử. Ý nghĩa thực tiễn của Nghị định này đối với công tác phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng là tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn để quản lý thông tin xuyên biên giới, yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm, giảm thiểu khoảng trống quản lý đối với các nền tảng số lớn.
Ở khía cạnh xử lý hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27/01/2022 và Nghị định số 211/2025/NĐ-CP ngày 25/7/2025, tiếp tục là công cụ pháp lý quan trọng. Hệ thống chế tài hành chính này cho phép xử lý linh hoạt các hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật, thông tin giả mạo, thông tin xấu độc hoặc vi phạm nghĩa vụ của chủ thể cung cấp dịch vụ khi mức độ nguy hiểm chưa đến ngưỡng cấu thành tội phạm. Do đó, khung pháp luật hiện hành đang vận hành theo mô hình nhiều tầng: cảnh báo, gỡ bỏ, xử phạt hành chính, sau đó mới truy cứu trách nhiệm hình sự khi đủ căn cứ.
3. Đánh giá tính thống nhất giữa cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý, những vấn đề đặt ra
3.1. Tính thống nhất giữa cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý
Có thể khẳng định rằng, hệ thống cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý trong phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng tại Việt Nam hiện nay đã đạt được mức độ tương thích cao và có sự vận động đồng quy. Sự tương thích này không chỉ dừng lại ở việc cụ thể hóa các văn bản của Đảng thành quy phạm pháp luật, mà còn thể hiện sự chuyển dịch mạnh mẽ về tư duy quản lý quốc gia trong kỷ nguyên số.
Hiện nay, đối với công tác ANM đã cho thấy, có sự thay đổi từ tư duy phản ứng sang tư duy chủ động phòng ngừa rủi ro. Nếu Nghị quyết số 35-NQ/TW xác lập yêu cầu chủ động bảo vệ từ sớm, thì Luật ANM năm 2025 đã luật hóa bằng một hệ thống biện pháp phòng ngừa diện rộng (Điều 5), cho phép cơ quan chức năng thẩm định, giám sát và can thiệp kỹ thuật ngay từ khi nguy cơ chưa hiện hữu thành hành vi phạm tội cụ thể. Việc hợp nhất Luật ATTTM năm 2015 và Luật ANM năm 2018 thành Luật ANM năm 2025 là bước cụ thể hóa chính xác tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Chỉ thị số 57-CT/TW. Điều này tạo ra một hành lang pháp lý thống nhất, giúp bảo vệ đồng thời hạ tầng, thông tin và dữ liệu số.
Dữ liệu là trung tâm của an ninh quốc gia và sự ra đời của Luật Dữ liệu năm 2024 hoàn toàn tương thích với yêu cầu “làm chủ không gian số” và “an ninh dữ liệu” trong các văn kiện mới nhất của Đảng. Pháp luật đã nhìn nhận dữ liệu không chỉ là tài sản kinh tế, mà còn là “vũ khí chiến lược” trong phòng ngừa tội phạm chống Nhà nước, giúp truy vết nguồn gốc thông tin và ngăn chặn dòng tiền tài trợ cho các hoạt động phản động.
3.2. Những vấn đề đặt ra và thách thức trong thực tiễn áp dụng
Mặc dù các quy định liên quan đến thể chế và pháp lý đã tương đối hoàn thiện, nhưng thực tiễn vẫn đặt ra một số bất cập và thách thức đòi hỏi sự giải quyết liên ngành:
Thứ nhất, việc đi sau của pháp luật trước sự bùng nổ của công nghệ đột phá. Sự xuất hiện của AI tạo sinh và deepfake (đã được nhận diện trong Luật ANM năm 2025) tạo ra những thông tin giả mạo được che đậy một cách tinh vi. Thách thức ở đây không chỉ là quy định cấm, mà là năng lực định danh và giám định, ví dụ khi một video giả mạo chính khách được lan truyền bằng thuật toán tự động trên các mạng lưới phi tập trung (Decentralized Web), việc xác định chủ thể để xử lý theo Điều 117 BLHS năm 2015 trở nên cực kỳ khó khăn. Pháp luật hiện còn thiếu các quy định chi tiết về trách nhiệm đối với các nền tảng trên không gian mạng.
Thứ hai, sự tinh vi trong việc ngụy trang hành vi phạm tội dưới vỏ bọc quyền tự do. Các đối tượng chống phá ngày càng lợi dụng triệt để các khái niệm “phản biện xã hội”, “xây dựng nội bộ” để phát tán thông tin xuyên tạc. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 và các luật chuyên ngành đã xác lập ranh giới, nhưng thực tiễn vẫn đối mặt với khó khăn trong việc chứng minh “mục đích chống Nhà nước”, một yếu tố cấu thành định tội danh chủ chốt của Điều 117. Nếu không có tiêu chí nhận diện chuyên môn và phương pháp giám định tư pháp về nội dung số đủ khoa học, ranh giới này dễ bị lợi dụng để gây áp lực về mặt “dân chủ, nhân quyền” từ bên ngoài.
Thứ ba, hiệu lực thực thi đối với các chủ thể xuyên biên giới và vấn đề liên quan đến chủ quyền dữ liệu. Dù Nghị định số 147/2024/NĐ-CP và Luật Dữ liệu năm 2024 đã thắt chặt trách nhiệm của các nền tảng quốc tế, nhưng việc yêu cầu các tập đoàn công nghệ khổng lồ tuân thủ tuyệt đối việc lưu trữ, cung cấp dữ liệu và gỡ bỏ nội dung chống phá vẫn là một cuộc đấu tranh pháp lý - kinh tế phức tạp. Khi tội phạm sử dụng các máy chủ đặt tại nước ngoài hoặc các công nghệ mã hóa đầu cuối, quyền tiếp cận thông tin của cơ quan an ninh bị hạn chế, dẫn đến việc phòng ngừa từ sớm đôi khi bị vô hiệu hóa về mặt kỹ thuật.
