Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q
Sau khi nghiên cứu bài viết “Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q như thế nào?” của tác giả Nguyễn Thanh Vân đăng ngày 16/6/2026, đối với 02 quan điểm được nêu trong bài viết, tôi xin đóng góp cách nhìn, quan điểm, đồng thời đưa ra một số bình luận và kiến nghị để cùng trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
1. Về tình huống và các quan điểm xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
1.1. Nội dung tình huống
Đầu năm 1994, Nguyễn Thị Q có tổ chức một số dây hụi với một số người, trong đó có Nguyễn Thị Mai Ng. Quá trình chơi hụi đến khoảng tháng 12/1994, do Nguyễn Thị Q vay nợ nhiều, dẫn đến không có khả năng chi trả, nên đã đưa ra thông tin gian dối với bà Nguyễn Thị Mai Ng về việc cần tiền mua đất, sau khi mua được, sẽ bán lại cho bà Ng một lô đất có vị trí đẹp. Vì tin tưởng Q nói thật, nên bà Ng đã chuyển cho Q vay số tiền 15.300.000 đồng. Để bà Ng tin tưởng, Q đã đưa cho bà Ng 01 Giấy đăng ký xe máy hiệu Honda Cup 78, biển kiểm soát 76-xxxLX và hứa “nếu không trả tiền thì giao luôn chiếc xe”. Sau đó, Q mượn lại Giấy đăng ký xe máy, rồi bỏ trốn khỏi địa phương, chiếm đoạt 15.300.000 đồng của bà Ng. Khi phát hiện mình bị lừa, bà Ng đến Công an thị trấn A, huyện BS, tỉnh QN tố giác Nguyễn Thị Q có hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Ngày 08/3/1995, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Q về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Điều 157 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985. Cùng ngày, Công an huyện BS cũng ra Quyết định truy nã đối với Nguyễn Thị Q.
Ngày 24/6/1995, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 08 với lý do, bị can Q đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 14/10/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS đã bắt được Nguyễn Thị Q theo Quyết định truy nã trên và ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, Quyết định phục hồi điều tra đối với bị can Nguyễn Thị Q.
Ngày 20/12/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS có Bản kết luận điều tra số 07/CSĐT đề nghị truy tố bị can Nguyễn Thị Q về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 139 BLHS năm 1999. Viện kiểm sát nhân dân huyện BS ra Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, với lý do:
“… Tổng số tiền bị can chiếm đoạt là 15,3 triệu đồng. Tại Điều 157 BLHS năm 1985 không quy định về định lượng (số tiền chiếm đoạt cụ thể), mà chỉ quy định về tài sản có giá trị lớn.
Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 14/9/1989 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS,… hướng dẫn về các tình tiết “tài sản có số lượng lớn”, “tài sản có giá trị lớn” như sau: Khoảng 05 tấn gạo, 05 tấn xăng dầu,… được coi là số lượng tài sản có giá trị lớn hoặc số lượng lớn, khi giá trị gấp 03 lần các mức nêu trên thì được coi là giá trị hoặc có số lượng rất lớn, nghĩa là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
Do đó, đề nghị Cơ quan CSĐT cần phải thu thập tài liệu xác định thời điểm cuối năm 1994, giá 01 kg theo quy định của Nhà nước là bao nhiêu tiền để xác định khung hình phạt”.
Ngày 21/3/2018, VKSND huyện BS ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can với lý do là chờ kết quả thẩm định giá.
Ngày 12/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện BS có Công văn số 01/HĐĐG trả lời: “… về công tác giá năm 1994 thì đơn giá gạo tẻ thường tại thời điểm tháng 12/1994 có giá 2.500 đồng/kg”.
Ngày 10/10/2022, VKSND huyện BS ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, Quyết định phục hồi điều tra đối với bị can.
Ngày 10/11/2022, VKSND huyện BS ra Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung.
Ngày 10/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS ra Bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 16/KLĐT đề nghị truy tố Nguyễn Thị Q về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015.
1.2. Các quan điểm nêu trong bài viết
Quan điểm thứ nhất cho rằng: vụ án chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, phải tiếp tục điều tra, truy tố, xét xử đối với Nguyễn Thị Q theo quy định pháp luật. Trên cơ sở giải đáp 1 Mục I Công văn số 5442/VKSNDTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSND tối cao thì thời gian cơ quan tiến hành tố tụng tạm đình chỉ điều tra vụ án, bị can để chờ kết luận giám định kéo dài 04 năm 06 tháng 19 ngày (tính từ ngày 21/3/2018 đến ngày 10/10/2022). Thời hạn này chưa quá 05 năm. Do đó, vẫn còn thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra vào năm 1994.
Quan điểm thứ hai cho rằng: đã hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q. Tôi đồng tình với quan điểm này, theo đó: Nguyễn Thị Q bị bắt truy nã vào ngày 14/10/2017, tính đến nay đã hơn 05 năm nên đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 (tội phạm ít nghiêm trọng).
1.3. Lý do và căn cứ pháp lý
Khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”, thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định tại Điều 9 BLHS năm 2015. Đồng thời, tại điểm a khoản 2 Điều 27 BLHS năm 2015 quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là “05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng” và tại khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015 cũng quy định “Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”.
Như vậy, để xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cần căn cứ trước hết vào tội danh bị truy tố, loại tội phạm và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với loại tội phạm đó và cần lưu ý rằng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính lại kể từ khi người phạm tội ra đầu thú hoặc bị bắt giữ theo quy định trên. Quy định này thể hiện chính sách hình sự rõ ràng: người phạm tội không thể lợi dụng việc bỏ trốn để chờ hết thời hiệu. Trong thời gian người phạm tội cố tình trốn tránh và đã bị truy nã, thời hiệu không vận hành theo hướng có lợi cho họ. Tuy nhiên, khi họ ra đầu thú hoặc bị bắt giữ, thì thời hiệu được tính lại từ thời điểm đó. Nói cách khác, việc bị bắt giữ theo quyết định truy nã không làm mất hoàn toàn chế định thời hiệu, mà chỉ làm phát sinh lại một chu kỳ thời hiệu mới.
Trong tình huống đặt ra, cần nhìn nhận vụ án trong mối quan hệ giữa pháp luật hình sự tại thời điểm thực hiện hành vi và pháp luật hình sự tại thời điểm xử lý. Hành vi bị cáo buộc xảy ra vào năm 1994, khi BLHS năm 1985 còn hiệu lực. Theo tài liệu vụ án, số tiền bị chiếm đoạt là 15.300.000 đồng. Nếu quy đổi theo giá gạo tại thời điểm tháng 12/1994 là 2.500 đồng/kg thì số tiền này tương đương khoảng 6.120 kg gạo, tức trên 05 tấn gạo. Theo hướng dẫn thời điểm đó, tài sản bị chiếm đoạt có thể được xem là “tài sản có giá trị lớn”, thuộc khung hình phạt có mức cao nhất đến 10 năm tù. Nếu áp dụng BLHS năm 1985 thì hành vi này có thể thuộc loại tội phạm nghiêm trọng và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dài hơn.
Tuy nhiên, tại thời điểm vụ án được phục hồi điều tra và tiếp tục xử lý, BLHS năm 2015 đã có hiệu lực, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá 15.300.000 đồng thuộc khung hình phạt có mức cao nhất đến 03 năm tù, tức thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng theo Điều 9 BLHS năm 2015 và tương ứng với loại tội phạm này thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 05 năm.
Việc áp dụng quy định có lợi hơn cho người phạm tội là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự. Do đó, trong trường hợp này, cần xác định hành vi của Nguyễn Thị Q theo khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng là 05 năm (Nguyễn Thị Q bị bắt ngày 14/10/2017, nếu không có căn cứ nào làm thời hiệu được tính lại theo Điều 27 BLHS năm 2015, thì thời hiệu 05 năm phải được tính liên tục từ ngày 14/10/2017 đến ngày 14/10/2022).