Thứ tư, thách thức về nguồn lực. Theo tinh thần của Chỉ thị số 57-CT/TW, phòng ngừa tội phạm này phải từ bên trong. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, sự chênh lệch về năng lực xử lý dữ liệu và bảo mật giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị còn lớn. Các lỗ hổng bảo mật từ phía người dùng là cán bộ, công chức vẫn là điểm để tội phạm khai thác, lấy cắp thông tin bí mật nhà nước nhằm chế bản thành các tài liệu tuyên truyền chống phá có độ tin cậy cao, gây nguy hại trực tiếp đến niềm tin của Nhân dân.
4. Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa
Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật hình sự, pháp luật ANM, pháp luật an toàn thông tin, pháp luật dữ liệu và pháp luật quản lý nền tảng số. Trong ngắn hạn, cần rà soát, cập nhật các văn bản dưới luật để bảo đảm sự thống nhất với Luật Dữ liệu năm 2024 và chuẩn bị tốt cho việc chuyển tiếp thi hành Luật ANM năm 2025. Trong dài hạn, cần thiết nghiên cứu sâu hơn các dấu hiệu pháp lý của hành vi sử dụng AI, deepfake, hệ thống tài khoản ảo, công nghệ giả lập danh tính và thao túng thuật toán, nhằm chống Nhà nước để có cơ sở hoàn thiện chính sách hình sự và pháp luật chuyên ngành.
Thứ hai, cần tăng cường năng lực kỹ thuật, năng lực phân tích dữ liệu và năng lực điều tra số cho lực lượng chuyên trách bảo vệ ANM, Cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Phòng ngừa hiệu quả tội phạm chống Nhà nước trên không gian mạng không thể chỉ dựa vào các quy phạm pháp luật, mà còn phụ thuộc vào năng lực làm chủ công nghệ, nhận diện sớm nguy cơ, xử lý nhanh nguồn phát tán và thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ điện tử một cách chính xác, hợp pháp.
Thứ ba, phải coi giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng số và xây dựng văn hóa ứng xử trên không gian mạng là giải pháp nền tảng. Bởi mục đích tác động cuối cùng của hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước trên không gian mạng không chỉ là hệ thống chính trị, mà còn là nhận thức, cảm xúc và niềm tin xã hội của công chúng. Do đó, cần nâng cao khả năng tự sàng lọc thông tin, kỹ năng kiểm chứng nguồn tin, nhận diện thủ đoạn cắt ghép, xuyên tạc, kích động và tâm lý đám đông cho người dân, nhất là thanh thiếu niên, sinh viên và nhóm sử dụng mạng xã hội với tần suất cao.
Thứ tư, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp, liên chủ thể giữa cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng chuyên trách, doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp nền tảng số, cơ sở giáo dục, cơ quan báo chí và tổ chức xã hội. Trong điều kiện hiện nay, không một chủ thể nào có thể tự mình giải quyết toàn bộ bài toán phòng ngừa. Chỉ khi có cơ chế phối hợp nhanh, chia sẻ dữ liệu hiệu quả, phân định rõ trách nhiệm và quy trình xử lý, công tác phòng ngừa mới đạt hiệu quả bền vững.
Thứ năm, cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế về ANM, phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, bảo vệ dữ liệu và tương trợ tư pháp trong thu thập chứng cứ điện tử. Đây là giải pháp tất yếu trong bối cảnh các nền tảng, máy chủ, dòng dữ liệu và hành vi phát tán thông tin chống phá ngày càng có tính xuyên biên giới, khó bị xử lý hiệu quả nếu chỉ dựa vào phạm vi tài phán quốc gia.
Kết luận
Phòng ngừa tội phạm chống phá Nhà nước trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong điều kiện chuyển đổi số. Cơ sở chính trị của hoạt động này được hình thành từ hệ thống quan điểm, chủ trương mới của Đảng. Trong giai đoạn tới, yêu cầu trọng tâm không chỉ là tiếp tục hoàn thiện pháp luật, mà còn phải bảo đảm năng lực thực thi, năng lực công nghệ, năng lực dữ liệu và năng lực phối hợp xã hội tương xứng với sự biến đổi nhanh của không gian mạng. Chỉ trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa định hướng chính trị đúng đắn, khuôn khổ pháp lý đầy đủ và tổ chức thực hiện hiệu quả, Việt Nam mới có thể chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý hiệu quả các hành vi chống phá Nhà nước trên không gian mạng, đồng thời, bảo đảm môi trường số an toàn, lành mạnh cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo
1. Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị.
2. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
3. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.
5. Nghị định số 53/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng.
6. Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 09/11/2024 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.
7. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, công bố ngày 03/4/2026.
8. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
9. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
10. Luật An ninh mạng năm 2018.
11. Luật Dữ liệu năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
12. Luật An ninh mạng năm 2025.
Công an TP. Cần Thơ nắm tình hình, triển khai hiệu quả các biện pháp đấu tranh, phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trên không gian mạng - Ảnh: Công an TP. Cần Thơ.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Chánh án TAND tối cao giao cụ thể tỷ lệ giải quyết, xét xử các loại án để Quốc hội giám sát
-
Cần thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật
-
Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng
-
VKSNDTC đề nghị tiếp tục duy trì Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát
-
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính - Những vấn đề lý luận nhìn từ thực tiễn xét xử
Bình luận