1.4. Trao đổi về các quan điểm không đồng tình
Quan điểm khác cho rằng: thời gian cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) tạm đình chỉ điều tra vụ án, bị can để chờ kết luận giám định kéo dài 04 năm 06 tháng 19 ngày (tính từ ngày 21/3/2018 đến ngày 10/10/2022). Thời hạn này chưa quá 05 năm. Do đó, vẫn còn thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra vào năm 1994 (Căn cứ giải đáp 1 Mục I Công văn số 5442/VKSNDTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSND tối cao).
Tôi không đồng ý với quan điểm này, bởi lẽ: tạm đình chỉ điều tra là một quyết định tố tụng được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhằm xử lý các tình huống khách quan làm cho việc điều tra chưa thể tiếp tục trong một thời điểm nhất định, chẳng hạn chưa xác định được bị can, không biết rõ bị can ở đâu, chờ kết quả giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp. Tuy nhiên, tạm đình chỉ điều tra không đồng nghĩa với việc thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đương nhiên dừng lại. Việc thời hiệu có được tính lại, có bị gián đoạn hay không phải căn cứ vào BLHS, cụ thể là Điều 27 BLHS năm 2015. Bộ luật Tố tụng hình sự không thể được hiểu là làm phát sinh thêm căn cứ kéo dài thời hiệu nếu BLHS không quy định.
Trong vụ án Nguyễn Thị Q, sau khi bị can đã bị bắt ngày 14/10/2017, lý do tạm đình chỉ điều tra là chờ kết quả định giá tài sản. Đây là lý do thuộc hoạt động chứng minh, thu thập chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng. Khoảng thời gian này không phải là thời gian bị can bỏ trốn, cũng không phải là trường hợp bị can phạm tội mới để làm thời hiệu tính lại. Vì vậy, thời gian tạm đình chỉ điều tra để chờ định giá vẫn phải được tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu cho rằng thời gian tạm đình chỉ điều tra để chờ định giá không tính vào thời hiệu, thì sẽ phát sinh nguy cơ mở rộng bất lợi cho người bị buộc tội bằng hoạt động tố tụng. Điều này không phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội trong pháp luật hình sự.
2. Một số kiến nghị
Một là, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất của cơ quan có thẩm quyền liên ngành về việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ điều tra, đặc biệt là các vụ án tạm đình chỉ để chờ kết quả giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp.
Hai là, cần phân biệt rõ giữa thời hạn tố tụng và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hạn tố tụng là giới hạn thời gian để cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là giới hạn quyền lực hình sự của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Việc tạm đình chỉ điều tra không nên được hiểu là căn cứ làm dừng hoặc kéo dài thời hiệu nếu BLHS không quy định rõ.
Ba là, đối với trường hợp người phạm tội bỏ trốn và đã có quyết định truy nã, cần thống nhất cách hiểu rằng thời hiệu được tính lại kể từ ngày người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ. Kể từ thời điểm này, nếu không phát sinh căn cứ làm thời hiệu tính lại theo Điều 27 BLHS năm 2015, thời hiệu phải được tính liên tục cho đến khi kết thúc.
Bốn là, không nên sử dụng văn bản hướng dẫn nghiệp vụ đơn ngành để mở rộng bất lợi cho người bị buộc tội, nhất là trong trường hợp nội dung hướng dẫn có thể làm thay đổi cách tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân và giới hạn trách nhiệm hình sự cần được hướng dẫn bằng văn bản có giá trị pháp lý rõ ràng, thống nhất và phù hợp với quy định của BLHS, Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trên đây là quan điểm trao đổi của tác giả, rất mong có thêm nhiều ý kiến của các đồng nghiệp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.
TAND tỉnh Tuyên Quang tổ chức phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Ảnh: Thành Đô.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Khó khăn khi xác định mức lãi suất chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng
-
Bàn về hôn nhân đồng giới: từ quan hệ nhân thân đến tài sản
-
Giải quyết yêu cầu thanh toán lãi chậm thi hành án không được tuyên trong bản án gốc: Thụ lý hay trả lại đơn khởi kiện?
-
Bàn về tội “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”
-
Về bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự năm 2015
Bình luận